Thử tìm nguồn gốc của bá đạo và bá quyền Trung Quốc

Hồ Anh Hải
TRONG sách Giấc mơ Trung Quốc, tác giả Lưu Minh Phúc đặc biệt viết nhiều về sự bá đạo, bá quyền của Mỹ và vương đạo của Trung Quốc. Tác giả dành cả chương II (có số trang nhiều thứ 2 trong 8 chương của sách này) để trình bày về cái gọi là bá quyền của nước Mỹ và dành chương III và IV (số trang nhiều thứ 6 và 5) để nói về những cái hay cái tốt của Trung Quốc. Nhìn chung, tác giả dùng số trang nhiều nhất để nói về nước Mỹ – về mặt hay mặt tốt cũng như mặt xấu mặt dở. Số trang viết về Trung Quốc thì ít hơn nhiều; bởi lẽ tác giả cũng chẳng biết nói gì về những cái hay cái tốt của nước mình.
Lưu Minh Phúc hoàn toàn chỉ nói về những cái tốt của nước ông, nhằm để nhân dân thế giới đừng e ngại Trung Quốc trỗi dậy trở thành “quốc gia quán quân”, “quốc gia lãnh tụ” thì sẽ đe dọa hòa bình và ổn định trên thế giới. Hãy thử xem vài cái tốt của Trung Quốc.
Tác giả viết Trung Quốc không có tội tổ tông, cho nên có tư cách nhất làm lãnh tụ thế giới! Tất cả các nước lớn trỗi dậy khác đều “có tiền sử phạm tội”, như buôn bán nô lệ châu Phi hồi thế kỷ XV-XVIII, xâm lược, chinh phục thuộc địa…
Ai cũng biết các vua chúa Trung Quốc chẳng cần sang tận châu Phi để mua nô lệ. Bởi lẽ dưới tay họ đã có sẵn hàng triệu nô lệ! Họ coi dân nước mình là nô lệ 100% và áp bức bóc lột dân đến xương tủy. Thời thịnh trị nhà Đường, vua có 3000 cung nữ – chính là 3000 nô lệ tình dục của một gã đực rựa dâm ô. Nước này cũng phát minh ra chế độ hoạn quan cực kỳ dã man: hàng nghìn nam giới bị cắt bộ phận sinh dục chỉ vì để phục vụ nhu cầu của một gã nam giới khác. Hơn 1 triệu người dân chết trong công trình đắp Vạn lý Trường thành. Như vậy sao có thể nói Trung Quốc không có tội tổ tông?
Tác giả viết người Trung Quốc có tính cách yêu hòa bình, đế quốc Trung Hoa lớn mạnh mà không chinh phục, không có thuộc địa ở nước ngoài, vì thế các nước nhược tiểu xung quanh như Việt Nam, Miến Điện, Thái Lan… vẫn giữ được độc lập.
Ở đây tác giả đã có những nhầm lẫn lịch sử đáng tiếc.
Việt Nam chẳng đã bị Trung Quốc thống trị 1000 năm đấy sao. Nhưng họ không đồng hóa nổi dân tộc Việt và cuối cùng bị dân ta vùng dậy đánh đuổi, giành độc lập cho đất nước mình. Tuy thất bại cay đắng như thế nhưng sau đó các vương triều phương Bắc còn mấy lần cất đại quân sang “thảo phạt” Việt Nam, lần nào cũng thua nhục nhã.
Tác giả còn nêu “sự kiện nổi tiếng nhất” là đời Hán Nguyên Đế, triều thần quyết định bỏ không chiếm quận Châu Nhai ở đảo Hải Nam, coi đó như một minh chứng nhà Hán không chủ trương mở rộng lãnh thổ.
Thực ra đó là do đất Trung Quốc quá rộng, chính quyền trung ương quản lý không xuể, lại thêm trong nước luôn luôn rối loạn vì nông dân khắp nơi nổi dậy chống lại triều đình, quân đội đàn áp dân trong nước còn chưa xong, sao mà dám đem quân ra nước ngoài đánh chiếm thuộc địa? Nếu làm thế thì ngai vàng nhà vua sẽ lập tức bị loạn thần hoặc nông dân khởi nghĩa cướp mất.
Tác giả nói nguyên nhân nông dân Trung Quốc nổi dậy nhiều là do nước này thiếu đất trồng trọt nhưng chính quyền không làm như phương Tây, tức đem quân đi cướp đất nước ngoài để chuyển dịch mâu thuẫn ra ngoài, mà chỉ “vận dụng phương pháp hướng nội, tập trung giải quyết ở trong nước mọi mâu thuẫn”.
Giải thích như thế là ngụy biện. Nông dân Trung Quốc khởi nghĩa đánh lại triều đình chỉ vì họ bị áp bức bóc lột quá tàn ác, không còn đường sống nữa. Hầu hết các cuộc khởi nghĩa ấy đều bị triều đình dìm trong biển máu. Nếu thắng lợi thì ông trùm khởi nghĩa lại trở thành ông vua mới, tàn ác với dân mình chẳng khác gì vua cũ.
Rõ ràng các vương triều Trung Quốc thực hành bá đạo với chính thần dân của mình, thế mà Lưu Minh Phúc dám nói bừa là thực hành vương đạo! Một chính quyền bá đạo với chính đồng bào mình thì sao lại vương đạo với nhân dân các nước khác? Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi tố cáo chính quyền nhà Minh đối xử tàn ác khủng khiếp với nhân dân ta: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Tướng Lưu Á Châu (người viết Lời Tựa sách Giấc mơ Trung Quốc) vạch trần bản chất của các tầng lớp cai trị Trung Quốc đều là “đối ngoại mềm mỏng, đối nội tàn nhẫn”. Đây chính là nguyên nhân làm cho nhiều người Trung Quốc căm ghét chính quyền; lúc bình thường lắm phe phái đánh lẫn nhau rình rập cướp quyền bính, khi có ngoại xâm thì không ít người theo địch chống lại chính quyền nước mình. Lưu Á Châu nói Trung Quốc thời bị Nhật xâm lược có rất nhiều Hán gian chính là vì thế.
Lưu Minh Phúc tô son điểm phấn cho tổ tiên mình trong khi chính ông lại viết: đế quốc Trung Hoa có nhiều nội chiến, đế quốc phương Tây có nhiều “ngoại chiến”, các cuộc khởi nghĩa của nông dân Trung Quốc nhiều nhất, quy mô lớn nhất thế giới, ở nước này nội chiến nhiều “ngoại chiến” ít.
Tóm lại, đế quốc Trung Hoa không chú trọng chinh phục và xâm lược nước ngoài chẳng phải vì họ yêu hòa bình và thực hành “vương đạo”, mà vì họ muốn mà không dám làm, không làm nổi. Thế kỷ XII, thủy quân nhà Nguyên đánh Việt Nam và Nhật Bản đều thua trận phải cuốn xéo về nước, là những chứng cớ hiển nhiên mà tác giả cố tình bỏ qua.
Nói cách khác, họ rất muốn làm Bá nhưng không làm được. Thấy Mỹ làm được vai trò ấy họ sinh ra ganh tị và chê Mỹ đủ thứ xấu.
Làm được vai trò Bá như nước Mỹ đâu dễ! Đó là vai trò kẻ giữ trật tự công cộng, cảnh sát chỉ đường. Tác giả nói Trung Quốc muốn làm “quốc gia quán quân, lãnh tụ” nhưng không muốn làm bá quyền, chỉ làm “quốc gia dẫn dắt” thôi. Nhưng chính tác giả thừa nhận Trung Quốc hiện chưa cắm được ngọn cờ văn hoá lên điểm cao khống chế thế giới, chưa có giá trị quan nào thu hút toàn cầu như giá trị quan tự do dân chủ của Mỹ – thế thì sao mà dẫn dắt thế giới được?
Tác giả viết: Trung Quốc sẽ lãnh đạo thế giới nhưng không làm bá đạo như Mỹ mà thực hành vương đạo. Bản chất của vương đạo là đạo đức nhân nghĩa, dựa nguyên tắc “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (lời Khổng Tử: Điều mình không thích thì chớ đem đến cho người khác), kiên trì bình đẳng, công bằng, chân thành rộng lượng, hòa bình, dùng sức mạnh đạo đức để cảm hóa kẻ khác chứ không áp bức họ, phòng ngự tự vệ chứ không đánh trước, không lạm dụng vũ lực.
Người Trung Quốc có thói quen nói một đằng làm một nẻo, thậm chí cậy thế to mồm vu vạ kẻ hiền lành thành kẻ tội phạm. Nói vương đạo, nhưng thực tế trong cách giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông, họ luôn luôn ưa dùng sức mạnh, cậy ta đây lắm tàu nhiều súng bắt nạt kẻ yếu.
Năm 1974 Trung Quốc cướp đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Nhiều năm nay họ ngang nhiên ra lệnh cấm đánh cá trên vùng biển có tranh chấp rồi cho tàu ngư chính (vốn là tàu tuần dương thập niên 50 họ mua của Liên Xô cải tạo lại) đến biển Đông xua đuổi tàu đánh cá của ngư dân ta, thậm chí cho tàu (ta gọi là “tàu lạ”) đâm chìm nhiều tàu của ngư dân Việt Nam, đắm tàu chết người vô cùng dã man. Gần đây nhất họ hung hăng cho tàu hải giám (cũng là tàu chiến cải tạo) vào sâu vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam phá hoại hoạt động bình thường của tàu Việt Nam rồi lại lớn tiếng chỉ trích Việt Nam “gây căng thẳng”.
Như thế chẳng là Bá đạo thì là gì?
Bạn sẽ hỏi: đâu là nguồn gốc của tính cách thích làm Bá?
Hãy tìm về nền văn hoá truyền thống của họ.
Xin mượn lời chính họ nói: Người Trung Quốc ưa chuộng sức mạnh và bạo lực.
Chẳng dân tộc nào ưa chuộng sự yếu đuối, nhưng tôn thờ sức mạnh như người Trung Quốc thì quả là hiếm. Tiểu thuyết cổ đại viết về tình yêu chỉ có ở phương Tây, không có ở Trung Quốc. Mấy bộ tiểu thuyết cổ của nước này đều đề cao những kẻ có sức mạnh và lạm dụng bạo lực, cho dù dùng vào việc phi nghĩa. Thời xưa đã vậy; thế kỷ XX lại có châm ngôn Súng đẻ ra chính quyền. Nền văn hoá chuộng bạo lực, đấu đá, đánh đấm, chiến tranh ấy quyết định họ hành xử kiểu Bá, tức dùng vũ lực giải quyết mọi chuyện.
Các hảo hán trong Thủy Hử lạm dụng bạo lực vô hạn độ; chỉ vì để chứng tỏ võ công của mình mà họ sẵn sàng hại cả kẻ vô tội. Lý Quỳ giận lên là giết bất cứ ai mà không ghê tay. Võ Tòng khỏe vật chết hổ, nhẫn tâm giết bà chị dâu yếu đuối mà không thẹn với lương tâm kẻ nam nhi. Các nhân vật ấy được người Trung Quốc mê say ca ngợi – điều đó cho thấy văn hóa chuộng bạo lực của họ chính là nguồn gốc sinh ra tính cách thích làm Bá. Một nhà Hán học người Australia nói Thủy Hử là cuốn tiểu thuyết bệnh hoạn. Một nhà Hán học người Đức nhận định Tô Tem Sói tuyên truyền chủ nghĩa phát xít…
Tóm lại, vương đạo thì chẳng thấy đâu mà lịch sử cũng như hiện tại đều đầy rẫy những sự thật cho thấy bá đạo mới là thứ “đặc sản” của Trung Quốc.

Thử tìm nguồn gốc của bá đạo và bá quyền Trung Quốc

Hồ Anh Hải
TRONG sách Giấc mơ Trung Quốc, tác giả Lưu Minh Phúc đặc biệt viết nhiều về sự bá đạo, bá quyền của Mỹ và vương đạo của Trung Quốc. Tác giả dành cả chương II (có số trang nhiều thứ 2 trong 8 chương của sách này) để trình bày về cái gọi là bá quyền của nước Mỹ và dành chương III và IV (số trang nhiều thứ 6 và 5) để nói về những cái hay cái tốt của Trung Quốc. Nhìn chung, tác giả dùng số trang nhiều nhất để nói về nước Mỹ – về mặt hay mặt tốt cũng như mặt xấu mặt dở. Số trang viết về Trung Quốc thì ít hơn nhiều; bởi lẽ tác giả cũng chẳng biết nói gì về những cái hay cái tốt của nước mình.
Lưu Minh Phúc hoàn toàn chỉ nói về những cái tốt của nước ông, nhằm để nhân dân thế giới đừng e ngại Trung Quốc trỗi dậy trở thành “quốc gia quán quân”, “quốc gia lãnh tụ” thì sẽ đe dọa hòa bình và ổn định trên thế giới. Hãy thử xem vài cái tốt của Trung Quốc.
Tác giả viết Trung Quốc không có tội tổ tông, cho nên có tư cách nhất làm lãnh tụ thế giới! Tất cả các nước lớn trỗi dậy khác đều “có tiền sử phạm tội”, như buôn bán nô lệ châu Phi hồi thế kỷ XV-XVIII, xâm lược, chinh phục thuộc địa…
Ai cũng biết các vua chúa Trung Quốc chẳng cần sang tận châu Phi để mua nô lệ. Bởi lẽ dưới tay họ đã có sẵn hàng triệu nô lệ! Họ coi dân nước mình là nô lệ 100% và áp bức bóc lột dân đến xương tủy. Thời thịnh trị nhà Đường, vua có 3000 cung nữ – chính là 3000 nô lệ tình dục của một gã đực rựa dâm ô. Nước này cũng phát minh ra chế độ hoạn quan cực kỳ dã man: hàng nghìn nam giới bị cắt bộ phận sinh dục chỉ vì để phục vụ nhu cầu của một gã nam giới khác. Hơn 1 triệu người dân chết trong công trình đắp Vạn lý Trường thành. Như vậy sao có thể nói Trung Quốc không có tội tổ tông?
Tác giả viết người Trung Quốc có tính cách yêu hòa bình, đế quốc Trung Hoa lớn mạnh mà không chinh phục, không có thuộc địa ở nước ngoài, vì thế các nước nhược tiểu xung quanh như Việt Nam, Miến Điện, Thái Lan… vẫn giữ được độc lập.
Ở đây tác giả đã có những nhầm lẫn lịch sử đáng tiếc.
Việt Nam chẳng đã bị Trung Quốc thống trị 1000 năm đấy sao. Nhưng họ không đồng hóa nổi dân tộc Việt và cuối cùng bị dân ta vùng dậy đánh đuổi, giành độc lập cho đất nước mình. Tuy thất bại cay đắng như thế nhưng sau đó các vương triều phương Bắc còn mấy lần cất đại quân sang “thảo phạt” Việt Nam, lần nào cũng thua nhục nhã.
Tác giả còn nêu “sự kiện nổi tiếng nhất” là đời Hán Nguyên Đế, triều thần quyết định bỏ không chiếm quận Châu Nhai ở đảo Hải Nam, coi đó như một minh chứng nhà Hán không chủ trương mở rộng lãnh thổ.
Thực ra đó là do đất Trung Quốc quá rộng, chính quyền trung ương quản lý không xuể, lại thêm trong nước luôn luôn rối loạn vì nông dân khắp nơi nổi dậy chống lại triều đình, quân đội đàn áp dân trong nước còn chưa xong, sao mà dám đem quân ra nước ngoài đánh chiếm thuộc địa? Nếu làm thế thì ngai vàng nhà vua sẽ lập tức bị loạn thần hoặc nông dân khởi nghĩa cướp mất.
Tác giả nói nguyên nhân nông dân Trung Quốc nổi dậy nhiều là do nước này thiếu đất trồng trọt nhưng chính quyền không làm như phương Tây, tức đem quân đi cướp đất nước ngoài để chuyển dịch mâu thuẫn ra ngoài, mà chỉ “vận dụng phương pháp hướng nội, tập trung giải quyết ở trong nước mọi mâu thuẫn”.
Giải thích như thế là ngụy biện. Nông dân Trung Quốc khởi nghĩa đánh lại triều đình chỉ vì họ bị áp bức bóc lột quá tàn ác, không còn đường sống nữa. Hầu hết các cuộc khởi nghĩa ấy đều bị triều đình dìm trong biển máu. Nếu thắng lợi thì ông trùm khởi nghĩa lại trở thành ông vua mới, tàn ác với dân mình chẳng khác gì vua cũ.
Rõ ràng các vương triều Trung Quốc thực hành bá đạo với chính thần dân của mình, thế mà Lưu Minh Phúc dám nói bừa là thực hành vương đạo! Một chính quyền bá đạo với chính đồng bào mình thì sao lại vương đạo với nhân dân các nước khác? Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi tố cáo chính quyền nhà Minh đối xử tàn ác khủng khiếp với nhân dân ta: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Tướng Lưu Á Châu (người viết Lời Tựa sách Giấc mơ Trung Quốc) vạch trần bản chất của các tầng lớp cai trị Trung Quốc đều là “đối ngoại mềm mỏng, đối nội tàn nhẫn”. Đây chính là nguyên nhân làm cho nhiều người Trung Quốc căm ghét chính quyền; lúc bình thường lắm phe phái đánh lẫn nhau rình rập cướp quyền bính, khi có ngoại xâm thì không ít người theo địch chống lại chính quyền nước mình. Lưu Á Châu nói Trung Quốc thời bị Nhật xâm lược có rất nhiều Hán gian chính là vì thế.
Lưu Minh Phúc tô son điểm phấn cho tổ tiên mình trong khi chính ông lại viết: đế quốc Trung Hoa có nhiều nội chiến, đế quốc phương Tây có nhiều “ngoại chiến”, các cuộc khởi nghĩa của nông dân Trung Quốc nhiều nhất, quy mô lớn nhất thế giới, ở nước này nội chiến nhiều “ngoại chiến” ít.
Tóm lại, đế quốc Trung Hoa không chú trọng chinh phục và xâm lược nước ngoài chẳng phải vì họ yêu hòa bình và thực hành “vương đạo”, mà vì họ muốn mà không dám làm, không làm nổi. Thế kỷ XII, thủy quân nhà Nguyên đánh Việt Nam và Nhật Bản đều thua trận phải cuốn xéo về nước, là những chứng cớ hiển nhiên mà tác giả cố tình bỏ qua.
Nói cách khác, họ rất muốn làm Bá nhưng không làm được. Thấy Mỹ làm được vai trò ấy họ sinh ra ganh tị và chê Mỹ đủ thứ xấu.
Làm được vai trò Bá như nước Mỹ đâu dễ! Đó là vai trò kẻ giữ trật tự công cộng, cảnh sát chỉ đường. Tác giả nói Trung Quốc muốn làm “quốc gia quán quân, lãnh tụ” nhưng không muốn làm bá quyền, chỉ làm “quốc gia dẫn dắt” thôi. Nhưng chính tác giả thừa nhận Trung Quốc hiện chưa cắm được ngọn cờ văn hoá lên điểm cao khống chế thế giới, chưa có giá trị quan nào thu hút toàn cầu như giá trị quan tự do dân chủ của Mỹ – thế thì sao mà dẫn dắt thế giới được?
Tác giả viết: Trung Quốc sẽ lãnh đạo thế giới nhưng không làm bá đạo như Mỹ mà thực hành vương đạo. Bản chất của vương đạo là đạo đức nhân nghĩa, dựa nguyên tắc “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (lời Khổng Tử: Điều mình không thích thì chớ đem đến cho người khác), kiên trì bình đẳng, công bằng, chân thành rộng lượng, hòa bình, dùng sức mạnh đạo đức để cảm hóa kẻ khác chứ không áp bức họ, phòng ngự tự vệ chứ không đánh trước, không lạm dụng vũ lực.
Người Trung Quốc có thói quen nói một đằng làm một nẻo, thậm chí cậy thế to mồm vu vạ kẻ hiền lành thành kẻ tội phạm. Nói vương đạo, nhưng thực tế trong cách giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông, họ luôn luôn ưa dùng sức mạnh, cậy ta đây lắm tàu nhiều súng bắt nạt kẻ yếu.
Năm 1974 Trung Quốc cướp đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Nhiều năm nay họ ngang nhiên ra lệnh cấm đánh cá trên vùng biển có tranh chấp rồi cho tàu ngư chính (vốn là tàu tuần dương thập niên 50 họ mua của Liên Xô cải tạo lại) đến biển Đông xua đuổi tàu đánh cá của ngư dân ta, thậm chí cho tàu (ta gọi là “tàu lạ”) đâm chìm nhiều tàu của ngư dân Việt Nam, đắm tàu chết người vô cùng dã man. Gần đây nhất họ hung hăng cho tàu hải giám (cũng là tàu chiến cải tạo) vào sâu vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam phá hoại hoạt động bình thường của tàu Việt Nam rồi lại lớn tiếng chỉ trích Việt Nam “gây căng thẳng”.
Như thế chẳng là Bá đạo thì là gì?
Bạn sẽ hỏi: đâu là nguồn gốc của tính cách thích làm Bá?
Hãy tìm về nền văn hoá truyền thống của họ.
Xin mượn lời chính họ nói: Người Trung Quốc ưa chuộng sức mạnh và bạo lực.
Chẳng dân tộc nào ưa chuộng sự yếu đuối, nhưng tôn thờ sức mạnh như người Trung Quốc thì quả là hiếm. Tiểu thuyết cổ đại viết về tình yêu chỉ có ở phương Tây, không có ở Trung Quốc. Mấy bộ tiểu thuyết cổ của nước này đều đề cao những kẻ có sức mạnh và lạm dụng bạo lực, cho dù dùng vào việc phi nghĩa. Thời xưa đã vậy; thế kỷ XX lại có châm ngôn Súng đẻ ra chính quyền. Nền văn hoá chuộng bạo lực, đấu đá, đánh đấm, chiến tranh ấy quyết định họ hành xử kiểu Bá, tức dùng vũ lực giải quyết mọi chuyện.
Các hảo hán trong Thủy Hử lạm dụng bạo lực vô hạn độ; chỉ vì để chứng tỏ võ công của mình mà họ sẵn sàng hại cả kẻ vô tội. Lý Quỳ giận lên là giết bất cứ ai mà không ghê tay. Võ Tòng khỏe vật chết hổ, nhẫn tâm giết bà chị dâu yếu đuối mà không thẹn với lương tâm kẻ nam nhi. Các nhân vật ấy được người Trung Quốc mê say ca ngợi – điều đó cho thấy văn hóa chuộng bạo lực của họ chính là nguồn gốc sinh ra tính cách thích làm Bá. Một nhà Hán học người Australia nói Thủy Hử là cuốn tiểu thuyết bệnh hoạn. Một nhà Hán học người Đức nhận định Tô Tem Sói tuyên truyền chủ nghĩa phát xít…
Tóm lại, vương đạo thì chẳng thấy đâu mà lịch sử cũng như hiện tại đều đầy rẫy những sự thật cho thấy bá đạo mới là thứ “đặc sản” của Trung Quốc.

HỌC LÀM NGƯỜI!

Đại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học liền học thạc sĩ, rồi lại học tiến sĩ, sau nhiều năm đèn sách cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui.
Một hôm người đệ tử này trở về, thưa với Đại sư. Thưa thầy nay con đã có học vị tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa? Ngài Tinh Vân bảo: Học làm người, học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được.
Thứ nhất, “học nhận lỗi”. Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.
Thứ hai, “học nhu hòa”. Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập.
Thứ ba, ” học nhẫn nhục”. Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.
Thứ tư, “học thấu hiểu”. Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?
Thứ năm, “học buông bỏ”. Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!
Thứ sáu, “học cảm động”. Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.
Thứ bảy, “học sinh tồn”. Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.
(Theo Đại sư Tinh Vân, Liên Hải dịch)

Triết lý tình người

Trong vườn có hai cái cây, một cái cây cho ra chỉ có một trái và một cái cây cho ra rất nhiều trái. Bạn quan sát và thấy cây có một trái thì trái đó to hơn gấp nhiều lần so với cây có nhiều trái bên cạnh. Đơn giản vì bao nhiêu chất dinh dưỡng của cây này chỉ dồn vào một trái nên trái lớn còn cây bên cạnh phải chia đều chất dinh dưỡng cho rất nhiều trái khác nhau nên trái sẽ nhỏ lại.Đó là lẽ tất yếu, là quy luật mà ai ai cũng có thể nhận ra.
Bạn nhìn cái cây rồi tự hỏi con người liệu có giống như thế không nhỉ. Và bạn thấy một bà mẹ, bà ấy có một đứa con. Năm sau nữa bà ấy sinh ra một đứa con khác. Tình yêu thương, sự quan tâm của bà dành cho đứa con đầu không còn được như trước nữa. Bạn lại nhìn thằng bạn của bạn. Lúc trước nó và bạn thân thân thiết thiết. Rồi một ngày nó có thêm bạn mới, nó chả còn bi bi bô bô tâm sự cùng bạn nữa, cùng chả còn cho bạn mượn cái vai mỗi khi bạn khóc. Bởi tất cả những điều đó giờ đã có một người khác quan trọng hơn bạn thế chỗ. Rồi bạn lại nhìn về ông anh hai của bạn. Ngày xưa anh em tình cảm là thế, có gì cũng nhường nhịn em, có gì cũng lo lắng cho em. Bỗng một ngày ổng có người yêu, và ổng quên mất ổng còn có một đứa em gái. Đơn giản, vì bây giờ trong mắt ổng thế giới chỉ có một người, ổng chỉ biết nhớ về người đó, nghĩ về người đó, mơ về người đó còn đâu thời gian để nghĩ về những người khác.
Ngẫm rồi bạn phát hiện ra con người cũng giống cái cây nọ, khi họ gánh thêm một người thì ắt hẳn tình cảm dành cho những người còn lại sẽ vơi bớt đi. Như một cái bánh, đem chia cho ít người thì mỗi người sẽ được phần nhiều, đem chia cho nhiều người thì mỗi người sẽ được phần ít, có khi người cuối cùng sẽ chẳng nhận được miếng nào vì bánh đã hết. Bạn biết thế, bạn ngẫm ra thế, bạn nhìn thấy thế nhưng chẳng hiểu sao bạn vẫn buồn, vẫn thất vọng, vẫn bứt rứt. Đơn giản, từ trước giờ bạn đâu nghĩ, tình cảm con người sẽ giống một cái cây, sẽ như một chiếc bánh….
-Chilli-

Báo Trung Quốc: Nga mới là mối họa lớn của TQ tại Biển Đông

.
Bài trên Liên hợp tảo báo của Trung Quốc cho rằng Nga mới là mối họa lớn của Trung Quốc tại Biển Đông. Chính Nga là cường quốc bên ngoài đến Biển Đông sớm nhất chứ không phải Mỹ. Nga tích cực đầu tư thăm dò khai thác dầu khí tại Biển Đông, ký nhiều hợp đồng bán vũ khí hiện đại, bao gồm tàu ngầm, máy bay, cho Việt Nam.

Tháng 7/2010, Ngoại trưởng Mỹ Clinton phát biểu nhấn mạnh các nước cần giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng biện pháp hòa bình. Sau đó, Tổng thống, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lần lượt có phát biểu tỏ đồng thuận và việc đó đã trở thành chính sách đã rồi của Mỹ đối với Biển Đông. Chính sách của Mỹ tất nhiên có lợi cho việc duy trì bảo vệ lợi ích đã rồi tại quần đảo Trường Sa của những kẻ nhanh chân đến trước, khiến những kẻ đến sau ở vào thế bị kìm kẹp, ngăn trở, đành bó tay hết cách, cũng lại phải hướng đến đảm bảo hòa bình, ổn định ở khu vực Biển Đông.

Nga nhanh chân đến trước Mỹ: Trên thực tế, Mỹ cũng là kẻ đến sau tại Biển Đông. Ngoài các nước ASEAN thì kẻ nhanh chân đến trước tại Biển Đông lại là Nga chứ không phải Mỹ.

Trong thập kỷ 80 của thế kỷ trước, Liên Xô cũ kết hợp với Việt Nam thành lập công ty góp vốn, cùng liên thủ khai thác mỏ Bạch Hổ ở Biển Đông, sản lượng khai thác chiếm một nửa tổng sản lượng dầu thô của Việt Nam; đến nay, đây vẫn là mỏ dầu lớn nhất của Việt Nam.

Theo thống kê, đến nay Nga đã trở thành đối tác hợp tác nước ngoài lớn nhất của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam. Các công ty dầu mỏ phương Tây khác như Exxon Mobil, BP, TOTAL những năm gần đây mới góp vốn với Việt Nam khai thác dầu khí.

Nga hợp tác với Việt Nam vừa có lợi ích an ninh vừa có lợi ích kinh tế, bởi Nga được chia sẻ lợi ích kinh tế to lớn tại Biển Đông, Nga đã trở thành chỗ dựa lớn nhất của cộng đồng kinh tế do Việt Nam liên kết với các cường quốc trên thế giới tạo nên trên vấn đề Biển Đông. Và như vậy dễ thấy rằng tại sao trong những năm gần đây Nga lại đồng ý bán cho Việt Nam những trang bị vũ khí đời mới lợi hại chuyên dùng cho xung đột tại Biển Đông với mức ưu đãi lớn hơn nhiều so với TQ.

Gần dây, VN đặt mua của Nga những hệ thống vũ khí tiên tiến, bao gồm 6 tàu ngầm lớp Kilo 636, 13 máy bay chiến đấu Su-27, 20 máy bay Su-30 và nhiều tên lửa đối biển, radar…. Vũ khí mà Nga bán cho VN có tính năng tiên tiến hơn hẳn các vũ khí bán cho TQ trước đây, tỷ lệ giữa tính năng và giá cả cũng cao hơn. Cuối năm 2011, loạt máy bay chiến đấu Su sẽ hoàn tất giao hàng. Cuối năm 2013, ngoài các tàu ngầm lớp Kilo, những vũ khí đời mới lợi hại này sẽ bước đầu hình thành sức chiến đấu.

6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo là “tuyệt chiêu” trong hải chiến Trường Sa và cũng được giao hàng lần lượt từ cuối năm 2011 và giao hết trong vòng 5 năm. Trong khi Nga đang chế tạo tàu ngầm thì VN đã đào tạo đồng bộ các sỹ quan làm việc trên những chiếc tàu ngầm đó, hiện Nga và Ấn Độ đang phụ trách việc đào tạo. Từ đó có thể thấy, các tàu ngầm mới và lợi hại này sẽ nhanh chóng hình thành sức chiến đấu và hoạt động khắp nơi thuộc vùng Biển Đông và biển phía Đông TQ, tạo ra sự đe dọa khá lớn đối với các nước láng giềng trong đó có TQ, nhằm đảm bảo an toàn cho việc khai thác các mỏ dầu của VN.

Nói về lợi ích thực tế trong cấu trúc hiện nay ở Biển Đông, Mỹ là kẻ đến sau và không bằng Nga. Nếu nhìn vấn đề một cách cô lập thì việc Mỹ có mặt ở khu vực Biển Đông là không hề có lợi ích chiến lược to lớn về an ninh và kinh tế. Theo đánh giá, sở dĩ Mỹ ủng hộ ASEAN chống lại TQ trong vấn đề Biển Đông, xét ở góc độ chiến lược thì chủ yếu là để tránh xảy ra cục diện sau khi TQ trỗi dậy sẽ thách thức sự hiện diện quân sự của Mỹ tại khu vực CÁ – TBD, ra tay khi còn sớm để kiềm chế sức mạnh của TQ tiến xuống phía Nam. Còn việc đảm bảo cho máy bay quân sự, tàu thuyển của Mỹ tự do lưu thông giữa TBD, Ấn Độ Dương hay như việc giữ ổn định tình hình Biển Đông thì cũng chỉ là một cách nói.

Cách tiếp cận của Nga ở tầm chiến lược khác xa so với Mỹ. Cách tiếp cận tầm chiến lược nêu trên của Mỹ đều thích hợp với Nga. Ngoài ra, Nga và VN còn có tình hữu nghị truyền thống, như năm 1979, trong chiến tranh biên giới Trung – Việt và “cuộc chiến lưỡng sơn” kéo dài 10 năm sau đó, Liên Xô cũ là cường quốc duy nhất ủng hộ VN chống TQ. Hơn nữa Nga lại là nước có lợi ích kinh tế thiết thực nhất tại Biển Đông. Biển Đông giống như một kho báu, bằng việc hợp tác lâu dài với VN, những khoản ngoại tệ khổng lồ mà Nga kiếm được từ đó dường như không bao giờ cạn.

Ngoài ra, từ chính sách ngoại giao khác nhau của hai nước Nga, Mỹ đối với các nước quanh Biển Đông cũng có thể cảm nhận thấy Nga và Mỹ có lập trường khác nhau đối với vấn đề Biển Đông, từ đó có thể lần ra manh mối. Thái độ can thiệp của Mỹ là nhằm tăng cường trao đổi qua lại với ASEAN, NB và Australia, còn việc ủng hộ ASEAN thì vẫn xoay quanh đồng minh truyền thống là PLP, việc ủng hộ một số quốc gia khác như VN chủ yếu vẫn chỉ dừng lại trên bề mặt ngoại giao và đe dọa. Cùng trên vấn đề Biển Đông nhưng chính sách của Nga lại khác. Nga cũng ủng hộ gián tiếp các nước ASEAN nhưng dành viện trợ thực tế cho VN.

Tóm lại, ngoài việc tăng cường hợp tác với VN về ngoại giao và kinh tế thì Nga còn nâng đỡ VN bằng hành động thực tế. Hiện nay, Nga ngoài mặt vẫn giữ thái độ tươi cười với TQ, trong ngoại giao thì “nói ý cay bằng lời ngọt”, trong hành động thì chỉ làm không nói. Nga giống như “con vịt đạp nước”, trên mặt nước thì dường như không có động tĩnh gì nhưng dưới nước lại giở võ chân.

Đây cũng là nguyên nhân tại sao trong khi VN tăng cường “chuẩn bị đấu tranh quân sự” thì toàn bộ vũ khí cho hải chiến lại lấy từ Nga chứ không phải Mỹ và Mỹ lại chỉ gián tiếp ủng hộ VN về mặt đe dọa chiến lược. Đây là chỗ khác nhau cơ bản về mức độ ủng hộ của Mỹ và Nga cho VN trong tranh chấp ở Biển Đông.

Theo diễn biến tình hình Biển Đông hiện nay, một khi VN và TQ xảy ra một trận hải chiến thì toàn bộ vũ khí sắc bén mà quân đội VN sử dụng để giết hại quân giải phóng TQ là của Nga chứ không phải của Mỹ./.

Tác giả: Tiết Lý Thái – Nghiên cứu viên Trung tâm an ninh và hợp tác quốc tế Đại học Stanford

Hạnh Quyên (gt)

HỌC LÀM NGƯỜI!

Đại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học liền học thạc sĩ, rồi lại học tiến sĩ, sau nhiều năm đèn sách cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui.
Một hôm người đệ tử này trở về, thưa với Đại sư. Thưa thầy nay con đã có học vị tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa? Ngài Tinh Vân bảo: Học làm người, học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được.
Thứ nhất, “học nhận lỗi”. Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.
Thứ hai, “học nhu hòa”. Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập.
Thứ ba, ” học nhẫn nhục”. Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.
Thứ tư, “học thấu hiểu”. Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?
Thứ năm, “học buông bỏ”. Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!
Thứ sáu, “học cảm động”. Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.
Thứ bảy, “học sinh tồn”. Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.
(Theo Đại sư Tinh Vân, Liên Hải dịch)

Triết lý tình người

Trong vườn có hai cái cây, một cái cây cho ra chỉ có một trái và một cái cây cho ra rất nhiều trái. Bạn quan sát và thấy cây có một trái thì trái đó to hơn gấp nhiều lần so với cây có nhiều trái bên cạnh. Đơn giản vì bao nhiêu chất dinh dưỡng của cây này chỉ dồn vào một trái nên trái lớn còn cây bên cạnh phải chia đều chất dinh dưỡng cho rất nhiều trái khác nhau nên trái sẽ nhỏ lại.Đó là lẽ tất yếu, là quy luật mà ai ai cũng có thể nhận ra.
Bạn nhìn cái cây rồi tự hỏi con người liệu có giống như thế không nhỉ. Và bạn thấy một bà mẹ, bà ấy có một đứa con. Năm sau nữa bà ấy sinh ra một đứa con khác. Tình yêu thương, sự quan tâm của bà dành cho đứa con đầu không còn được như trước nữa. Bạn lại nhìn thằng bạn của bạn. Lúc trước nó và bạn thân thân thiết thiết. Rồi một ngày nó có thêm bạn mới, nó chả còn bi bi bô bô tâm sự cùng bạn nữa, cùng chả còn cho bạn mượn cái vai mỗi khi bạn khóc. Bởi tất cả những điều đó giờ đã có một người khác quan trọng hơn bạn thế chỗ. Rồi bạn lại nhìn về ông anh hai của bạn. Ngày xưa anh em tình cảm là thế, có gì cũng nhường nhịn em, có gì cũng lo lắng cho em. Bỗng một ngày ổng có người yêu, và ổng quên mất ổng còn có một đứa em gái. Đơn giản, vì bây giờ trong mắt ổng thế giới chỉ có một người, ổng chỉ biết nhớ về người đó, nghĩ về người đó, mơ về người đó còn đâu thời gian để nghĩ về những người khác.
Ngẫm rồi bạn phát hiện ra con người cũng giống cái cây nọ, khi họ gánh thêm một người thì ắt hẳn tình cảm dành cho những người còn lại sẽ vơi bớt đi. Như một cái bánh, đem chia cho ít người thì mỗi người sẽ được phần nhiều, đem chia cho nhiều người thì mỗi người sẽ được phần ít, có khi người cuối cùng sẽ chẳng nhận được miếng nào vì bánh đã hết. Bạn biết thế, bạn ngẫm ra thế, bạn nhìn thấy thế nhưng chẳng hiểu sao bạn vẫn buồn, vẫn thất vọng, vẫn bứt rứt. Đơn giản, từ trước giờ bạn đâu nghĩ, tình cảm con người sẽ giống một cái cây, sẽ như một chiếc bánh….
-Chilli-