ĐÀN BÀ KHỔ VÌ CÁI GÌ?

Lâm Trực 
Đàn bà nọ không khi nào chịu nhường đàn bà kia, dù là từng centimet.

Tất cả những kẻ ngây thơ đều tưởng rằng phụ nữ suốt đời chỉ có một công việc là quan tâm tới đàn ông. Chúng nhầm. Phần lớn phụ nữ dành cuộc đời để quan tâm tới phụ nữ khác.
Đàn bà sinh ra tự nhiên đã mặc định trong đầu mình thua kém đàn ông ở nhiều mặt. Sự mặc định đó có thể đúng, có thể sai nhưng họ sẵn sàng chấp nhận như thế và đàn ông chả dại gì sửa chữa điều này nhằm mục đích hưởng lợi. Nhưng đàn bà nọ không khi nào chịu nhường đàn bà kia, dù là từng centimet.

Không tin mời bạn cứ đến sàn diễn thời trang. Cô người mẫu nào ra trước và đi ngang hàng với cô người mẫu nào là một vấn đề sống chết. Nhiều lúc chỉ cần nhích lên nửa bước chân thì vào hậu trường đừng hy vọng còn đường lùi. Thiên hạ đồn rằng nếu sau sân khấu có để súng thì một nửa số người mẫu đã hy sinh vì nội chiến.
Một phụ nữ chân chính không bao giờ sợ chồng mình nghèo hay xấu. Nhưng luôn luôn sợ chồng đứa khác đẹp hoặc giàu hơn ta. Một phụ nữ chân chính cũng không bao giờ sợ chồng ngoại tình, mà sợ chồng đứa khác không ngoại tình.
Nếu ta có dịp nhìn một đàn gà trên sân, ta sẽ thấy các con gà trống tranh cướp các con gà mái, còn gà mái tranh cướp lẫn nhau. Phụ nữ tất nhiên không phải gà, kẻ nào nghĩ như thế là hết sức bậy bạ. Phụ nữ cao quý hơn gà cả triệu lần. Nhưng sự cao quý ấy không hề ngăn cản cô bên phải rình rập cô bên trái.
Nếu có dịp tham dự một cuộc thi hoa hậu, bạn chắc chắn sẽ kinh ngạc khi nhìn xuống ghế khán giả. Lượng phụ nữ vào xem bao giờ cũng đông hơn lượng đàn ông mặc dù về nguyên tắc, các cuộc thi ấy dành cho phái mạnh. Nam giới xem, biết cô nào xinh đẹp để yêu. Còn phụ nữ xem, biết cô nào xinh đẹp để trừng trị. Một khát vọng trừng trị mạnh đến nỗi, họ sẵn sàng mua vé chợ đen.
Như vậy có nghĩa là phụ nữ nhỏ nhen ư? Kẻ hết sức tầm thường mới nghĩ thế. Phụ nữ vô cùng vĩ đại trong sự ghen ghét đồng loại. Họ không bao giờ cam chịu thất bại, không bao giờ đầu hàng, không khi nào tuyệt vọng. Trái hẳn với đàn ông, chỉ ngồi trong bàn rượu là oai hùng, chứ nhắc đến tên Ronaldo, Từ Hải hay võ sĩ Mô Ha Mét Ali là anh nào cũng khiếp vía.

Đàn bà theo quan niệm: “Xấu không có quà, đẹp vơ lấy tất cả”.

Rõ ràng đàn ông sinh ra trên đời, tự mình phân chia thứ bậc, sau đó phần lớn yên tâm với hạng mục của mình, mặc dù đa số những danh phận đó nhỏ bé đến thảm thương. Đàn bà không thế. Đàn bà theo quan niệm: “Xấu không có quà, đẹp vơ lấy tất cả”.
Do đó, đàn bà suốt đời đấu tranh, suốt đời tranh đấu vì suốt đời ghen ghét, thế mới tuyệt vời! Nếu bạn đặt một gã đàn ông trên ghế, mười năm sau quay lại vẫn thấy gã ngồi. Còn nếu bạn đặt một người đàn bà, ba ngày sau quay lại đã thấy hoặc cô ta nằm trên ghế, hoặc ghế nằm trên cô ta. Còn mười ngày sau quay lại đã thấy ghế tan tành.
Lịch sử loài người đã chứng minh rằng xa xưa có các nữ chiến binh Amazon cưỡi ngựa, bắn cung và múa gươm rất phi thường, chinh phục rất nhiều lãnh thổ. Nhưng tại sao họ không ra trận nữa? Tại nếu họ còn chiến đấu, thế giới sẽ không khi nào có một ngày yên bình.

Hiểu rõ chân lý này, ta sẽ thấy bất hạnh thay cho thiếu nữ nào vào một công ty mà sếp là phụ nữ. Nếu cô ấy dại dột đẹp và trẻ thì số phận đã rõ ràng. Cô ta sẽ không khi nào ngoi lên được và cũng không khi nào ra được. Cô ta đã lãnh án chung thân.
Tại sao không có phụ nữ làm cảnh sát giao thông? Tại vì khi ấy tất cả các chị em đều phải nộp phạt. Tại sao hoa hậu không làm việc ở phòng thuế? Tại vì khi ấy tất cả các cô gái đẹp đều bị truy thu. Tại sao giám thị ở trại giam nữ phải là phụ nữ? Tại vì khi ấy đố đứa nào trốn thoát.
Cảnh sát Mỹ đã làm một cuộc thống kê, cho thấy hầu như tất cả các vụ cướp nhà băng do phụ nữ cầm đầu thì thủ phạm luôn chọn những nhà băng có nhiều nhân viên nữ mặc dù số tiền ở trong đó ít hơn. Điều ấy chứng tỏ phụ nữ không cần tiền mà cần trả thù là chính.
Mục đích của bài viết này là để giải quyết một vấn đề bao nhiêu năm nay xã hội vẫn nhầm lẫn. Đó là trong gia đình, không phải các bà vợ khổ vì ông chồng, mà khổ do có cô khác sướng hơn.

ĐÀN BÀ KHỔ VÌ CÁI GÌ?

Lâm Trực

Đàn bà nọ không khi nào chịu nhường đàn bà kia, dù là từng centimet.



Tất cả những kẻ ngây thơ đều tưởng rằng phụ nữ suốt đời chỉ có một công việc là quan tâm tới đàn ông. Chúng nhầm. Phần lớn phụ nữ dành cuộc đời để quan tâm tới phụ nữ khác.



Đàn bà sinh ra tự nhiên đã mặc định trong đầu mình thua kém đàn ông ở nhiều mặt. Sự mặc định đó có thể đúng, có thể sai nhưng họ sẵn sàng chấp nhận như thế và đàn ông chả dại gì sửa chữa điều này nhằm mục đích hưởng lợi. Nhưng đàn bà nọ không khi nào chịu nhường đàn bà kia, dù là từng centimet.



Không tin mời bạn cứ đến sàn diễn thời trang. Cô người mẫu nào ra trước và đi ngang hàng với cô người mẫu nào là một vấn đề sống chết. Nhiều lúc chỉ cần nhích lên nửa bước chân thì vào hậu trường đừng hy vọng còn đường lùi. Thiên hạ đồn rằng nếu sau sân khấu có để súng thì một nửa số người mẫu đã hy sinh vì nội chiến.



Một phụ nữ chân chính không bao giờ sợ chồng mình nghèo hay xấu. Nhưng luôn luôn sợ chồng đứa khác đẹp hoặc giàu hơn ta. Một phụ nữ chân chính cũng không bao giờ sợ chồng ngoại tình, mà sợ chồng đứa khác không ngoại tình.



Nếu ta có dịp nhìn một đàn gà trên sân, ta sẽ thấy các con gà trống tranh cướp các con gà mái, còn gà mái tranh cướp lẫn nhau. Phụ nữ tất nhiên không phải gà, kẻ nào nghĩ như thế là hết sức bậy bạ. Phụ nữ cao quý hơn gà cả triệu lần. Nhưng sự cao quý ấy không hề ngăn cản cô bên phải rình rập cô bên trái.



Nếu có dịp tham dự một cuộc thi hoa hậu, bạn chắc chắn sẽ kinh ngạc khi nhìn xuống ghế khán giả. Lượng phụ nữ vào xem bao giờ cũng đông hơn lượng đàn ông mặc dù về nguyên tắc, các cuộc thi ấy dành cho phái mạnh. Nam giới xem, biết cô nào xinh đẹp để yêu. Còn phụ nữ xem, biết cô nào xinh đẹp để trừng trị. Một khát vọng trừng trị mạnh đến nỗi, họ sẵn sàng mua vé chợ đen.



Như vậy có nghĩa là phụ nữ nhỏ nhen ư? Kẻ hết sức tầm thường mới nghĩ thế. Phụ nữ vô cùng vĩ đại trong sự ghen ghét đồng loại. Họ không bao giờ cam chịu thất bại, không bao giờ đầu hàng, không khi nào tuyệt vọng. Trái hẳn với đàn ông, chỉ ngồi trong bàn rượu là oai hùng, chứ nhắc đến tên Ronaldo, Từ Hải hay võ sĩ Mô Ha Mét Ali là anh nào cũng khiếp vía.



Đàn bà theo quan niệm: “Xấu không có quà, đẹp vơ lấy tất cả”



Rõ ràng đàn ông sinh ra trên đời, tự mình phân chia thứ bậc, sau đó phần lớn yên tâm với hạng mục của mình, mặc dù đa số những danh phận đó nhỏ bé đến thảm thương. Đàn bà không thế. Đàn bà theo quan niệm: “Xấu không có quà, đẹp vơ lấy tất cả”.



Do đó, đàn bà suốt đời đấu tranh, suốt đời tranh đấu vì suốt đời ghen ghét, thế mới tuyệt vời! Nếu bạn đặt một gã đàn ông trên ghế, mười năm sau quay lại vẫn thấy gã ngồi. Còn nếu bạn đặt một người đàn bà, ba ngày sau quay lại đã thấy hoặc cô ta nằm trên ghế, hoặc ghế nằm trên cô ta. Còn mười ngày sau quay lại đã thấy ghế tan tành.



Lịch sử loài người đã chứng minh rằng xa xưa có các nữ chiến binh Amazon cưỡi ngựa, bắn cung và múa gươm rất phi thường, chinh phục rất nhiều lãnh thổ. Nhưng tại sao họ không ra trận nữa? Tại nếu họ còn chiến đấu, thế giới sẽ không khi nào có một ngày yên bình.



Hiểu rõ chân lý này, ta sẽ thấy bất hạnh thay cho thiếu nữ nào vào một công ty mà sếp là phụ nữ. Nếu cô ấy dại dột đẹp và trẻ thì số phận đã rõ ràng. Cô ta sẽ không khi nào ngoi lên được và cũng không khi nào ra được. Cô ta đã lãnh án chung thân.



Tại sao không có phụ nữ làm cảnh sát giao thông? Tại vì khi ấy tất cả các chị em đều phải nộp phạt. Tại sao hoa hậu không làm việc ở phòng thuế? Tại vì khi ấy tất cả các cô gái đẹp đều bị truy thu. Tại sao giám thị ở trại giam nữ phải là phụ nữ? Tại vì khi ấy đố đứa nào trốn thoát.



Cảnh sát Mỹ đã làm một cuộc thống kê, cho thấy hầu như tất cả các vụ cướp nhà băng do phụ nữ cầm đầu thì thủ phạm luôn chọn những nhà băng có nhiều nhân viên nữ mặc dù số tiền ở trong đó ít hơn. Điều ấy chứng tỏ phụ nữ không cần tiền mà cần trả thù là chính.



Mục đích của bài viết này là để giải quyết một vấn đề bao nhiêu năm nay xã hội vẫn nhầm lẫn. Đó là trong gia đình, không phải các bà vợ khổ vì ông chồng, mà khổ do có cô khác sướng hơn

MA VĂN – THỂ – DU


Có lẽ, Bộ Văn hóa, Thể Thao & Du lịch nên đổi slogan cho ngành du lịch Việt Nam thành “Đất nước ma thuật” – thay cho slogan đang dùng là“Vẻ đẹp bất tận” thì hợp lý hơn. Ở chỗ, dù đã gào lên ầm ĩ (chắc chắn không chỉ bằng nước bọt) nhưng đến nay, chả mấy ai nhớ slogan của Bộ. Thêm vào đó, “đất nước ma thuật” nghe ấn tượng hơn, hấp dẫn hơn và cơ bản, “slogan” này phản ánh chân thực những giá trị cơ bản mà Việt Nam đang sở hữu. 


Sao lại gọi Việt Nam là “Đất nước ma thuật”? Trước hết bởi để tìm kiếm những giá trị thật ở đất nước này cực khó, nếu chẳng muốn nói là không thể. Nói cách khác, những giá trị thật không có đất sống trong môi trường Việt Nam, buộc phải sói mòn rồi cạn kiệt. Cũng xin lưu ý, môi trường Việt Nam mà tôi nói ở đây không khu biệt trong nước hay ngoài nước hay thể chế chính trị nào mà ý nói đến ở những nơi có mặt người Việt sinh sống. Đơn giản nhất như việc nói thật hay bị ném đá bởi người ta chỉ chuộng lối nói dối, nói trái với suy nghĩ của mình. Sự giả dối ăn sâu vào máu của người Việt – thứ mà thiếu đi, người Việt sẽ không còn là người Việt nữa. Tất cả biến Việt Nam thành một dân tộc vô liêm sĩ một cách đáng kính trọng.


Từ nạn giả dối tràn lan khắp các hang cùng ngõ hẹp, từ mạn xuôi lên mạn ngược, từ trung ương tỏa ra các địa phương để chẳng nơi đâu mà các khái niệm dễ dàng bị người ta…đánh tráo hơn thế. Nhà ma thuật David Copperfield có thể nổi tiếng ở đâu đó bằng cách đi xuyên vạn lý trường thành, có thể nhấc bổng cả đoàn tầu chục toa lên khỏi mặt đất, có thể biến con bồ câu trên tay thành con ngựa vằn (và ngược lại) nhưng đến Việt Nam thì chịu thôi. Bởi để biến một Đàm Vĩnh Hưng thành văn công cộng sản và phù phép một Trọng Tấn, Anh Thơ thành những kẻ vì cái tôi cá nhân và (gần như) phản bội lại đất nước thì chỉ có mỗi Việt Nam làm được. Chính xác hơn là mỗi Bộ Văn hóa Thể Thao Du lịch Việt Nammới làm được, David Copperfield chịu. Nếu được đề nghị và trả cho một khoản thù lao kếch xù thì anh ta cũng chịu và chỉ biết ngơ ngác rồi bỏ của chạy lấy người.

Đàm Vĩnh Hưng chính xác chỉ là một ngôi sao giải trí, là ông hoàng của làng showbiz và thứ tư tưởng nếu có chỉ là chủ nghĩa hiện kim hiện vật. Anh ta làm nghề vì đam mê và kiếm tiền để nuôi dưỡng, tỉa tót đam mê. Chấm hết. Đàm Vĩnh Hưng là người chịu thụ hưởng cuộc sống nên nơi nào đáp ứng được cho sự thụ hưởng thì anh sẽ hướng về nó. Như từng có lần Đàm Vĩnh Hưng muốn tuồn sang Mỹ nhưng kế hoạch bất thành (rớt phỏng vấn), anh đành phải ở lại ViệtNam. Trong não bộ của cộng sản, không có tên của Đàm Vĩnh Hưng. Nếu có chỉ là sựtưởng tượng của dăm ba cái đầu đầy cám lợn ở đâu đó trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

Ngược lại là Trọng Tấn, dù hình ảnh không được phủ sóng theo diện rộng, không nằm lòng trong mọi tầng lớp công chúng cùng với “mật độ” của những lần ra album thưa thớt (và ca sĩ như anh cũng chẳng cần phải tung ra quá nhiều album làm gì) nhưng trong lãnh địa nhạc đỏ, Trọng Tấn là địa chủ của những địa chủ. Không chỉ co cụm trong lãnh địa nhạc đỏ mà vươn ra nhạc nhẹ, nếu Thanh Lam được mặc định là diva hàng đầu thì không ai khác ngoài Trọng Tấn là divo số 1 của nhạc Việt. Là bởi, xét về âm sắc, Trọng Tấn là giọng hát nam đẹp nhất, quý nhất Việt Nam hiện nay. Nói về tư duy âm nhạc, chẳng nam ca sĩ nào sở hữu được một tư duy âm nhạc văn minh hơn thế. Tư cách thì miễn bàn, giữa một làng âm nhạc xô bồ và nhộn nhạo, Trọng Tấn không bị cuốn theo vòng xoáy của thị trường mà tách hẳn thành một dòng chảy riêng tư để giữ được cho mình một thế đứng từ tốn mà độc tôn, vững chãi. Không dừng lại ở một giọng hát đẹp, một tư duy âm nhạc văn minh, một tư cách sạch sẽ, Trọng Tấn còn là tấm gương, là đích đến mẫu mực của các thế hệ ca sĩ sau này hay ít nhất nếu chả được thế, tài năng và tư cách của anh vượt trội và hơn hẳn lắm anh, lắm bà cộm cán trong cái bộ có cái tên mỹmiều Văn hóa Thể Thao & Du lịch. Với mình, Trọng Tấn là báu vật quốc gia.

Trở lại với công điện của Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Nguyễn Văn Tình yêu cầu kỷ luật Trọng Tấn (và Anh Thơ) theo mình là một loại công điện VỚ VẨN, NHẢM NHÍ. Công điện ấy nó RẺ TIỀN hơn cả Ngọc Huyền. Vì sao mình bảo thế? Vì tinh thần của của cái gọi là công điện ấy nó đậm đặc mùi vị của sự THÙ VẶT theo cảm tính cá nhân, là cái sự THỂ HIỆN TA ĐÂY QUYỀN LỰC của dăm ba vị tai to mặt lớn (và dày nữa) của Bộ Văn hóa Thể Thao & Du lịch. 
Đấy thực chất là TƯ ĐIỆN chứ CÔNG ĐIỆN quái gì. Ở đây hình như có sự lạm dụng quyền hạn để trút bỏ những ẩn ức cá nhân, họ mượn cái CÔNG ĐIỆN cho sang để che dấu, lấp liếm cho sự HÈN MỌN của mình. Là trừng phạt theo kiểu ĐÀN BÀ í. Ý, anh là người của Bộ thuộc Trung Ương, quyền lực của anh to thế mà chúng mày dám đặt dưới cơ của mấy thằng ở Ninh Bình à. Anh giận nên anh kỷ luật. Chuyện chỉ đơn giản thế chứ làm đéo gì có cái gọi là ý thức chính trị gì ở đây. Ối giời, các anh mà ý thức chính trị sâu sắc thế thì quá phúc cho đất nước này. Tiếc là những thứ mà các anh đang hồn nhiên bày ra thì có độ lượng đến mấy thì người ta cũng khó mà cho rằng các anh có ý thức chính trị. Nhân đạo (hay xuề xòa) hơn thì cứ cho là có cơ mà cái ý thức ấy của các anh nó qua loa, đại khái lắm. Nó sơ xài một cách đáng kinh ngạc.

Dưới đôi mắt của một người quan sát bình dân thôi người ta cũng phải thấy Chương trình nghệ thuật chào mừng năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam – Lào là một sự kiện văn hóa đặc biệt quan trọng. Về mặt tư tưởng thì đây là chương trình đánh dấu tình hữu nghị Việt Lào, nó có sự tham dự của các lãnh đạo cao cấp của hai nước. Sâu hơn thế, có mù lòa đui chột thì cũng phải thấy giai đoạn hiện nay là giai đoạn cực kỳ nhậy cảm, Việt Nam đang rất cần sự đồng thuận, ủng hộ của các nước láng giềng trong khu vực trước sự nhũng nhiễu của Bắc Kinh thì các chương trình như thế sẽ có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Trong khi Trung Quốc tung tiền để mua khu vực, ta chả có nên chỉ tranh thủ cái tình thì phải biết tổ chức sao cho cẩn thận chu đáo chứ. Mà chả cần phải đợi đến khi nhậy cảm, các chương trình ở cấp quốc gia thế này phải được tổ chức một cách chuyên nghiệp, bài bản bởi những chương trình như thế là bộ mặt quốc gia kia mà. Nói xin lỗi, nhìn vào những gì các bố đang làm người ta thấy các bố tổ chức chương trình nghệ thuật cao cấp mà còn kém hơn văn nghệ đám cưới miệt vườn. 
Chuẩn bị thì qua loa, đại khái rồi cũng chả có phương án bọc lót, dự bị để thay thế nếu có sự cố. Ai đời giao cho NSND Quang Thọ, sắp đến ngày diễn thì nghệ sĩ này bị ngã thế là cấp tập cử Trọng Tấn đi thay. Làm ăn kiểu đấy thì họ đỡ cho đã là may, lại còn dỗi. Nói xin lỗi, một event, một hội nghị khách hàng người ta đã chuẩn bị trước đó vài tháng và có đủphương án thay thế trong khi đây là chương trình cao cấp mà các bố cứ duy trì theo kiểu nhà quê. Xét nét nữa người ta thấy chả ai khác ngoài các bố cực kỳchủ quan và xem nhẹ mối quan hệ với Lào. Thử thay chữ Lào bằng Hoa Kỳ hay Nhật Bản thì các bố có dám giữ cái phong cách tổ chức như thế không? Như vậy thì nếu có ý thức chính trị thì các bố phải tự vả vào mồm các bố trước chứ làm gì đã đến lượt Trọng Tấn hay Anh Thơ. Quên mất, các bố xưa nay mải mê làm bố mẹ đời hoặc mặt đã dày như bê tông thì làm đéo gì còn khái niệm xấu hổ đẻ mà tự kỷluật mình. Mới nói là nuôi cái ngữ như các bố lãnh đạo Bộ Văn hóa Thể Thao Du lịch hiện nay nó phí cơm phí gạo của dân kinh lắm! Chỉ giỏi ăn chia cho mập mặt chứ có làm gì ra hồn đâu mà hở miệng ra là nó bảo đứa này ý thức chính trị non kém, khép mồm lại thì nó bảo nghệ sĩ giờ đây đặt cái tôi của mình trên lợi ích đất nước. Thằng nào trong Bộ Văn hóa Thể Thao & Du lịch mạnh dạn bước ra vỗ ngực xưng tên bảo mình ý thức chính trị sâu sắc để em Hà Cao và mọi người có cơ hội được nhìn thấy và ngưỡng mộ thử xem. Toàn nói láo!

Tiện thể đang nói về ý thức chính trị thì cũng xin nói luôn là khi làm văn hóa thì không cần phải đến chương trình chào mừng hữu nghị với nước nào đó thì ý thức chính trị mới có dịp trỗi dậy mà nó phải được thể hiện thường xuyên và rõ nét trong các hoạt động văn hóa trong nước. Mà các bố có hiểu ý thức chính trị ở đây là gì không? Các bố làm lãnh đạo văn hóa mà phải nói thật là các bố ngu và u mê lắm! Xin thưa các bố ý thức chính trị ở đây không phải là ca đi ca lại mãi bài ca ngợi Đảng cộng sản quang vinh muôn năm, chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta hay ca ngợi đất nước thời đổi mới nhé bởi đó là thứ ý thức được hiểu theo nghĩa thô sơ và thấp nhất có thể. Ý thức chính trị ở đây là ở chất lượng, là bề sâu của các chương trình, lễ hội văn hóa. Đó là ý thức chính trị ở bậc cao, khi sở hữu được nền tảng ý thức này người ta sẽ hiểu được giá trị to lớn mà văn hóa mang lại cho đời sống. Các hoạt động văn hóa có chất lượng thì tự thân vẻ đẹp của nó sẽ lan tỏa ra cộng đồng, len lỏi vào đời sống và từ đó Việt Nam mới đẹp lên được. Và từ sự đẹpđẽ đấy nó mới tác động tích cực ra thế giới. Nói nôm na là đẹp từ bên trong đấy ạ! Đến đây thì các bố tự soi gương thành tựu của các bố thử xem?

Ta chưa cần phải lấy ví dụ ở đâu cho xa. Hãy lấy một đất nước bị cho là cực đoan, khép kín, kinh tế còn nghèo và lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc là Bắc Triều Tiên nhé! Ở đất nước còn khó khăn là thế mà họ đã có một lễ hội đặc sắc và gây ấn tượng mạnh với thế giới. Đó chính là lễ hội Ariang
Nhìn lại xứ sở của các bố thừa mứa ý thức chính trị xem các lễ hội văn hóa thế nào? Xin thưa là năm mười hai tháng, chừa mỗi cái toalet chứ đến chỗ nào cũng đụng lễ hội. Này thì lễ hội hoa, sách, phim, nhạc, pháo, biển, dân tộc, đua thuyền, trái cây, lựu đạn…Vài năm trở lại đây còn có lễ hội kinh khí cầu – một lễ hội phải nói là vô duyên, vô hậu nhất Việt Nam. Trong khi bao lễhội giàu bản sắc của dân tộc đang dần bị mai một và cần được thời đại hóa thì các bố chả làm dưng đi lôi về một lễ hội chả ăn nhập gì đến Việt Nam. Chắc ý các bố là thời này nên tha hồ nhập lễ hội để được tiếng chịu hội nhập.

Lễ hội lắm liên hoan cũng lắm nhưng tổ chức chả ra đâu vào đâu để cuối cùng, các lễ hội cứ thế mà thi nhau nhợt nhạt, thiếu sức sống rồi chết yểu. Bởi lễ hội A cũng bân bẩn như lễ hội B, lễ hội B cũng nhếch nhác tựa lễ hội C, lễ hội C thì lem luốc y chang lễ hội D, chả lễ hội nào ra lễ hội nào. Công thức chung vẫn là dựng sân khấu hoa hòe hoa sói, treo dàn đèn nhấp nháy rồi ca sĩ cứ thế mà quốc ca, đảng ca, tỉnh ca, ngành ca… Cũng chả nơi đâu mà hội chợ, lô tô cùng các gian trò chơi có thưởng như ném lon, ném vòng, ném chun cũng được cho là lễ hội. Nói cách khác, lễ hội ở ta chả khác những cái thai non mà những ông bố bà mẹ đẻ không nỡ, nạo hút không đành, nó cứ ất ơ nửa làng nửa chợ. Người ta cứ thích làm thật nhiều vào, rộn ràng vào, trước khi lễ hội diễn ra thì nổ và khoe mẽ đủ các kiểu, rằng thì lễ hội của chúng tôi sẽ hay hớm thếnày, đặc sắc thế nọ nhưng sau đó cứ trôi tuồn tuột, lễ hội xong không còn đểlại chút ấn tượng gì. Có chăng dăm màn tố nhau của những người trong BTC. Mà lỗi này đâu phải ở họ, đúng hơn là tầm vóc của các nhà quản lý văn hóa – ở đây là Bộ Văn hóa Thể Thao & Du lịch quá kém. Kém cả về ý thức, về tài

Ngoài lễ hội ra thì dân trí và đời sống tinh thần của người dân đang được Bộ Văn hóa Thể Thao & Du lịch ở ta lo lắng thế nào ạ? Ai ởTP.HCM thi thoảng rảnh thì nhớ ra các công viên mà xem Sở Văn hóa Thể Thao& Du lịch TP.HCM tổ chức các chương trình ca múa nhạc tạp kỷ trong những dịp mừng Đảng mừng xuân thì không buồn nôn ói mửa mới lạ…Rồi cái gọi là văn hóa của thủ đô ngàn năm văn vật hiện đang thế nào nhỉ!? Vứt mẹ nó vào sọt rác chứ khỏi cần phải bình bàn làm gì cho đau đớn.

Tóm lại là, các bố ý thức chính trị cực kém, giỏi nhất có lẽ ở khoản chơi gái, chia chác, ký cọt nhận tiền. Ra đến quốc hội, cùng với bộtrưởng Bộ TTTT, bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể Thao Du lịch phải nói là nhàn nhạ nhất, lành lặn nhất sau mỗi kỳ họp vì các đại biểu quốc hội ở ta (vì thông minh quá chả hạn) chỉ truy các Bộ đang nắm các lĩnh vực sát sườn với đời sống như giao thông, điện đóm, thực phẩm, thuốc thang…còn văn hóa thì hiếm khi nào các đại biểu quốc hội rớ tới. Mà có lẽ muốn rớ thì các vị í cũng chả biết rớ chỗ nào. Là bởi văn hóa là một phạm trù trừu tượng, khó nắm bắt, nó không rõ ràng, chính xác về mặt con số nên các đại biểu của nhân dân lờ luôn cho lành, cho đỡ mang tiếng dốt nếu sẩy miệng. Thế nên mang tiếng là quốc gia có nền văn hóa dài bốn nghìn năm nhưng hiện tại, chúng ta như một quốc gia vô văn hóa vậy. Nếu có chỉ là thứ văn hóa giả cầy.

Mà ngẫm cũng buồn cười nhỉ! Công điện gần như là ý chỉ của quốc gia, của đại cục, ít hay nhiều nó thiêng liêng lắm chứ đâu phải là thứ cứmuốn, cứ thích cứ hứng lên bất tử là lôi ra ký hả các bố. Các bố được Đảng, nhà nước giao cho trọng trách quản lý văn hóa thì trước hết phải ý thức được điềuđó chứ sao cứ hành xử như một lũ dở hơi thế!? Lần sau, muốn giải quyết những ẩnức cá nhân, những dỗi hờn vặt vãnh thì các bố tự điện rồi gọi ông bà, dòng tộc các bố ra mà ký. Công điện là của nhà nước, không phải của ông bà các bố để lạiđể rồi muốn làm gì thì làm, muốn ký sao thì ký. Lũ nhà quê!

Thông tin thêm: Hôm qua đọc được bài PV NSƯT Trần Bình –Giám đốc Nhà hát Ca múa nhạc nhẹ ViệtNam mà ngẩn ngơ cả buổi. Bởi cái đầu toàn bã đậu thế sao lại có thể chễm chệ ngồi vào cái ghế giám đốc Nhà hát Ca múa nhạc Việt Namnhỉ! Quên mất, ở ta nếu chả dốt, chả nhạt và rỗng tuếch thế thì ai cho lên làm quản lý văn hóa.

VUI TRONG LÚC BUỒN

For P.

Hôm kia anh lục lại mấy ngăn kéo cũ, rất tình cờ, những lá thư em viết cho anh, những tấm thiếp em làm tặng anh vẫn ở nguyên ở đấy, trong một gói giấy màu hồng, và còn rất mới. Nếu không có những sự tình cờ như thế, có lẽ anh đã quên mất những món quà ngộ nghĩnh đáng yêu ấy rồi. Đôi khi anh nghĩ về em, về một cô nhóc dễ thương và đầy cá tính, nhưng anh lại quên đi những câu chuyện cũ, những kỷ niệm cũ, những tháng ngày cũ của anh và em, và tại vì sao thì chắc em cũng chưa thể hiểu. Và anh, cũng đã không hiểu ra rằng, giữa chúng ta, chỉ có từng đó thôi là ý nghĩa.

Em ngày trước là cô học trò tóc ngắn đáng yêu, bé nhỏ và thanh khiết, em có một sở thích là làm những tấm thiếp xinh xinh để tặng những người em yêu thương, và anh là một trong những người may mắn ấy, em tặng anh rất nhiều. Mỗi khi có chuyện vui buồn, em lại xé vài trang vở, viết vội vài dòng hoặc lúc rảnh rỗi thì cả mấy trang, để kể cho anh nghe những câu chuyện về em, về bạn em, về con mèo nhà em hay những ước mơ rất đỗi học trò, những tình cảm, niềm tin yêu và sự kỳ vọng vào anh. Em bây giờ vẫn là một cô nhóc con chưa lớn, sống với nhiều hoài bão và ước vọng, cuộc đời màu hồng, lãng mạn và biết yêu thương. Nhưng trong cuộc sống của em bây giờ anh không tồn tại, kể cả là trong những suy nghĩa thoảng qua. Thế giới của riêng em không có anh. Phải vậy không?

Anh của em ngày trước bây giờ chắc vẫn là một thằng trai chưa lớn, sống với những ước mơ gãy xước trong một cuộc sống màu cháo lòng nhiều toan tính bon chen. Anh tự hiểu rằng, cuộc sống ngột ngạt và méo mó đã làm anh mất đi con người anh ngày trước, và thế là anh mất em.

Tuổi trẻ là thứ quý giá nhất của cuộc đời mỗi con người, những người không còn trẻ vẫn thường bảo thế. Anh còn rất trẻ để chưa phải nuối tiếc nhiều điều. Nhưng em biết không, nhiều khi đường đời mỏi mệt, lại muốn ngoái đầu nhìn lại để thấy em cười nói với anh, một vài lời động viên nhỏ nhẹ, một niềm tin bất diệt và một sự kỳ vọng lớn lao, được nghe em nói với anh rằng tất cả là phía trước, hãy yêu đời và lạc quan lên nhé, anh của em. Anh biết, điều đó đã là quá muộn.

Anh muốn nói với em nhiều lắm, có thể là vào một buổi chiều nào đó trong quán cafe vắng người, mà cũng có thể là không. Nhưng anh sẽ viết cho em ở đây, nơi mà em không bao giờ vào đọc, điều đó có thể sẽ làm anh nhẹ nhõm hơn. Nhiều người bảo anh là thằng bất cần và ngạo mạn, một lời nhận xét mang hơi hướng tiểu thuyết nhưng không hẳn là không đúng đâu, vì thế anh sẽ ra đi nhẹ gọn như anh xưa nay vẫn thế, chúc em vui và đừng trách móc anh nhiều.
———————————

Tôi có thằng bạn, là triết gia nửa mùa. Trước có lần hắn hỏi tôi, vào những ngày mưa tháng gió cô đơn buồn bã một mình, mày nghĩ đến chuyện gì nhiều nhất, quá khứ hay tương lai, chuyện vui hay chuyện buồn. Tôi trả lời có lẽ là gái, quá khứ và buồn. Hắn lại hỏi tôi thế mỗi lần nghĩ về như thế mày thấy sướng không, tôi bảo đã chuyện buồn thì sướng thế đe’o nào được. Đồng chí bạn ấy mới bảo nghĩ lại cho kỹ đi, chuyện thì chuyện buồn thật đấy, nhưng những lúc buồn mày nghĩ về những điều đó là để mà mày thấy sướng thôi. Khốn nạn mà đúng.

Con người ta khi còn chưa đủ lớn, suy nghĩ còn non nớt và khờ khạo thì thích xù lông để chứng tỏ mình già. Lúc chưa đủ già, chỉ là suy nghĩ và cảm nhận về cuộc sống có thêm phần gai góc đã muốn mình được trẻ lại, như nhiều bạn vẫn thường bảo rằng ước gì được sống lại một lần nữa những năm tháng ấy, thì mình sẽ thế nọ thế kia. Tất nhiên điều đó là không thể rồi, nhưng ơn trời, vẫn có những cách để thấy cuộc đời còn tươi trẻ và đẹp xinh, đó là cố gắng giữ lại những gì ngày trước, những gì thuộc về mình, đừng vô tâm quá, đừng vì cuộc đời xôi thịt quá, giữ cho được một quá khứ đẹp, như là một cô em gái tên là P. Tình yêu là thứ thiêng liêng, nuối tiếc cũng nhiều thật đấy, nhưng tôi tiếc tuổi thơ, tiếc tháng ngày, tiếc kỷ niệm và tình cảm trong sáng nhiều hơn, mặc dù là tôi biết rằng giữa tôi và em đã có những khoảng cách, những vết rạn, những niềm tin lung lay mà lòng chân thành và những lời hứa hẹn cũng khó có thể hàn gắn được.

Hôm qua có cái sinh nhật anh bạn, đi uống bia xong hát hò đến mãi tận khuya, xong cả lũ về ngồi tán phét gần sáng mới chịu đi ngủ lấy sức đi chơi ngày lễ. Thiếu ngủ nên cả ngày người cứ liêng biêng, lại ham chơi thức quá giờ lại đâm ra khó ngủ. Tự nhiên chui vào đây, thấy nhớ em, thế là viết vài dòng. Nếu là ngày trước thì chắc là giờ này máy em sẽ rung, và sáng mai anh sẽ tỉnh giấc bằng một tin nhắn reply, với nội dung chúc anh một ngày tốt lành.
————————————-

Có hôm đi chơi về muộn, bật máy thấy em đang online, treo status kêu buồn. Anh hỏi buồn gì, chia cho anh nửa với. Em bảo em chia tay với người yêu rồi, cách đây mấy hôm. Anh bảo thôi lúc nào rỗi gọi anh đi cafe mà tâm sự cho đỡ buồn, nói chuyện với anh mà cười cho sướng, mỗi ngày em phải cười 16/24 tiếng mới đúng với con người của em. Em cười hi hi, hẹn anh chiều mai cafe Phố Cổ, báo hại đợt đấy anh say nắng, đâu khoảng chục ngày.

Hồi em còn chưa bị thằng nào vợt, anh vẫn mải mê về một màu mây hơi bị xa, màu mây ấy anh sẽ viết về cô vào mấy hôm nữa, mà có thể là vào những ngày cuối tháng tư nhiều kỷ niệm của anh.

Em kể cũng thuộc dạng khó nhai, bướng bỉnh và rất cứng đầu, nhưng cái đồng chí vừa chia tay em, trước cũng là thằng răng khỏe. Thế là em có người yêu.

Thằng người yêu em hơn anh một tuổi, nhưng nhìn già dặn, đứng đắn và người lớn hơn anh. Anh vẫn đùa em vui tính hay cười, yêu thằng già dặn người lớn thế làm gì, sống trong nguyên tắc quá cũng nhanh già chóng chết, phải chọn lấy cái thể loại phất phơ bụi phủi như anh mà yêu em ạ, thế nó mới trẻ lâu. Em cười hi hi, bảo sao anh không nói sớm, hôm Hồ Tây đấy chỉ cần nháy mắt với em một cái, có phải là xong rồi không. Em đùa ác thế, làm anh phải vặn miệng mà cười. Buổi chiều đẹp trời em khoe với anh là em có người yêu, anh chúc mừng em hết lời, miệng vẫn cười tươi, mà bụng thì lặm bặm, nghĩ, anh đây đe’o chịu yêu, lại đi yêu thằng bỏ mẹ đấy làm gì chứ. Em ơi.

Anh gọi em là cô gái xinh đẹp đủ dùng, nhưng bạn bè anh lại bảo là em xiiiiiiiinh, và trông giống như một con thỏ, chắc là anh gọi thế vì anh nghĩ màu mây của anh vẫn xinh hơn em. Em cười 16 tiếng mỗi ngày, trừ khi ngủ, giọng nói cực kỳ dễ thương, hiền ngoan và sống đẹp, làm mấy thằng bạn nó cứ chửi anh ngu, bắt anh gọi bò bằng cụ, cỏ đấy không ăn, cứ thích gặm dây thừng. Anh gọi em là tình hờ, cứ hiểu là 3 phần yêu, 7 phần là bạn, được xếp vào loại tình cảm đặc biệt, không có trên wiki.

Dù sao, chúng ta cũng là những người bạn trên cả tuyệt vời. Dù sao, chúng ta không phải là những người sinh ra để mà yêu nhau, để cho nhau tất cả, bởi vì vẫn có nhiều điều mà chúng ta chưa chạm vào suy nghĩ của nhau được, chưa thể bước vào cuộc sống của nhau được. Anh biết, qua những tháng ngày anh em chơi với nhau, những lời tâm sự 7 phần đùa 3 phần thật, và những sự quan tâm dành cho nhau, chúng ta hoàn toàn có thể đến với nhau như những người yêu đến với người yêu, nhưng chúng ta không làm thế, và cái còn lại là một tình bạn đẹp, em thấy thế không?

Em vẫn hay gọi anh là anh “iu”, đã có nhiều lần, vì sự trong sáng của tiếng Việt và anh liêng biêng say nắng vì em, anh đã thử gọi em đúng chính tả, em yêu, nhưng mà ngượng miệng, và em cũng thế, chưa bao giờ. Và bởi vì, cuộc sống, nếu yêu nhau thì anh biết tan vỡ chỉ là điều sớm muộn. Nhưng, anh, không nuối tiếc bất cứ một điều gì.

———————————

KHÔNG ĐỦ DŨNG KHÍ NHẬN MÌNH SAI

Lâm Trực

Hôm nọ em đến nhà thằng bạn em chơi, trong lúc đợi nó lúi cúi làm cái gì đấy thì em ngồi nghịch nghịch mấy thứ trên bàn. Tự nhiên thấy có cái bút dạ để trên bàn, em tí toáy vẽ lung tung lên bàn nó (xóa được). Sau đấy em ra cửa đứng đợi nó, nó làm xong việc ngó lên thấy cái bái bàn bị bẩn, nó bảo em :

– Mày vào xóa đi, bẩn.


Em thì lười, lúc đấy đã ở cửa phòng rồi, nửa đùa nửa thật em bảo nó:

– Đéo xóa. Mày ở ngay đấy thì xóa đi.


Thế là nó quát em:

– Đm xóa ngay đi, bẩn bỏ mẹ, có xóa không thì bảo ? 


Đan mạch các bác ạ, em thì em biết mình sai bỏ mẹ lên rồi, nhưng mà … bây giờ mà xóa thì hóa ra công mình chửi nhau với nó nãy giờ bằng công cốc à ? Với cả ,nó mà nói nhẹ nhàng từ đầu thì đâu đến nỗi ? Các bác công nhận không ?


Thế rồi cuối cùng hôm đấy hai thằng đi chơi mất cả vui. Đấy các bác ạ, nhiều lúc đủ dũng khí để chửi nhau, mà ***** đủ dũng cảm để nhận mình sai. Nhiều lúc lên ngựa rồi, muốn nhảy xuống khó lắm.

NGÔN NGỮ XÌ – TIN CÓ RỒ ĐIÊN KHÔNG?

LâmTrực@


Thưa các bác, dạo này có một số bạn bảo em già, thiếu xì tin. Em cực lực phản đối luôn, thứ nhất là em chưa già, đang 18 xuân xanh, già là già thế nào. Thứ hai là em vô cùng xì tin. Bằng chứng là nhạc gì em cũng nhảy được, hôm trước có bạn bật nhạc Quốc ca, em vẫn nhảy như thường. Breakdance cơ đấy nhá.

Giới trẻ hiện nay, tức là cái tuổi ẩm ẩm ương ương như em đây này. Chúng nó đang rộ lên cái phong trào viết cái kiểu ngôn ngữ rất chi là khó hiểu. Thật tình em ***** hiểu tại sao chúng nó lại hiểu được cái ngôn ngữ như vậy. Hôm trước, có bạn gái rủ em chat, ờ thì bạn ấy rất xinh, em đồng ý liền. Nhưng ôi giời ơi, bạn ấy viết mà em phải mất 5 phút sau mới dịch được. Thế là em buộc phải dùng phương pháp thủ công là offline chân tay. Thế mới biết cái sự thông tin không rõ ràng, thiếu bộ gõ tiếng Việt nó thật là nguy hại. Suýt mất một bạn gái xinh tươi chỉ vì cái ngôn ngữ xì tin mà bảo không có hại sao?

Dạo em mới vào diễn đàn, em kết cực cái kiểu không cho dùng ngôn ngữ xì tin của diễn đàn ta. Thật ra, điễn đàn mạng chả khác gì bông hoa nở giữa sa mạc, điện ở giữa mùa khô… vân vân và vân vân… Em reg ngay một quả nick, bày tỏ thành ý của mình. Nhưng mà thành thử là đôi khi vẫn hơi bị khó chịu là có một số bạn vẫn dùng cái ngôn ngữ ấy. Hôm trước có bạn viết 3 bài thì đều dùng “j”, “ạh”…

Thật! em không hiểu làm sao có một số bạn trình độ đọc hiểu lại rất kém. Hôm trước, có bạn pm em nói giọng như bố đời, bảo em active nick cho bạn í. Em có phải admin đâu mà bảo em active. Em từ chối mãi bạn ấy mới thôi. Vài hôm sao 2 quả nick của bạn ấy được active, kết quả là đi cả hai. Chỉ vì tội ngu, viết “ạh”, “j”. Bạn ấy chỉ cần bỏ ra vài ngày đọc hết bộ Long tuyển là có thể viết bài được rồi. Vậy mà bạn ấy cứ cắm mặt vào đòi post bài, thật em ***** hiểu làm sao mà có những người ngông cuồng và ngu dốt đến thế.

Khi được hỏi tại sao lại thích cái ngôn ngữ đấy. Một em gái trả lời hồn nhiên là vì nó vui vẻ. Mấy hôm nay rất lắm nick trong diễn đàn bị treo bởi viết theo kiểu xì tin, em nghĩ các bạn ấy cũng cùng suy nghĩ trên. Ừ nếu như vậy thì tốt nhất là bảo admin gạch mẹ nó cái: Di sản văn hóa phi vật thể của Diễn đàn mạng duyên dáng, hào hoa, trí tuệ và dâm đãng. Thay vào đấy là:Di sản văn hóa phi vật thể: Ngôn ngữ xì tin.

Bởi vì nếu muốn vui chỉ cần viết ngôn ngữ xì tin là vui rồi, có đúng không?

Giao tiếp xã hội giúp ta trưởng thành và ta chủ trương vui là chính. Nhưng vui có nghĩa là vui trong lời lẽ ẩn trong câu chữ. Chứ không phải là ở những thứ hoa hoét, lòe loẹt. Mà nếu các bạn nghĩ rằng phải thêm “h” vào sau “ạ” thì chúng tôi ngu dốt mới hiểu được đấy là “ạ” thì theo tôi các bạn nên vào các 4rum của bọn trẻ con. Đại loại như ttvnol…. Theo tôi nó hợp với cách các bạn dùng từ ngữ, còn ở vài diễn đàn mạng bạn chả khác mẹ gì đống phân vàng ở giữ thảo nguyên xanh nhá.

Vâng, có lẽ em trình bầy thế này có lẽ là dễ hiểu. Mong là một số bạn ngộ ra một số chân lí, để không còn bị những thứ phù phiếm ngoài kia làm ảnh hưởng tới cách nghĩ.

ĐẠO TIN LÀNH Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU TÂM

Là một tôn giáo lớn trên thế giới, đạo Tin lành đã có mặt ở Việt Nam hơn 100 năm. Trong quá trình tồn tại và phát triển ở Việt Nam, Tin lành đã chọn lựa các hình thức hoạt động mềm dẻo, giáo lí và lễ nghi được đơn giản hoá, quần chúng hoá.
Ở nhiều nơi đạo Tin lành đã thích nghi dễ dàng với phong tục tập quán của người địa phương, số lượng tín đồ đạo Tin lành ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, những ảnh hưởng của nó tới đời sống chính trị xã hội, tâm lý lối sống, phong tục tập quán… đang đặt ra nhiều vấn đề khá phức tạp và nhạy cảm. 
Dưới đây là bài viết khái quát một số đặc điểm lịch sử về đạo Tin lành ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra hiện nay. 

1. Sự hình thành đạo Tin lành và một số đặc điểm nhận biết

1.1 Sự hình thành đạo Tin lành

Nếu so sánh với các tôn giáo lớn trên thế giới như Phật giáo, Công giáo hay Hồi giáo thì Đạo Tin lành ra đời muộn hơn cả. Tuy nhiên, kể từ khi ra đời cho đến nay, đạo Tin lành đã phát triển rất mạnh, trở thành một tôn giáo quốc tế với khoảng 550 triệu tín đồ, gần 300 hệ phái tổ chức khác nhau và có mặt trên nhiều quốc gia.

Vào khoảng đầu thế kỷ XVI ở Châu Âu diễn ra sự phân biệt trong đạo Ki tô, dẫn tới việc ra đời của đạo Tin lành. Thực chất đó là cuộc cải cách tôn giáo và chính trị xã hội sâu sắc. Đạo Tin lành là kết quả của sự khủng hoảng đến mức trầm trọng về uy tín của Công giáo do những tham vọng quyền lực trần thế, sự sa sút về đạo đức của hàng giáo phẩm; là kết quả của sự lúng túng, bế tắc của nền thần học kinh viện thời trung cổ; là kết quả đầu tiên mà giai cấp tư sản mới ra đời giành được trong cuộc đấu tranh chống  lại giai cấp phong kiến mà chỗ dựa tư tưởng của giai cấp này là đạo công giáo.

Phong trào cải cách tôn giáo nổ ra đầu tiên ở Đức. Người khởi xướng và trở thành lãnh tụ nổi tiếng của phong trào này là Matin Luther. Ông là người đã bỏ dở chương trình Đại học Luật Erfurt để quyết định “dâng mình cho Chúa” rồi tu tại dòng Oguxtino. Sau đó Luther trở thành giáo sư, tiến sĩ thần học của truờng Đại học tổng hợp Wittenberg. Khi có dịp sang Rôma, Luther đã hoàn toàn thất vọng vì tận mắt chứng kiến đời sống xa hoa trần tục của số đông giáo sỹ. Với sự kiện này ông đã nhen nhóm những ý tưởng cải cách tôn giáo. Sau đó Luther đã công bố 95 luận đề với nội dung phê phán kịch liệt việc lợi dụng danh thánh để bóc lột dân chúng, lên án chức vụ giáo hoàng và giáo quyền Rôma…

Những quan điểm của Luther đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân Đức ủng hộ, nhất là các công hầu quý tộc. Đến năm 1532, trước sự lớn mạnh của phong trào này, hoàng đế Đức đã phải thừa nhận sự tự do hoạt  động của đạo Tin lành.

Thụy Sĩ cũng là trung tâm lớn thứ hai của cuộc cải cách tôn giáo gắn với tên tuổi của Jean Calvin. Ông là người Pháp, đã từng theo học thần học và luật học  bằng học bổng của giáo hội Công giáo nhưng do hưởng ứng phong trào cải cách của Luther nên bị trục xuất khỏi Pháp và sinh sống ở Thuỵ Sĩ. Calvin đã nghiên cứu và hình thành một giáo thuyết riêng đồng thời cải cách về lễ nghi, giáo hội làm chuẩn mực cho phần lớn các hệ phái Tin lành đi theo…

Từ trung tâm Đức và Thuỵ Sĩ, phong trào cải cách tôn giáo phát triển nhanh chóng sang Pháp, Scotlen, Ireland, Hà lan, Anh , Nauy, Đan mạch… Đến cuối thế kỷ XVI đã hình thành một tôn giáo mới tách hẳn khỏi đạo Công giáo. Trong quá trình phát triển của mình, đạo Tin lành đã hình thành rất nhiều hệ phái khác nhau như Trưởng lão, Menhônai, Moóc Mông, Ngũ tuần, Giám lý, Thanh giáo và Giáo hội cộng đồng, Cơ đốc Phục lâm, Giáo hội thống nhất, Môn đệ đấng Chrits, Hội  Liên hiệp Phúc âm truyền giáo…

1.2. Đặc điểm nhận biết của đạo Tin lành

Đạo Tin lành có nhiều tổ chức hệ phái mặc dù có những dị biệt về giáo thuyết, nghi thức hành đạo và cách tổ chức giáo hội nhưng nhìn chung đều thống nhất ở những nội dung, nguyên tắc chính. Có thể khái quát và so sánh với đạo Công giáo:

Trước hết về thần học: Đạo Tin lành là một nhánh của Kitô giáo nên cũng lấy kinh thánh Cựu ước và Tân ước làm nền tảng giáo lý. Khác với Công giáo, Tin lành đề cao vị trí kinh thánh, coi đó là chuẩn mực căn bản duy nhất của đức tin và sự hành đạo, nhưng không coi kinh thánh là cuốn sách của riêng giáo sĩ mà tất cả các tín đồ, giáo sĩ đạo Tin lành đều đọc, sử dụng, nói và làm theo kinh thánh.

Đạo Tin lành cũng thờ Thiên chúa và thừa nhận chúa 3 ngôi: Cha, Con, Thánh thần; tin muôn vật đều do thiên chúa tạo dựng. Nhưng trong tín điều về Đức Bà hoài thai chúa GiêSu một cách mầu nhiệm, đạo Tin lành cho rằng Chúa chỉ mượn lòng bà Maria làm nơi sinh thành chứ Maria không thể là mẹ của Chúa dù theo bất cứ nghĩa nào, thậm chí sau khi sinh ra GiêSu, Maria không còn đồng trinh nữa và còn sinh rất nhiều con cái: Giacôp, Giôdep, Ximôn, Gruđa… Chính vì thế họ phản đối mọi sự thờ phụng bà Maria.

Là một tôn giáo đặc biệt đề cao lý trí trong đức tin. Do đó, luật lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo của Tin lành đơn giản, không cầu kỳ rườm rà. Đạo Tin lành không thờ các tranh ảnh, hiện tượng cũng như dị vật phản đối việc hành hương đến các thánh địa. Trong 7 phép bí tích của đạo Công giáo, đạo Tin lành chỉ thừa nhận và thực hiện phép rửa tội và phép thánh thể. Nếu tín đồ đạo Công giáo xưng tội trong toà kín với linh mục là hình thức chủ yếu nhất thì tín đồ đạo Tin lành khi xưng tội và cầu nguyện có thể đứng giữa nhà thờ, đám đông để sám hối hoặc nói lên ý nguyện  của mình một cách công khai. Thánh đường của đạo Tin lành thường có kiến trúc hiện đại, đơn giản. Trong thánh đường chỉ có duy nhất cây thập giá, biểu tượng của Chúa GiêSu bị nạn.

Về nhân sự, đạo Tin lành cũng có giáo sĩ như công giáo. Giáo sĩ đạo Tin lành có hai chức: mục sư và giảng sư, không áp dụng luật độc thân như giáo sĩ đạo Công giáo. Và có một điều đặc biệt là giáo sĩ Tin lành có nhiều người là nữ. Các giáo sĩ tuy cũng được coi là người chăm sóc linh hồn cho tín đồ nhưng không có quyền thay mặt Chúa để ban phúc hay tha tội cho con chiên.

Về phương diện tổ chức, đạo Tin lành không lập ra tổ chức giáo hội mang tính chất phổ quát cho toàn đạo mà đi theo hướng xây dựng các giáo hội riêng rẽ, độc lập với những hình thức khác nhau theo từng hệ phái, từng quốc gia. Trong tổ chức giáo hội, các hệ phái Tin lành chủ trương giao quyền tự trị cho các giáo hội cơ sở, chi hội, các cấp giáo hội bên trên hình thành phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cho phép. Giáo hội Tin lành không cấu thành bởi các vị giáo sĩ một cách cố định như Công giáo mà cả tín đồ, giáo sĩ tham gia thông qua bầu cử một cách dân chủ…

 Nhìn chung, có thể thấy sự cải cách của Tin lành về cách thức hành đạo cũng như tổ chức giáo hội chịu ảnh hưởng đậm nét của tư tưởng dân chủ và khuynh hướng tự do cá nhân, giảm thiểu và bớt đi sự linh thiêng về luật lệ, lễ nghi, cơ cấu tổ chức của đạo Công giáo. Sinh hoạt tôn giáo không lệ thuộc nhiều vào việc lễ bái, nơi thờ tự, chức sắc… Người ta khó có thể đánh giá mức độ và nhu cầu tín ngưỡng của tín đồ Tin lành qua việc họ có đến nhà thờ tham dự các sinh hoạt tôn giáo hay không. Đối với tín đồ Tin lành, nếu có đức tin thì ở tại gia đình với quyển kinh thánh, họ có thể chu toàn bổn phận của một tín đồ. 

Với lối sống đạo nhẹ nhàng đơn giản, không rườm rà và ràng buộc khắt khe như đạo Công giáo, lại đề cao tinh thần dân chủ trong các hoạt động về tổ chức nên đạo Tin lành là một tôn giáo có màu sắc mới mẻ, thích hợp với lối sống của giai cấp tư sản, tiểu tư sản, công chức thị dân nói chung trong xã hội công nghiệp. Ngày nay, người ta dễ dàng nhận thấy những nước có nền công nghiệp tiên tiến là những nước có đông người theo đạo Tin lành như Thụy Điển, Nauy, Đan Mạch, Đức, Anh, Hà Lan, Mỹ…

Bên cạnh đó, cũng có thể  nhận thấy rằng  Tin lành ra đời khi các tôn giáo lớn đã tạo được nhiều hình ảnh ở những địa bàn nhất định. Ví dụ như Phật giáo ở Châu Á, Công giáo ở Châu Âu, Hồi giáo ở Trung cận đông… Trước thực tế đó, Tin lành một mặt nỗ lực lôi kéo Công giáo ở Châu Âu, mặt khác tìm đến vùng xa xôi hẻo lánh để phát triển đạo. Ở những vùng này, đạo Tin lành không chỉ khai thác lợi thế là một tôn giáo có lối sống đạo đơn giản, đề cao dân chủ và vai trò cá nhân mà còn nghiên cứu rất kỹ đặc điểm văn hoá tâm lý, lối sống của từng dân tộc ở những vùng này để có phương thức phù hợp. Đặc biệt những nơi có phong tục tập quán lạc hậu, Tin lành xuất hiện với những điều mới lạ và tiến bộ lôi kéo người tin theo và trong những trường hợp đó đạo Tin lành phát triển rất nhanh. Vậy đối tượng tín đồ của Đạo Tin lành ngoài tầng lớp trí thức thị dân còn là dân tộc thiểu số.

Mặc dù được đánh giá là một tôn giáo “tiến bộ”, “năng động” và dễ thích nghi nhưng vì đạo Tin lành đề cao vai trò của kinh thánh, thậm chí có một số hệ phái Tin lành tỏ ra rất bảo thủ, không chấp nhận những điều gì trái với kinh thánh nên dẫn đến sự phản ứng đối kháng với văn hoá tín ngưỡng truyền thống của các tín đồ ở những nơi đạo Tin lành truyền bá.

2. Đạo Tin lành ở Việt Nam

2.1. Đặc điểm lịch sử

Với những đặc điểm riêng về địa lý, lịch sử, văn hoá, dân cư… Việt Nam là một quốc gia có nhiều tôn giáo và loại hình tín ngưỡng. Trước khi đạo Tin lành được truyền vào, Việt Nam đã có các tôn giáo lớn như Phật giáo, Lão giáo, Công giáo. Đạo Tin lành có mặt ở  Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XIX do tổ chức Tin lành Liên hiệp phúc âm và truyền giáo Mỹ (CMA) truyền vào. Tổ chức này đã cử nhiều mục sư sang Việt Nam để tìm hiểu và thăm dò: Mục sư Tiến sĩ A.B Sumpsm (1887); D.Leclacher (1893); C.H Reves (1897); R.A Jaffray (1899); S.Dayan (1901)… Đến năm 1911, CMA đã cử R.A.Jaffray, Paul.M.Husel, G.LoyHugher đến Đà Nẵng lập Hội thánh đầu tiên. Đây là sự kiện đánh dấu mốc cho sự truyền bá đạo Tin lành vào Việt Nam. Từ cơ sở ở Đà Nẵng, các giáo sĩ hội truyền giáo mở thêm một số cơ sở khác ở những vùng lân cận như: Hội An, Tam kỳ, Đại Lộc… và cử người dân đi truyền đạo ở Bắc kỳ và Nam kỳ với các hoạt động chủ yếu là: dịch kinh thánh, lập nhà in và mở trường đào tạo mục sư truyền đạo.

Tuy nhiên, chính quyền Pháp ở Việt Nam không ưa đạo Tin lành, họ lo ngại ảnh hưởng của Mỹ thông qua việc phát triển đạo Tin lành. Do đó đạo Tin lành trong thời kỳ này hoạt động rất khó khăn. Khi chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra, thực dân Pháp cho rằng các giáo sĩ Tin lành làm gián điệp cho Đức nên đã ra lệnh đóng cửa nhà thờ Tin lành và cấm các giáo sĩ Tin lành hoạt động. Ngoài ra người Pháp còn dựa vào Hoà ước 6/6/1884 chỉ cho phép Thiên chúa giáo được truyền bá vào Việt Nam. Toàn quyền Đông dương đã cho đóng cửa nhà thờ, trục xuất giáo sỹ truyền giáo CMA. Phải tới năm 1927, khi phong trào dân chủ Pháp lên cao thì những lệnh cấm này mới được huỷ bỏ. Thế nhưng trong sự cấm đoán đó, đạo Tin lành vẫn tìm mọi cách để phát triển. Tới năm 1918, CMA đã lập được 5 chi hội ở Bắc kỳ, 6 chi hội ở Trung kỳ và 5 chi hội ở Nam kỳ. Tất cả các chi hội Tin lành lúc đó đều được giấy phép hoạt động cả của khâm sứ 3 kỳ và đều lấy tên là : “Hội thánh Tin lành Đông Pháp” (MEI).          

Từ năm 1924 đến năm 1927, đã có 4 Đại hội đồng của Đạo Tin lành được tổ chức. Đại hội đồng lần thứ IV ở Đà Nẵng đã bầu ra Ban Trị sự Tổng liên Hội thánh Tin lành Việt Nam do mục sư Hoàng Trọng Thừa làm Hội trưởng đầu tiên.

Trong thời kỳ chiến tranh Thế giới thứ 2, phát xít Nhật vào Đông Dương, tình hình chính trị xã hội phức tạp, Uỷ ban truyền giáo của CMA New York đã có lệnh triệu hồi tất cả các giáo sĩ rời Đông Dương. Hội thánh Tin lành Việt Nam rơi vào tình trạng suy thoái, các sinh hoạt tín ngưỡng của tín đồ cũng bị xáo trộn. Chiến tranh kết thúc, các giáo sĩ trở lại Việt Nam và các sinh hoạt của đạo Tin lành ở cả 3 miền được phục hồi.

Trải qua một quá trình truyền bá và phát triển, đến năm 1954, đạo Tin lành có khoảng 60.000 tín đồ với gần 100 mục sư truyền đạo. Trụ sở chung của giáo hội Tin lành Việt Nam được đặt tại Hà nội.

Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), đạo Tin lành ở hai miền Nam – Bắc có sự khác nhau. Ở Miền Bắc số đông tín đồ giáo sĩ bị đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch kích động nên đã di cư vào Nam. Những người ở lại miền Bắc đã lập tổ chức giáo hội riêng lấy tên gọi là Hội thánh Tin lành Việt Nam thường gọi là Tổng hội Tin lành miền Bắc với những hoạt động bình thường, phạm vi ảnh hưởng không lớn, số lượng tín đồ cũng tăng một cách không đáng kể. Ở miền Nam, những năm 1954 – 1975, lợi dụng cuộc chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ, CMA đã lập ra Tổng liên hội thánh Tin lành Việt Nam thường gọi là Hội thánh Tin lành Việt Nam.

Giai đoạn này, đạo Tin lành ở miền Nam phát triển mạnh mẽ. Tin lành ra sức củng cố, mở rộng hệ thống tổ chức cơ sở tôn giáo, các cơ sở kinh tế văn hoá xã hội, mở rộng phạm vi truyền đạo ra nhiều địa bàn, nhất là ở Tây Nguyên. Hội thánh Tin lành miền Nam đã cho tách riêng hai “hạt” vùng dân tộc ít người ra khỏi người Kinh và lập ra “cơ quan truyền giáo người Thượng” dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các giáo sĩ Tin lành Mỹ, đồng thời, mở cửa cho các hệ phái Tin lành, các tổ chức xã hội văn hoá, nhân đạo, từ thiện của Mỹ vào truyền đạo và xây dựng cơ sở khắp miền Nam. Hội thánh Tin lành miền Nam rất chú trọng đào tạo mục sư và truyền đạo, nâng “Trường kinh thánh” thành “Viện kinh thánh thần học” toàn miền Nam, đầu tư mở hai trường kinh thánh trung cấp cho Tây nguyên. Hội thánh Tin lành còn đưa nhiều mục sư và truyền đạo ra nước ngoài đào tạo. Giáo hội Tin lành đã thành lập hệ thống tuyên uý trong quân đội nguỵ từ Bộ Tổng tham mưu đến quân đoàn, quân khu và những đơn vị đặc biệt. Họ đã tuyển chọn và đưa gần 100 mục sư và truyền đạo vào ngụy quân.

Bên cạnh CMA, ở miền Nam còn có hệ phái Tin lành cũng từ Mỹ du nhập vào từ những năm 30 của thế kỷ XX, phát triển chủ yếu sau những năm 50, đó là phái Cơ đốc Phục lâm. Đây là phái lớn thứ hai sau CMA, có hệ thống giáo hội với hơn 10.000 tín đồ, gần 40 mục sư, 34 nhà thờ và một số cơ sở tôn giáo xã hội khác. Hội thánh cơ đốc Phục lâm còn có hơn 20 hệ phái vào truyền giáo và xây dựng cơ sở ở miền Nam như: Baptism, Pentecostim (Ngũ tuần), (Nhân chứng Giêhôva), Jehovah’s Witnesses…

Sau 1975, đất nước được hoà bình thống nhất, giáo sĩ người nước ngoài rút khỏi Việt Nam, một số giáo sỹ người Việt di tản, phạm vi và mức độ hoạt động của đạo Tin lành ở miền Nam thu hẹp lại. Hội thánh Tin lành Miền Nam còn khoảng 450 giáo sĩ, 487 nhà thờ. Các hoạt động của đạo Tin lành ở hai miền Nam Bắc vẫn tiếp tục phát triển tới năm 1990 đã có 300.000 người theo đạo Tin lành.

Những thập kỷ gần đây, các giáo phái Tin lành đã đẩy mạnh hoạt động như phục hồi các hình thức tôn giáo, phát triển tín đồ, củng cố giáo hội… Nhiều hoạt động như vận động lập lại các tổ chức cũ, quan hệ với bên ngoài… Cơ quan cứu trợ và phát triển Cơ đốc Phục lâm gần đây có thực hiện một số dự án viện trợ  nhân đạo trong lĩnh vực y tế, giáo dục, thuỷ lợi, ngư nghiệp…

Điểm lại diễn biến 100 năm đạo Tin lành vào Việt Nam, chúng ta có thể ghi nhận rằng quá trình này chịu sự tác động quá lớn của các sự kiện chính trị xã hội, nhất là khi đất nước bị chia cắt. Hội thánh Tin lành Việt Nam ngay từ đầu là một tổ chức chung nhưng sau đó lại bị chia rẽ  bởi hai tổ chức giáo hội ở hai miền với những tính chất chính trị và quy mô khác nhau. Tuy vậy, đạo Tin lành đã có cơ sở trong quần chúng ở nhiều vùng trên đất nước ta, thực tế hiện nay đã có khoảng hơn 1,2 triệu tín đồ. Đặc biệt là khoảng 10 năm trở lại đây, đạo Tin lành phát triển đột biến ở Tây Nguyên, Tây Bắc và một số vùng dân tộc thiểu số khác đang đặt ra một số vấn đề nhạy cảm, phức tạp cần được giải quyết, tháo gỡ.

2.2. Một số vấn đề đặt ra hiện nay

Có thể thấy đạo Tin lành là vấn đề nổi trội đột xuất trong các vấn đề tôn giáo ở Việt Nam.Sự hiện diện của cộng đồng Tin lành ở Việt Nam gần đây đã trở nên những điểm nóng khá phức tạp, nhạy cảm.

Trước hết đó là sự va chạm, xung đột với các tập tục gia đình, xã hội, tín ngưỡng cổ truyền và các tôn giáo khác ở Việt Nam. Đối với mỗi người Việt Nam, thờ cúng ông bà, tổ tiên, thành hoàng và những người có công với làng, nước… là sự thiêng liêng, thậm chí đã thành tiêu chí hàng đầu về đạo đức của mỗi thành viên trong gia đình, họ tộc, làng xóm. Những tập tục xuất phát từ trong  nghi lễ chịu ảnh hưởng của Nho giáo, thể hiện lòng hiếu thảo của con cái đối với ông bà, cha mẹ như giỗ chạp, ma chay, cưới xin đã góp phần vào nết đẹp văn hoá mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Trong khi đó, đạo Tin lành là một tôn giáo độc thần, chỉ thờ phụng một đức Chúa Trời duy nhất. Tin lành vốn chủ trương triệt để phản đối việc thờ tranh ảnh, tượng thánh và nâng lên một bước nữa là chống lại việc thờ hình tượng. Điều kiện để trở thành tín đồ chính thức của đạo Tin lành là: không dự vào việc hương hoả, cúng cấp cùng các sự dị đoan, không nên dùng hoặc buôn bán các vật không hợp với tôn chỉ của đạo Tin lành như: thuốc phiện, rượu, các vật phẩm thờ cúng hình tượng.

Đạo Tin lành còn có những lí lẽ biện giải để chống đối với các tập tục gia đinh, tín ngưỡng cổ truyền như: Các ông thờ lạy tổ tiên được mấy đời? Thờ trong nhà chẳng qua được hai, ba, đời; thờ trong họ chẳng qua được đôi mươi đời, trước đôi mươi đời há không phải tổ tông xa nữa sao? Cho nên chúng tôi chỉ thờ một mình đức chúa Trời là tổ tông của chúng ta. Khi Tin lành du nhập vào Việt Nam, các nhà truyền giáo đã ra sức bài bác, tuyên chiến với hệ thống tín ngưỡng của người Việt như: xem địa lí,chọn ngày, thờ thổ công, thờ bà chúa Liễu Hạnh…

Vậy, cùng với sự phát triển của đạo Tin lành là sự thay đổi lối sống, tâm lý, tình cảm, sự phân giới về xã hội, văn hoá, tín ngưỡng  dân tộc.  Nó cũng tạo nên sự chia rẽ trong nội bộ gia đình, dòng họ, lưu tồn định kiến hoài nghi cộng sản, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và  nghiêm trọng hơn là các tín đồ Tin lành dễ bị các phần tử xấu lôi kéo chống đối chính quyền, nổi loạn….Đây quả thật là những thách đố đối với chúng ta.

Hơn nữa, hiện nay các thế lực thù địch và lực lượng chống đối muốn thông qua đạo Tin lành để thực hành chủ nghĩa li khai, giải lãnh thổ. Ở Việt Nam, điều này đã trở thành hiện thực khi người ta thấy Tin lành lan toả một cách nhanh chóng ở những vùng đất “phên dậu” của tổ quốc: miền núi phía Bắc, Tây Nguyên..

Đặc biệt, sự phát triển của đạo Tin lành trong các đồng bào dân tộc thiểu ở Tây Nguyên vừa là hệ quả vừa là tác nhân của những diễn biến chính trị phức tạp trên địa bàn này thời gian gần đây. Đạo Tin lành có mặt ở Tây nguyên từ những thập kỷ 20 của thế kỷ trước, kể từ đó, nó đã kiên trì, bền bỉ chiếm cả không gian, xã hội cao nguyên, xâm thực vào buôn làng, văn hoá truyền thống và thâm nhập vào các nhóm xã hội mới xuất hiện theo đà chuyển đổi của nền kinh tế theo hướng thị trường hoá. Thí dụ: nhà thờ Tin lành thay thế cho nhà Rông trong việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cộng đồng của con người Tây nguyên. Lễ Noen, Phục sinh thay thế cho lễ Cơm mới, lễ Năm mới cổ truyền…

Số lượng tín đồ của đạo Tin lành ở vùng đất đỏ ba gian này ngày càng gia tăng và luôn chiếm ½ số tín đồ Tin lành cả nước. Các thế lực thù địch trên cơ sở này luôn ra sức kích thích, nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, biệt lập li khai trong một bộ phận tầng lớp trên của các dân tộc Tây Nguyên, đồng thời lôi kéo các lực lượng này vào các phong trào bạo loạn nhằm khuynh đảo thể chế chính trị ở nước ta.

Hiện nay hùa theo chiến dịch: nhân quyền và tự do tôn giáo của chính giới Mỹ, Ksorkơk và các phần tử chính trị phản động gốc Tây Nguyên lưu vong ở Mỹ cho ra đời cái gọi là “Hội thánh Tin lành Đềga”, đòi lập nhà nước Đềga  của người Thượng. Đây là một chiêu thức lưu manh chính trị nguy hiểm lôi kéo một số tín đồ không nhỏ của Hội thánh Tin lành miền Nam, tạo nên một vụ áp phe chính trị đội lốt tôn giáo vào đầu năm 2001 và năm 2004.

Vấn đề đạo Tin lành hiện nay vẫn còn là một chủ đề “chứa chất nhiều tiềm năng” đối với các thế lực thù địch Việt Nam và các phần tử cơ hội chủ nghĩa trong chính giới Mỹ để họ khai thác trong các chiến dịch nhân quyền và tự do tôn giáo.

Với tinh thần đảm bảo và tôn trọng quyền phát triển tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân, nhà nước Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc giải quyết các vấn đề tôn giáo, đặc biệt là đối với đạo Tin lành. Nhà nước Việt Nam đã công nhận tư cách pháp nhân của Tổng Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) từ năm 1958 và Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) từ đầu năm 2001. Vậy có nghĩa là chúng ta thừa nhận sự tồn tại khách quan của đạo Tin lành ở Việt Nam, từng bước đưa đạo Tin lành vào thể chế luật pháp tôn giáo để khai thác những mặt tích cực, nhưng kiên quyết ngăn chặn chống lại bất cứ một nhóm người nào lợi dụng đạo Tin lành để phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàn dân làm hại đến nền văn hoá lành mạnh của dân tộc.

Là một tôn giáo lớn trên thế giới, đạo Tin lành đã có mặt  ở Việt Nam hơn 100 năm. Trong quá trình tồn tại và phát triển ở Việt Nam, Tin lành đã chọn lựa các hình thức hoạt động mềm dẻo, giáo lí và lễ nghi được đơn giản hoá, quần chúng hoá, ở nhiều nơi đã thích nghi dễ dàng với phong tục tập quán của người địa phương, số lượng tín đồ đạo Tin lành ngày càng gia tăng. Điều cốt yếu là tín đồ đạo Tin lành không tách rời với điều kiện lịch sử mới, tìm được nhiều phương sách đúng đắn để hoà nhập trong cộng đồng dân tộc, không đi ngược lại lợi ích của dân tộc. Chúng ta có quyền hy vọng vào một cộng đồng Tin lành ở Việt Nam “kính chúa, yêu nước” “sống phúc âm…” như đường hướng hoạt động của Hội thánh Tin lành miền Bắc và miền Nam đề ra.

_____________________________

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Xuân Hùng, Về nguồn gốc và sự xuất hiện tên gọi đạo Tin lành tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Số 3, 2001.

 2. Nguyễn Xuân Hùng, Tìm hiểu những hệ quả của việc truyền giáo Tin lành đối với văn hoá truyền thống và tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Số 1, 2001.

3. Phạm Đăng Hiển, Góp một góc nhìn về vấn đề đạo Tin lành ở Tây nguyên, Tạp chí Dân tộc học, Số 5, 2003.

4. Nguyễn Thanh Xuân, Bước đầu tìm hiểu đạo Tin lành trên thế giới và ở Việt Nam, NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2002.

5. Nguyễn Văn Trung, Một số hiểu biết về tôn giáo ở Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993.