NÔNG DÂN MÙ CANG CHẢI LÃNG MẠN NHẤT VIỆT NAM

“Tôi sẵn sàng cãi nhau với bất cứ ai, nếu người đó không chịu công nhận rằng nông dân Mù Căng Chải lãng mạn nhất thế gian!”, ông trưởng phòng VH-TT huyện Mù Căng Chải (Yên bái) hùng hồn tuyên bố khi dẫn khách đi ngắm ruộng bậc thang La Pán Tấn.



Mùa gặt đã qua. Không còn những dòng thác lúa chảy vàng qua sườn núi, mất cơ hội để chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ vĩ của ruộng bậc thang Mù Căng Chải. Nhưng khi mùa gặt qua, những thửa ruộng mới bộc lộ hết những đường nét gợi cảm của chúng, và một vẻ đẹp khác hiện lên… 

Ruộng nằm ngửa mà nùi thì nằm nghiêng

Đó là vẻ đẹp của tâm hồn người Mông, chủ nhân những thửa ruộng bậc thang. Người dẫn đường, ông trưởng phòng văn hóa cực đoan, đã nói đúng. Không ai lãng mạn bằng những nông dân Mù Căng Chải bởi khát vọng mang cây lúa nước lên lưng chừng trời mà cấy. Mà đúng là lên trời thực sự. Để vào đến đất Mù Căng Chải, để chạm tay vào những gốc rạ của người Mông, tôi đã phải đi qua một biển mây ở cổng trời (đèo Khau Phạ có nghĩa là đèo cổng trời). Phía đông Khau Phạ là Tú Lệ, cũng là một vùng đất nổi tiếng với gạo nếp được trồng trong thung lũng. 

Nhưng qua sườn tây đèo Khau Phạ, hình ảnh ruộng lúa đã hoàn toàn khác bởi không còn những cánh đồng bằng phẳng, mà ở đây cây lúa cõng nhau, lên cao, cao mãi. Toàn huyện Mù Căng Chải có tới 700ha lúa nước (ruộng bậc thang). Con số này đáng để ngạc nhiên khi mà mọi điều kiện tự nhiên ở đây đều cho thấy sự bất lợi để canh tác lúa nước. 

Mù Căng Chải nằm trong hệ thống núi Hoàng Liên Sơn, địa tầng được cấu tạo bằng đá magma. Các nhà địa chất cho rằng, những vận động địa tầng 150 triệu năm trước đã tạo ra những uốn nếp khổng lồ. Kèm theo đó là hàng loạt những đứt gãy với các khối đá hung hãn chọc xiên qua nhiều nơi như Phu Ba (2.512m) và Púng Luông (2.985m)… Ở Việt Nam, không nơi nào cảm nhận thấy sức mạnh ghê gớm của tự nhiên như ở đây. 

Bản thân sự tồn tại của con người đã là một sự phi thường. Và để tồn tại, họ làm một việc còn phi thường hơn, đó là trồng lúa nước. Đặc điểm chính của canh tác lúa nước là phải có mặt phẳng, mà núi lại nằm nghiêng. Núi nghiêng thì đè ngửa núi ra mà cấy chứ sao!Anh cán bộ kiểm lâm Mù Căng Chải cười khà khà. 

Không ai biết chính xác người Mông bắt đầu “đè ngửa núi ra” từ khi nào, chỉ biết người Mông được xác định có mặt tại Mù Căng Chải khoảng hơn 200 năm nay. Bao nhiêu thế hệ người Mông đã bám trụ trên vùng đất mù sương này cứ tiếp nối nhau biến núi thành ruộng. 


Ở bản Hán Sông, xã La Pán Tẩn, có ông lão Lý Khủa Sang. Diện tích ruộng nhà mình có bao nhiêu, ông không biết, chỉ biết ông bà, cha mẹ để lại cho “mấy chố”, mình làm thêm “mấy chố”… mỗi vụ gặt được mấy tấn gạo, ăn cả năm không hết… Nhìn những thửa ruộng bậc thang xoáy ốc biến những trái núi thành một mâm xôi tròn trịa, bất cứ ai cũng phải ngạc nhiên về việc làm thế nào để đưa nước lên trên đỉnh mâm xôi. Đó là một kỳ tích! Họ dùng một hệ thống máng bắc trên cao, đưa nước từ nguồn, là đỉnh núi, nơi khởi thủy của những con suối, về đỉnh mâm xôi. Từ đỉnh đó, nước tràn xuống những luống ruộng thấp theo hình xoáy ốc. 

Đưa nước về là một kỳ công, giữ nước trên ruộng bậc thang cũng kỳ công không kém. Trên địa hình núi dốc như vậy, nhưng luống ruộng nào cũng phẳng đến kinh ngạc, để đảm bảo cây lúa nào cũng đủ nước như nhau. Người Mông làm ruộng bằng cảm giác, họ chăng dây từ đầu luống đến cuối luống, cảm thấy dây thẳng là ruộng phẳng. Để làm ra một luống ruộng, một gia đình 5 người như nhà ông Lý Khủa Sang chỉ mất có 3 ngày. Thế mà, luống nào luống nấy phẳng đét. 

Đợi hoa tớ dây
 
Ở Mù Căng Chải, tôi được nghe một bài hát tiếng Mông, âm thanh líu lo, líu lô rất gợi cảm. Người hát dịch nghĩa rằng: “Chín mươi chín bông hoa tớ dảy/ Có một bông hoa nở/ Để đồng bào làm vụ mùa sớm hẳn/ Đẹp cả lá gan…”. 

Người Mông Mù Căng Chải một năm chỉ làm một vụ lúa. Mà vụ mùa duy nhất ấy, cái ăn của cả một năm trời lại được bắt đầu từ một nụ hoa. Khi tôi nghe bài hát này, trời đang giữa đông, hoa tớ dảy (hoa đào – tiếng Mông) chưa nở, có nghĩa vụ mùa chưa bắt đầu. Mùa này là mùa rảnh rỗi nhất trong năm. Đàn ông đi chơi, đi rừng, còn đàn bà ở nhà thêu áo, thêu khăn, làm bánh giày đợi Tết. Tết bắt đầu từ đầu tháng 12, cuối tháng hoa đào nở, Tết càng vui dù đã bắt đầu vào vụ mới. Cái sự đợi hoa của người Mông, nhiều người cho rằng họ ham chơi, hoặc lãng phí thời gian. 

Nhưng không phải thế. Người có đời người, núi có…đời núi. Lúc con người nghỉ ngơi cũng là khi núi nghỉ. Cái sự nghỉ ngơi ấy giúp cho những thửa ruộng bậc thang hồi phục, hấp thu nguồn sinh lực của đất trời cho vụ mùa tốt tươi. Nếu không có quãng thời gian nghỉ ngơi ấy, liệu những thửa ruộng bậc thang không phân hóa học có tiếp tục nuôi sống con người đời này qua đời khác? 

Năm trước, ruộng bậc thang Mù Căng Chải trở thành di tích văn hóa cấp quốc gia. Có người so sánh với di sản thế giới ruộng bậc thang ở Philippines, tiếc rằng ở đây người ta không làm du lịch không, biến những thửa ruộng thành sản phẩm không có vụ, lúc nào cũng có thể gặp lúa chín để chụp ảnh. Nhưng nỗi tiếc nuối ấy không hiện hữu trong ánh mắt của người dân nơi đây. Ruộng bậc thang không phải để ngắm. Nó là mồ hôi, là trái tim, là khối óc và cũng là truyền thống văn hóa của người Mông Mù Căng Chải. 

Vào nhà ông Sùng Khua Lồng, bản Tà Chơ, xã Kim Nọi, hỏi có biết chuyện đó không? Ông Lồng cười: “Không biết đâu. Sẽ có nhiều người du lịch lắm! Sẽ dễ kiếm tiền”. Rồi ông Lồng lại cười: “Thế thì vui. Nhưng mà mình đủ ăn rồi”. 

Thoạt nghe, thoáng nghĩ rằng người đàn ông này không có nhiều khát vọng. Nhưng, nếu đo chỉ số hài lòng với cuộc sống, chắc chắn rằng họ sẽ là một cộng đồng có mức độ hài lòng cao nhất. Khát vọng khác rất nhiều sự tham lam. Hài lòng với cuộc sống còn thiếu thốn của mình không có nghĩa họ không mang một khát vọng lớn. Họ khát khao chinh phục thiên nhiên, nhưng họ không tham lam bắt thiên nhiên kiệt sức vì cuộc sống của mình. Từ nhà ông Lồng nhìn ra phía trước có một ngọn đồi cao được gieo mạ sớm. 

Chiều buông, những cây lúa mùa sau thầm lặng mọc lên trời. Đó là một vẻ đẹp kỳ lạ nhất mà tôi từng thấy. Những lá lúa như mũi tên xanh biếc lao thẳng vào trời sương. Tôi tin rằng tâm hồn của người Mông Mù Căng Chải cũng như vậy, luôn ẩn chứa những khát khao chinh phục thiên nhiên, khát khao ấy cũng mạnh mẽ như một mũi tên, nhưng cũng mềm mại như một nhành mạ non trong sương núi sớm xuân. 

Advertisements

CHỈ HUY

Mình may mắn có người chỉ huy tài ba, lỗi lạc và quyết đoán. Do vậy, không khí làm việc thật dễ chịu. Ai cũng như ai đều được tôn trọng và tự do phát triển khả năng, thực hiện hoài bão của mình. Rộng ra một chút, có chỉ huy mới, cơ quan như thay da, đổi thịt, bộ mặt cơ quan giờ đã khác xưa. Điều này nói lên phương thức chỉ huy của người lãnh đạo.

Vụ cưỡng chế đầm tôm của ông Đoàn Văn Vươn ở huyện Tiên Lãng (Hải Phòng), để hậu quả 6 cán bộ chiến sĩ công an, quân đội trọng thương cho thấy bất cập về chính sách đất đai và việc thực thi nó đã dồn ép đã lâu, nay mới bung ra như lò so.
Nhưng ở phạm vi bài viết, xin miễn bàn thêm về chính sách đất đai, đã có quá nhiều người phân tích rồi. Xin chỉ nêu về vai trò người chỉ huy lực lượng vũ trang (công an, quân đội) khi bị yêu cầu đưa quân đi thực hiện cưỡng chế.
Còn nhớ hồi đi học, trong cuộc thảo luận về việc thực hiện mệnh lệnh cấp trên, trong một buổi thảo luận, chúng tôi băn khoăn: “Quân lệnh như sơn!”, nhưng nếu gặp tình huống chỉ huy ra lệnh bắn vào thường dân vô tội, không lẽ công an nhân dân lại nổ súng vào dân? Không chấp hành, theo điều lệnh nhà binh, chỉ huy có thể xử lính tội bất tuân quân lệnh. Dự thảo luận, chỉ huy nói “Chúng tôi cũng như các đồng chí thôi, kẻ đi trước, người đi sau, đều là con em nhân dân cả. Không bao giờ tôi ra lệnh bắn vào dân”. Có người hỏi: “Đồng chí không ra lệnh. Nhưng nếu có chỉ huy khác ra lệnh?”. Chỉ huy cười: “Thì ta bắn lên trời. Công an nhân dân không bao giờ đối đầu với nhân dân! Trái lại, phải vì dân phục vụ”. Mọi người cười thỏa mãn.
Cách nay ít lâu, trong buổi giao ban nội chính tỉnh nọ, quan đầu tỉnh to tiếng quở trách, nói đại tá P – Phó giám đốc công an (phụ trách an ninh) nên nghỉ việc về “tội” không mạnh tay dẹp việc người dân phản ứng do bị cưỡng chế lấy vượt đất (dù đã được cấp phép hơn 170ha) cho đại gia làm khách sạn, sân khấu thi hoa hậu, sân gôn… Nghiệt nỗi, bà con cứ treo băng rôn đòi đất, đòi công bằng ngay bên đường dẫn ra sân bay, nơi quan chức trung ương thường qua lại. Quan đầu tỉnh “xốn mắt” lắm! Bị nạt vô lối, đại tá P đối đáp: “Bà con đấu tranh ôn hòa, không bạo động. Không được phép sử dụng lực lượng vũ trang can thiệp, vì chỉ tạo thêm căng thẳng bức xúc, bất ổn xã hội. Đó là nguyên tắc”. Quan đầu tỉnh lâm thế bất ngờ, đuối lý. Văn võ bá quan chứng kiến, tuy có “sốc”, nhưng cũng có dịp phần nào hiểu bản chất “lực lượng vũ trang nhân dân”.
Cũng công an tỉnh nọ, nhưng ông H (giám đốc kế nhiệm) lại chẳng được như ông P – Phó giám đốc tiền nhiệm. Biết tỉnh chủ trương huy động công an cưỡng chế lấy đất cho đại gia (công ty cổ phần) làm dự án khu đô thị mới (thực chất chỉ san nền – phân lô – bán!), tác giả khuyên đại tá H, với tư cách Thường vụ Tỉnh ủy, góp ý lãnh đạo tỉnh chẳng nên chủ trương cưỡng chế. Đây là dự án kinh doanh kiếm lời của doanh nghiệp, phải theo đường thỏa thuận dân sự. Nếu dân thỏa thuận bán đất nhận tiền rồi, lật kèo không giao đất, chủ dự án cứ việc đi thuê công ty vệ sĩ mà cưỡng chế. Rốt cuộc, không những ông H hăng hái điều quân tham gia cưỡng chế, mà còn cho lập trạm chốt 24/24 tại mặt bằng dự án, tạo điều kiện chủ dự án đổ đất san nền chiếm cả diện tích ngoài quy hoạch. Bà con kéo đến rùng rùng, phản ứng dữ dội, uất hận kiện thưa tận trung ương, đến nay vẫn chưa yên. Anh em cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền cũng râm ran ngờ vực giám đốc H.
Hai thái độ chỉ huy khác nhau, cho hậu quả an sinh xã hội rõ là khác nhau!

LÃNG PHÍ

Lãng phí, cùng với tham ô, tham nhũng, trong nhiều trường hợp có thể bị liệt vào tội phạm. Nhưng so với tham ô, tham nhũng, thì lãng phí khó kết tội hơn.

Và nếu “lãng phí của công” xảy ra tràn lan ngày nay, khó kết tội, dù hậu quả của nó rất nặng nề, thì “lãng phí của tư” mới thật rất là khó kết tội. Không có luật lệ nào kết án những người lãng phí của cải do chính họ làm ra, có chăng chỉ là lương tâm kết tội, mà cũng không phải lương tâm của mọi người.
Khi nói đến những bàn tiệc ê hề thức ăn, toàn sơn hào hải vị, chế biến công phu, bị đổ đi, người ta thường nghĩ ngay, chủ của chúng là những kẻ tiêu “tiền chùa”, bởi chỉ có tiêu tiền chùa thì mới vung tay như vậy. Sự thực, có không ít những người, tuy không giàu, nhưng muốn “bằng anh bằng em” cũng vung tay quá trán. Sự lãng phí của số đông, tích tiểu thành đại, cũng chẳng kém gì sự lãng phí bởi những kẻ tiêu tiền chùa.
Chúng ta thường xót xa, phẫn nộ, khi thấy những công trình bị bỏ dở bởi tính toán sai hiệu quả kinh tế. Tiền Nhà nước đổ xuống sông mà chẳng ai phải chịu trách nhiệm. Nhưng chúng ta có bao giờ quan tâm tới việc những người dân đập phá những ngôi nhà của chính họ, mới xây dựng được vài năm, để xây trên nền cũ những ngôi nhà đẹp hơn, kiên cố hơn, để rồi, cũng chẳng biết, sau bao lâu những ngôi nhà đẹp hơn, kiên cố hơn nhiều này sẽ lại bị đập phá để xây nên những ngôi nhà đẹp hơn, kiên cố hơn nữa…




Chúng ta bực tức vì những đầu tư sai mục đích của ngành Giáo dục, lãng phí trong in ấn sách giáo khoa, trong thi cử… Nhưng có mấy ai tiếc cho con cái mình, phải lãng phí thời gian quá nhiều cho việc học thêm, dẫu rằng chúng ta, với kinh nghiệm của bản thân, hiểu rõ rằng trẻ em cần được chơi. Lãng phí thời gian, nhất là tuổi trẻ, tuổi thơ, là sự lãng phí rất lớn của nhân lực xã hội.




Cũng rất lãng phí khi cả tuổi thanh xuân của mối người đang bị dùng vào cờ bạc, đỏ đen, ăn chơ hút sách. Ai cũng biết đó là quãng đời đẹp và có khả năng cống hiến cao nhất cho gia đình và xã hội. Tiếc thay, nhiều người không làm vậy. Ngay cả một số người hiện đang làm việc trong các cơ sở giáo dục đào tạo cũng có biểu hiện này. Được biết có một viện nghiên cứu về xã hội nào đó trên địa bàn Thanh Xuân, Hà Nội, hiện đang chiêu sinh Thạc sỹ, Tiến sỹ cũng cho ra lò những Thạc sỹ rỏm, Tiến sỹ rỏm. Các công trình Luận văn, Luận án của họ chỉ đạo sách trên mạng hoặc ăn cắp của đồng nghiệp. Thử hỏi những Tiến sỹ, Thạc sỹ đó ra lò có làm được gì cho xã hội không? Hay họ chỉ làm xấu mặt đội ngũ những nhà khoa học thực thụ? Đó đích thị là một sự lãng phí.
Lãng phí đã trở thành một phần trong cách sống của mỗi chúng ta. Lãng phí của công, đầu tư không hiệu quả trong kinh tế không chỉ vì cơ chế, vì quản lý yếu kém, mà nhiều hơn, vì chính văn hóa của mỗi chúng ta. Ai cũng biết, tài nguyên đang dần cạn kiệt, ngay cả nước ngọt, thứ mà chúng ta trước kia không thể nghĩ là có thể hết, cũng đang được các nhà khoa học dự báo, sẽ trở nên khan hiếm trong tương lai. Mỗi giọt nước, mỗi giọt xăng, mỗi viên than chúng ta lãng phí bây giờ, chính là chúng ta đang cướp của con cháu ngày mai.

NÔNG DÂN MÙ CANG CHẢI LÃNG MẠN NHẤT VIỆT NAM

“Tôi sẵn sàng cãi nhau với bất cứ ai, nếu người đó không chịu công nhận rằng nông dân Mù Căng Chải lãng mạn nhất thế gian!”, ông trưởng phòng VH-TT huyện Mù Căng Chải (Yên bái) hùng hồn tuyên bố khi dẫn khách đi ngắm ruộng bậc thang La Pán Tấn.



Mùa gặt đã qua. Không còn những dòng thác lúa chảy vàng qua sườn núi, mất cơ hội để chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ vĩ của ruộng bậc thang Mù Căng Chải. Nhưng khi mùa gặt qua, những thửa ruộng mới bộc lộ hết những đường nét gợi cảm của chúng, và một vẻ đẹp khác hiện lên… 

Ruộng nằm ngửa mà nùi thì nằm nghiêng

Đó là vẻ đẹp của tâm hồn người Mông, chủ nhân những thửa ruộng bậc thang. Người dẫn đường, ông trưởng phòng văn hóa cực đoan, đã nói đúng. Không ai lãng mạn bằng những nông dân Mù Căng Chải bởi khát vọng mang cây lúa nước lên lưng chừng trời mà cấy. Mà đúng là lên trời thực sự. Để vào đến đất Mù Căng Chải, để chạm tay vào những gốc rạ của người Mông, tôi đã phải đi qua một biển mây ở cổng trời (đèo Khau Phạ có nghĩa là đèo cổng trời). Phía đông Khau Phạ là Tú Lệ, cũng là một vùng đất nổi tiếng với gạo nếp được trồng trong thung lũng. 

Nhưng qua sườn tây đèo Khau Phạ, hình ảnh ruộng lúa đã hoàn toàn khác bởi không còn những cánh đồng bằng phẳng, mà ở đây cây lúa cõng nhau, lên cao, cao mãi. Toàn huyện Mù Căng Chải có tới 700ha lúa nước (ruộng bậc thang). Con số này đáng để ngạc nhiên khi mà mọi điều kiện tự nhiên ở đây đều cho thấy sự bất lợi để canh tác lúa nước. 

Mù Căng Chải nằm trong hệ thống núi Hoàng Liên Sơn, địa tầng được cấu tạo bằng đá magma. Các nhà địa chất cho rằng, những vận động địa tầng 150 triệu năm trước đã tạo ra những uốn nếp khổng lồ. Kèm theo đó là hàng loạt những đứt gãy với các khối đá hung hãn chọc xiên qua nhiều nơi như Phu Ba (2.512m) và Púng Luông (2.985m)… Ở Việt Nam, không nơi nào cảm nhận thấy sức mạnh ghê gớm của tự nhiên như ở đây. 

Bản thân sự tồn tại của con người đã là một sự phi thường. Và để tồn tại, họ làm một việc còn phi thường hơn, đó là trồng lúa nước. Đặc điểm chính của canh tác lúa nước là phải có mặt phẳng, mà núi lại nằm nghiêng. Núi nghiêng thì đè ngửa núi ra mà cấy chứ sao!Anh cán bộ kiểm lâm Mù Căng Chải cười khà khà. 

Không ai biết chính xác người Mông bắt đầu “đè ngửa núi ra” từ khi nào, chỉ biết người Mông được xác định có mặt tại Mù Căng Chải khoảng hơn 200 năm nay. Bao nhiêu thế hệ người Mông đã bám trụ trên vùng đất mù sương này cứ tiếp nối nhau biến núi thành ruộng. 


Ở bản Hán Sông, xã La Pán Tẩn, có ông lão Lý Khủa Sang. Diện tích ruộng nhà mình có bao nhiêu, ông không biết, chỉ biết ông bà, cha mẹ để lại cho “mấy chố”, mình làm thêm “mấy chố”… mỗi vụ gặt được mấy tấn gạo, ăn cả năm không hết… Nhìn những thửa ruộng bậc thang xoáy ốc biến những trái núi thành một mâm xôi tròn trịa, bất cứ ai cũng phải ngạc nhiên về việc làm thế nào để đưa nước lên trên đỉnh mâm xôi. Đó là một kỳ tích! Họ dùng một hệ thống máng bắc trên cao, đưa nước từ nguồn, là đỉnh núi, nơi khởi thủy của những con suối, về đỉnh mâm xôi. Từ đỉnh đó, nước tràn xuống những luống ruộng thấp theo hình xoáy ốc. 

Đưa nước về là một kỳ công, giữ nước trên ruộng bậc thang cũng kỳ công không kém. Trên địa hình núi dốc như vậy, nhưng luống ruộng nào cũng phẳng đến kinh ngạc, để đảm bảo cây lúa nào cũng đủ nước như nhau. Người Mông làm ruộng bằng cảm giác, họ chăng dây từ đầu luống đến cuối luống, cảm thấy dây thẳng là ruộng phẳng. Để làm ra một luống ruộng, một gia đình 5 người như nhà ông Lý Khủa Sang chỉ mất có 3 ngày. Thế mà, luống nào luống nấy phẳng đét. 

Đợi hoa tớ dây
 
Ở Mù Căng Chải, tôi được nghe một bài hát tiếng Mông, âm thanh líu lo, líu lô rất gợi cảm. Người hát dịch nghĩa rằng: “Chín mươi chín bông hoa tớ dảy/ Có một bông hoa nở/ Để đồng bào làm vụ mùa sớm hẳn/ Đẹp cả lá gan…”. 

Người Mông Mù Căng Chải một năm chỉ làm một vụ lúa. Mà vụ mùa duy nhất ấy, cái ăn của cả một năm trời lại được bắt đầu từ một nụ hoa. Khi tôi nghe bài hát này, trời đang giữa đông, hoa tớ dảy (hoa đào – tiếng Mông) chưa nở, có nghĩa vụ mùa chưa bắt đầu. Mùa này là mùa rảnh rỗi nhất trong năm. Đàn ông đi chơi, đi rừng, còn đàn bà ở nhà thêu áo, thêu khăn, làm bánh giày đợi Tết. Tết bắt đầu từ đầu tháng 12, cuối tháng hoa đào nở, Tết càng vui dù đã bắt đầu vào vụ mới. Cái sự đợi hoa của người Mông, nhiều người cho rằng họ ham chơi, hoặc lãng phí thời gian. 

Nhưng không phải thế. Người có đời người, núi có…đời núi. Lúc con người nghỉ ngơi cũng là khi núi nghỉ. Cái sự nghỉ ngơi ấy giúp cho những thửa ruộng bậc thang hồi phục, hấp thu nguồn sinh lực của đất trời cho vụ mùa tốt tươi. Nếu không có quãng thời gian nghỉ ngơi ấy, liệu những thửa ruộng bậc thang không phân hóa học có tiếp tục nuôi sống con người đời này qua đời khác? 

Năm trước, ruộng bậc thang Mù Căng Chải trở thành di tích văn hóa cấp quốc gia. Có người so sánh với di sản thế giới ruộng bậc thang ở Philippines, tiếc rằng ở đây người ta không làm du lịch không, biến những thửa ruộng thành sản phẩm không có vụ, lúc nào cũng có thể gặp lúa chín để chụp ảnh. Nhưng nỗi tiếc nuối ấy không hiện hữu trong ánh mắt của người dân nơi đây. Ruộng bậc thang không phải để ngắm. Nó là mồ hôi, là trái tim, là khối óc và cũng là truyền thống văn hóa của người Mông Mù Căng Chải. 

Vào nhà ông Sùng Khua Lồng, bản Tà Chơ, xã Kim Nọi, hỏi có biết chuyện đó không? Ông Lồng cười: “Không biết đâu. Sẽ có nhiều người du lịch lắm! Sẽ dễ kiếm tiền”. Rồi ông Lồng lại cười: “Thế thì vui. Nhưng mà mình đủ ăn rồi”. 

Thoạt nghe, thoáng nghĩ rằng người đàn ông này không có nhiều khát vọng. Nhưng, nếu đo chỉ số hài lòng với cuộc sống, chắc chắn rằng họ sẽ là một cộng đồng có mức độ hài lòng cao nhất. Khát vọng khác rất nhiều sự tham lam. Hài lòng với cuộc sống còn thiếu thốn của mình không có nghĩa họ không mang một khát vọng lớn. Họ khát khao chinh phục thiên nhiên, nhưng họ không tham lam bắt thiên nhiên kiệt sức vì cuộc sống của mình. Từ nhà ông Lồng nhìn ra phía trước có một ngọn đồi cao được gieo mạ sớm. 

Chiều buông, những cây lúa mùa sau thầm lặng mọc lên trời. Đó là một vẻ đẹp kỳ lạ nhất mà tôi từng thấy. Những lá lúa như mũi tên xanh biếc lao thẳng vào trời sương. Tôi tin rằng tâm hồn của người Mông Mù Căng Chải cũng như vậy, luôn ẩn chứa những khát khao chinh phục thiên nhiên, khát khao ấy cũng mạnh mẽ như một mũi tên, nhưng cũng mềm mại như một nhành mạ non trong sương núi sớm xuân. 

CHỈ HUY

Mình may mắn có người chỉ huy tài ba, lỗi lạc và quyết đoán. Do vậy, không khí làm việc thật dễ chịu. Ai cũng như ai đều được tôn trọng và tự do phát triển khả năng, thực hiện hoài bão của mình. Rộng ra một chút, có chỉ huy mới, cơ quan như thay da, đổi thịt, bộ mặt cơ quan giờ đã khác xưa. Điều này nói lên phương thức chỉ huy của người lãnh đạo.

Vụ cưỡng chế đầm tôm của ông Đoàn Văn Vươn ở huyện Tiên Lãng (Hải Phòng), để hậu quả 6 cán bộ chiến sĩ công an, quân đội trọng thương cho thấy bất cập về chính sách đất đai và việc thực thi nó đã dồn ép đã lâu, nay mới bung ra như lò so.
Nhưng ở phạm vi bài viết, xin miễn bàn thêm về chính sách đất đai, đã có quá nhiều người phân tích rồi. Xin chỉ nêu về vai trò người chỉ huy lực lượng vũ trang (công an, quân đội) khi bị yêu cầu đưa quân đi thực hiện cưỡng chế.
Còn nhớ hồi đi học, trong cuộc thảo luận về việc thực hiện mệnh lệnh cấp trên, trong một buổi thảo luận, chúng tôi băn khoăn: “Quân lệnh như sơn!”, nhưng nếu gặp tình huống chỉ huy ra lệnh bắn vào thường dân vô tội, không lẽ công an nhân dân lại nổ súng vào dân? Không chấp hành, theo điều lệnh nhà binh, chỉ huy có thể xử lính tội bất tuân quân lệnh. Dự thảo luận, chỉ huy nói “Chúng tôi cũng như các đồng chí thôi, kẻ đi trước, người đi sau, đều là con em nhân dân cả. Không bao giờ tôi ra lệnh bắn vào dân”. Có người hỏi: “Đồng chí không ra lệnh. Nhưng nếu có chỉ huy khác ra lệnh?”. Chỉ huy cười: “Thì ta bắn lên trời. Công an nhân dân không bao giờ đối đầu với nhân dân! Trái lại, phải vì dân phục vụ”. Mọi người cười thỏa mãn.
Cách nay ít lâu, trong buổi giao ban nội chính tỉnh nọ, quan đầu tỉnh to tiếng quở trách, nói đại tá P – Phó giám đốc công an (phụ trách an ninh) nên nghỉ việc về “tội” không mạnh tay dẹp việc người dân phản ứng do bị cưỡng chế lấy vượt đất (dù đã được cấp phép hơn 170ha) cho đại gia làm khách sạn, sân khấu thi hoa hậu, sân gôn… Nghiệt nỗi, bà con cứ treo băng rôn đòi đất, đòi công bằng ngay bên đường dẫn ra sân bay, nơi quan chức trung ương thường qua lại. Quan đầu tỉnh “xốn mắt” lắm! Bị nạt vô lối, đại tá P đối đáp: “Bà con đấu tranh ôn hòa, không bạo động. Không được phép sử dụng lực lượng vũ trang can thiệp, vì chỉ tạo thêm căng thẳng bức xúc, bất ổn xã hội. Đó là nguyên tắc”. Quan đầu tỉnh lâm thế bất ngờ, đuối lý. Văn võ bá quan chứng kiến, tuy có “sốc”, nhưng cũng có dịp phần nào hiểu bản chất “lực lượng vũ trang nhân dân”.
Cũng công an tỉnh nọ, nhưng ông H (giám đốc kế nhiệm) lại chẳng được như ông P – Phó giám đốc tiền nhiệm. Biết tỉnh chủ trương huy động công an cưỡng chế lấy đất cho đại gia (công ty cổ phần) làm dự án khu đô thị mới (thực chất chỉ san nền – phân lô – bán!), tác giả khuyên đại tá H, với tư cách Thường vụ Tỉnh ủy, góp ý lãnh đạo tỉnh chẳng nên chủ trương cưỡng chế. Đây là dự án kinh doanh kiếm lời của doanh nghiệp, phải theo đường thỏa thuận dân sự. Nếu dân thỏa thuận bán đất nhận tiền rồi, lật kèo không giao đất, chủ dự án cứ việc đi thuê công ty vệ sĩ mà cưỡng chế. Rốt cuộc, không những ông H hăng hái điều quân tham gia cưỡng chế, mà còn cho lập trạm chốt 24/24 tại mặt bằng dự án, tạo điều kiện chủ dự án đổ đất san nền chiếm cả diện tích ngoài quy hoạch. Bà con kéo đến rùng rùng, phản ứng dữ dội, uất hận kiện thưa tận trung ương, đến nay vẫn chưa yên. Anh em cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền cũng râm ran ngờ vực giám đốc H.
Hai thái độ chỉ huy khác nhau, cho hậu quả an sinh xã hội rõ là khác nhau!

LÃNG PHÍ

Lãng phí, cùng với tham ô, tham nhũng, trong nhiều trường hợp có thể bị liệt vào tội phạm. Nhưng so với tham ô, tham nhũng, thì lãng phí khó kết tội hơn.

 Và nếu “lãng phí của công” xảy ra tràn lan ngày nay, khó kết tội, dù hậu quả của nó rất nặng nề, thì “lãng phí của tư” mới thật rất là khó kết tội. Không có luật lệ nào kết án những người lãng phí của cải do chính họ làm ra, có chăng chỉ là lương tâm kết tội, mà cũng không phải lương tâm của mọi người.


Khi nói đến những bàn tiệc ê hề thức ăn, toàn sơn hào hải vị, chế biến công phu, bị đổ đi, người ta thường nghĩ ngay, chủ của chúng là những kẻ tiêu “tiền chùa”, bởi chỉ có tiêu tiền chùa thì mới vung tay như vậy. Sự thực, có không ít những người, tuy không giàu, nhưng muốn “bằng anh bằng em” cũng vung tay quá trán. Sự lãng phí của số đông, tích tiểu thành đại, cũng chẳng kém gì sự lãng phí bởi những kẻ tiêu tiền chùa.


Chúng ta thường xót xa, phẫn nộ, khi thấy những công trình bị bỏ dở bởi tính toán sai hiệu quả kinh tế. Tiền Nhà nước đổ xuống sông mà chẳng ai phải chịu trách nhiệm. Nhưng chúng ta có bao giờ quan tâm tới việc những người dân đập phá những ngôi nhà của chính họ, mới xây dựng được vài năm, để xây trên nền cũ những ngôi nhà đẹp hơn, kiên cố hơn, để rồi, cũng chẳng biết, sau bao lâu những ngôi nhà đẹp hơn, kiên cố hơn nhiều này sẽ lại bị đập phá để xây nên những ngôi nhà đẹp hơn, kiên cố hơn nữa…


Chúng ta bực tức vì những đầu tư sai mục đích của ngành Giáo dục, lãng phí trong in ấn sách giáo khoa, trong thi cử… Nhưng có mấy ai tiếc cho con cái mình, phải lãng phí thời gian quá nhiều cho việc học thêm, dẫu rằng chúng ta, với kinh nghiệm của bản thân, hiểu rõ rằng trẻ em cần được chơi. Lãng phí thời gian, nhất là tuổi trẻ, tuổi thơ, là sự lãng phí rất lớn của nhân lực xã hội.


Cũng rất lãng phí khi cả tuổi thanh xuân của mối người đang bị dùng vào cờ bạc, đỏ đen, ăn chơ hút sách. Ai cũng biết đó là quãng đời đẹp và có khả năng cống hiến cao nhất cho gia đình và xã hội. Tiếc thay, nhiều người không làm vậy. Ngay cả một số người hiện đang làm việc trong các cơ sở giáo dục đào tạo cũng có biểu hiện này. Được biết có một viện nghiên cứu về xã hội nào đó trên địa bàn Thanh Xuân, Hà Nội, hiện đang chiêu sinh Thạc sỹ, Tiến sỹ cũng cho ra lò những Thạc sỹ rỏm, Tiến sỹ rỏm. Các công trình Luận văn, Luận án của họ chỉ đạo sách trên mạng hoặc ăn cắp của đồng nghiệp. Thử hỏi những Tiến sỹ, Thạc sỹ đó ra lò có làm được gì cho xã hội không? Hay họ chỉ làm xấu mặt đội ngũ những nhà khoa học thực thụ? Đó đích thị là một sự lãng phí.


Lãng phí đã trở thành một phần trong cách sống của mỗi chúng ta. Lãng phí của công, đầu tư không hiệu quả trong kinh tế không chỉ vì cơ chế, vì quản lý yếu kém, mà nhiều hơn, vì chính văn hóa của mỗi chúng ta. Ai cũng biết, tài nguyên đang dần cạn kiệt, ngay cả nước ngọt, thứ mà chúng ta trước kia không thể nghĩ là có thể hết, cũng đang được các nhà khoa học dự báo, sẽ trở nên khan hiếm trong tương lai. Mỗi giọt nước, mỗi giọt xăng, mỗi viên than chúng ta lãng phí bây giờ, chính là chúng ta đang cướp của con cháu ngày mai.

ÔNG THĂNG

Trả lời trực tuyến tại Cổng thông tin Chính phủ ngày 12-1-2012, Bộ trưởng Bộ Giao thông Đinh La Thăng tỏ ra tự tin.
Nhưng theo dõi và đọc kĩ những ý kiến trả lời của ông Thăng trên báo chí thì thấy ông ta đã tự trấn an mình bằng những thông tin không đúng sự thật .
Ông ta khẳng định “Tôi được sự đồng thuận của dân” trong chủ trương đề xuất Thu lệ phí sử dụng đường bộ ở các thành phố lớn và Lệ phí vào trung tâm thành  phố trong giờ cao điểm . Không biết ông ta căn cứ vào đâu để mạnh mồm nói như vậy ?
Trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng từ báo lề phải lẫn báo lề trái chưa thấy một ý kiến nào hoan nghênh và ủng hộ Bộ trưởng Thăng mà toàn là ý kiến phản đối, phê phán nhiều khi rất nặng nề.
Trên trang tin điện tử VnExpress ngày 12-1 trong khi giật tít “ Tôi được sự đồng thuận của dân” đã đưa một dãy dài ý kiến của độc giả từ Nam tới Bắc phản đối chủ trương này , Tịnh không thấy có một ý kiến đồng thuận nào cả ! Đó cũng là câu trả lời của Ban biên tập tờ báo điện tử này .
Sau 5 tháng nhậm chức ở cương vị mới , Bộ trưởng Thăng cũng “rất vui mừng đã nhận được sự đồng thuận của cán bộ công nhân viên chức trong ngành” . Thậm chí ông còn chuẩn bị trước và đọc bức thư ngỏ của một nông dân không rõ địa chỉ gửi ông qua chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam rằng “Nếu vì lí do gì đó Quốc hội có phế truất không cho ông làm Bộ trưởng nữa thì ông hãy về với chúng tôi, chúng tôi sẽ bầu ông làm trưởng thôn “.
Cái bác nông dân khuyết danh này khá hài hước đấy chứ .  Thế mà Đinh La Thăng cứ tưởng là thật và khoái chí về bức thư này nhất là nó lại được Chủ tịch Hội trao tận tay .
Trở lại chuyện cán bộ công nhân viên chức trong ngành có ủng hộ ông Bộ trưởng đầy cá tính này hay không thì hãy hỏi những người trong cuộc xem có đúng như vậy không .
Ở Bộ Giao thông vận tải từ khi có Bộ trưởng mới người ta đều giữ thái độ im lặng . Trong các cuộc họp giao ban chỉ thấy một mình Bộ trưởng nói và quyết định. Các Thứ trưởng đều không bày tỏ thái độ gì đồng tình hay phản đối . Đồng tình mà trong lòng không phục thì lương tâm cắn rứt. Phản đối thì biết chắc là sẽ bị ghét bỏ, bị cô lập và có khi mất ghế nên tốt nhất là im lặng . Im lặng là vàng. Khi được  hỏi, chính xác hơn là bị hỏi thì ậm ừ cho qua chuyện để không bị hiểu là ủng hộ hay phản đối. Không biết khi quyết định không cho các quan chức trong ngành chơi golf, các Thứ trưởng, các thành viên Ban cán sự có được hỏi ý kiến không và có bày tỏ chính kiến của mình thật hay không. Bộ trưởng Thăng cho thế là mình được sự đồng thuận. Ông có biết là có một núi lửa đang gầm gừ trong các căn phòng làm việc của Bộ GTVT ?
Sự độc đoán của ngài Bộ trưởng còn thể hiện ở chỗ từ khi ông về Bộ, đã không còn chức Thứ trưởng thường trực nữa. Nghĩa là chỉ duy nhất ông là Thủ trưởng cơ quan, tư lệnh thống lãnh toàn ngành. Vậy làm sao tập hợp được sức mạnh của tập thể, tệ hơn nữa khi họ quay lưng và giữ sự im lặng? .
Việc có một ý kiến hỏi ông tại buổi trả lời trực tuyến rằng tại sao chỉ thấy một  mình ông vi hành đi kiểm tra đây đó mà không thấy các vị Thứ trưởng là câu hỏi bóng gió về chuyện đồng thuận hay không đồng thuận đấy ngài Bộ trưởng ạ .
Ngay cả việc thay thế  Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia bằng một tổ chức hữu danh vô thực “Ban Chỉ đạo liên ngành” và giải thể cơ quan ngôn luận của Ủy ban là báo Bạn đường, sáp nhập nó vào Báo Giao thông của Bộ Giao thông vận tải tức là ông đã tự vô hiệu hóa cái gọi là Ban chỉ đạo liên ngành. Từ nay Ban chỉ đạo liên ngành khó có thể nhận được sự hợp tác của các Bộ Ngành và sẽ chỉ do Bộ Giao thông độc diễn  mà thôi .
Không nói những chuyện khác, chỉ hai ví dụ kể trên có thể thấy Ông Đinh La Thăng đã né tránh sự thật. Có thể ông biết sự thật nhưng cố tình nói ngược lại để tự trấn an mình vì vậy dưới con mắt bàn dân thiên hạ tinh tường, ông- một người tưởng là ngay thẳng, mạnh mẽ cũng  chỉ là một kẻ dối trá .