ANH # CÓ NUỐT LỜI?

Lâm Trực

Vào mạng đọc báo, thấy chuyện lạ.

Chuyện rằng, Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đã hứa sẽ thưởng cho đơn vị thi công Dự án 3B đường vành đai 3 nếu đơn vị này vượt chỉ tiêu về thời gian và đảm bảo chất lượng công trình. Nhưng đến nay, công trinh đã hoàn thành vượt tiến độ thời gian, thì ông Bộ trưởng lại lặn mất tăm. 

Cấp dưới nói là không hay, không biết và vân vân.

Trong cuộc họp bất thường diễn ra vào tháng 1/2012, Tổng GĐ Tổng Cty xây dựng Thăng Long Phan Quốc Hiếu và Tổng GĐ Tổng Cty Xây dựng Công trình Giao thông 8 Vũ Hải Thanh cùng cam kết nếu công trình không về đích sớm 5 tháng sẽ nộp đơn xin thôi việc.


Đồng thời, ông Phan Quốc Hiếu cũng đã đề xuất 2 điều kiện với Bộ trưởng. Một là, cho ứng thêm 10% tiền nữa. Hai là, cho thưởng tiến độ để lấy tiền huy động máy móc, thiết bị. Ngay sau đó, những yêu cầu của Tổng GĐ Tổng Cty xây dựng Thăng Long được đáp ứng. Ngày 11/6, trao đổi với báo chí, hai tổng GĐ dám cược chức vụ của mình với Bộ trưởng GTVT thi công hoàn thành trước 6 tháng cho biết tiến độ thậm chí về đích trước 10 ngày và “tiền thưởng hàng chục tỷ đồng trong tầm tay”.



Vậy mà…Chỉ là lời hứa thôi mà.

Advertisements

ĐÀN BÀ TÂY NGUYÊN, ĐẾN RỒI BIẾT…

Văn Công Hùng

Bài này tôi viết theo đặt hàng của một tờ báo, tất nhiên là cho ngày tám tháng ba, một trong những ngày “vĩ đại” đối với cả thế giới. Thôi thì chả làm sao cám ơn và bày tỏ được hết, tôi post bài này nhân hôm nay là Vu Lan như một lời chia sẻ, cảm ơn và cảm phục của tôi đối với các bà, các mẹ, các chị, các em, các cháu…


          Hồi mới lên Tây Nguyên, ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi là giữa ánh hoàng hôn chạng vạng, từng đoàn phụ nữ đeo gùi lầm lũi đi hàng dọc trong chiều. Nhiều nhà nhiếp ảnh đã “ăn” những cái ảnh rất đẹp về hình tượng này. Không gian mênh mông thoáng đãng, những con đường tít tắp mờ chân trời, chân trần da nâu lẳn chắc, cái dáng cong về phía trước của phụ nữ Tây Nguyên nó gợi vô cùng. Chưa kể còn váy, áo ló hở vai, thậm chí là ngực trần.  Cặp vú trinh nữ cong vút như sừng dê non, nâu bóng hiên ngang chĩa vào chiều làm khối chàng đau mắt, nhiều người bị tai nạn giao thông. Mà trong cái gùi ấy không nhẹ đâu nhé. Khi thì củi, lúc thức ăn, có thể là lúa, là nước, những bầu nước suối xếp đầy và thường là đi ngược dốc, ngược nắng… nó tạo cho tôi ấn tượng về người phụ nữ Tây Nguyên gắn với… gùi. Nó đẹp nhưng buồn, cái buồn lặng lẽ cam chịu, một chút hoang vắng, một chút cô đơn, một chút nhẫn nhục…

          Ở lâu tôi mới phát hiện, làm đàn ông Tây Nguyên sướng thật. Chế độ mẫu hệ dẫu có mất “quyền làm chủ” một tí, nhưng sướng lắm. Này nhé, sáng sớm các lão chồng đang ngủ pho pho thì các bà vợ đã lặng lẽ dậy, sau khi đẩy củi vào cho bếp liu riu thêm để “chồng yêu” ngủ nướng khỏi lạnh, các bà nhặt các quả bầu khô nước xếp vào gùi xuống suối lấy nước. Làng nào gần suối còn đỡ, có làng như làng người Xê Đăng chẳng hạn, chuyên môn ở trên triền núi cao, đường xuống suối thăm thẳm và dốc ngược, trơn nhẫy. Gùi nước về xếp vào sàn thì giã gạo. Thường người Tây Nguyên ăn ngày nào giã gạo ngày ấy. Giã xong thì nấu cơm. Trong lúc chờ cơm chín thì cho lợn gà ăn. Cơm chín thì vào lay chồng con dậy, ăn xong vào rẫy thì chồng phì phèo thuốc, vác mỗi con dao đi trước với con chó véo von hát. Vợ địu con trước ngực, gùi sau lưng, tay dắt đứa lẫm chẫm vừa đi vừa chạy cho kịp chồng. Đứa trẻ được địu sau lưng có kiểu bú rất lạ: nhổm qua vai để bú, lâu dần nó không cần nhổm mà chỉ vươn tay ra phía trước là tóm được vú vắt ngược vai mẹ cho vào mồm.

          Sướng nhất là… nối dây. Vợ chẳng may mệnh hệ nào thì lập tức họ hàng nhà vợ họp lại, chọn ra một người, phần lớn là em, cháu vợ, làm vợ nối dây cho anh chồng tội nghiệp kia. Anh này chỉ được một quyền duy nhất là… chấp nhận. Tôi biết nhà văn Nguyễn Ngọc Ký cũng được… nối dây kiểu này, nhưng ở người Kinh thì hình như đây là trường hợp độc nhất, còn ở chế độ mẫu hệ Tây Nguyên, đây là việc đương nhiên. Chúng ta chắc có người đọc có người nghe tiểu thuyết “Đất nước đứng lên” của nhà văn Nguyên Ngọc, trong tiểu thuyết có nhân vật H’Liêu là vợ Núp. Bà này bị chết khi Núp bắt đầu tập kết. Ra Hà Nội ông lấy vợ khác là nghệ sĩ H”ben, rồi bỏ, sau này khi về lại Gia Lai, ông nối dây lại với bà Ch’rơ, em ruột H’Liêu, và sống với bà này cho đến những ngày cuối đời.

          Nhưng có lẽ nhờ truyền thống mẫu hệ ấy mà Tây Nguyên cũng xuất hiện những phụ nữ tuyệt vời. Đấy là một chị H’noanh ở làng Bạc, xã Ia Phìn, huyện Chư Prông. Trong chiến tranh chống Mỹ, chị là trung đội trưởng du kích, đánh hàng trăm trận đến nỗi bọn Mỹ ngụy nghe đến tên là khiếp đảm. Chồng chị cũng là du kích, và anh đã hy sinh trong một trận chống càn. Theo phong tục, chị nối dây với chú em chồng, cũng đang là chiến sĩ du kích trong trung đội của chị. Rồi anh này cũng hy sinh. Hai anh hy sinh để lại cho chị hai đứa con và bà mẹ chồng. Chị tiếp tục nuôi con, đánh giặc và nuôi mẹ chồng. Sau giải phóng, chị nhường hết hai suất tiêu chuẩn liệt sĩ cho mẹ chồng, còn mình làm rẫy nuôi con và làm chủ tịch phụ nữ xã. Chị sống giản dị đến mức kinh ngạc. Chúng tôi đã nhiều lần vào thăm chị, vài lần thắc mắc tại sao chị không được phong anh hùng? Nhưng chị thì không quan tâm…

          Bà Y Một, rồi bà Y Vêng, nguyên phó bí thư và bí thư tỉnh ủy tỉnh Kon Tum cũng là những nhân vật phụ nữ Tây Nguyên kiệt xuất. Các bà phụ nữ là người dân tộc thiểu số làm đến bí thư, phó Bí thư tỉnh ủy ở nước ta không nhiều. Ở phía bắc thì có bà Tòng Thị Phóng, Hà Thị Khiết, ở Tây Nguyên thì bà Một bà Vêng- Bà  Y Một còn làm đến phó chủ tịch quốc hội, Ủy viên dự khuyết trung ương Đảng. Trước đó, từ thời Tây Sơn tụ nghĩa, xuất hiện trong vai trò một thủ lĩnh có Yă Đố. Đấy là người đàn bà con của một tù trưởng người Bahnar vùng An Khê, được gả làm vợ ba của “người trời” Nguyễn Nhạc. Bà phụ trách toàn bộ việc quân lương và luyện voi. Bà đã biến vùng Tây Sơn thượng hoang sơ thành những cánh đồng trù phú được gọi là “đồng Cô Hầu” còn vết tích đến ngày nay. Ngày nay vẫn còn những bãi luyện voi, những vườn cam, vườn mít do chính bà chỉ huy làm nên để bổ sung lương thực cho nghĩa quân Tây Sơn. Và điều quan trọng là, cho đến bây giờ, trong lòng người dân vùng Tây Sơn thượng đạo, Yă Đố- cô Hầu- vợ ba của Nguyễn Nhạc vẫn còn sống mãi, hầu như không ai ở vùng này là không biết tên và công đức của bà.

          Vai trò các già làng ở Tây Nguyên là rất quan trọng. Cũng chả hiểu sao mà ở chế độ mẫu hệ nhưng hàng mấy trăm năm qua, các già làng chỉ toàn là… đàn ông. Nó quen đến nỗi nói đến già làng ta hình dung ra một lão ông quắc thước, râu trắng như cước, da đỏ như son, ngậm tẩu, nghiêm nghị, thông minh… Già làng vừa là quyền uy, vừa là tri thức, lại vừa là tâm linh, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý để có thể xử tuốt các việc trong làng, từ lớn như quyết định dời làng lập làng, chiến tranh, cúng gọi mưa, cúng chống dịch bệnh, lý giải các giấc mơ… đến giải quyết các xích mích, cãi vã, ghen tuông, lợn gà… tóm lại phải là một người giỏi, ưu tú nhất trong cộng đồng, trong làng, thế mà gần đây ở Gia Lai đã có một… nữ già làng rất uy tín, nói dân làng nghe răm rắp. Bà là H’lâm ở xã Ia Mơr, huyện Chư Prông. Thực ra thì bà nguyên là thượng úy quân đội nghỉ hưu. Thời tuổi trẻ bà đã có hai năm được ra miền bắc ăn học rồi trở về quê đánh giặc. Hết giặc thì về làm dân và bà trở thành già làng chỉ vì không chịu nhìn thấy cảnh dân làng mình lạc hậu mông muội. Bà hướng dẫn nhân dân làm ăn, hướng dẫn dân làng cách sống mới, có vệ sinh và biết áp dụng các điều kiện sống mới vào cuộc sống của mình. Vì can thiệp vào các hủ tục mà đã vài lần bà suýt bị cộng đồng đuổi ra khỏi làng. Tất nhiên già làng bây giờ thì vai trò và quyền uy không còn như ngày xưa, vì còn có chính quyền và các đoàn thể, người dân cũng hiểu biết hơn chứ không như ngày xưa cái gì cũng hỏi già làng. Nhưng để được suy tôn như thế, từ xưa đến nay ở Tây Nguyên mới chỉ mình H’lâm là một…

          Còn về sắc đẹp của con gái Tây Nguyên thì…thôi chả kể nữa, các bạn có muốn tìm hiểu thì xin đọc Đăm San, Xing Nhã, và mới đây là Đăm Noi, các trường ca cổ. Mà đấy là thời cổ, chứ còn bây giờ á, thôi đến rồi biết…
                                                                             V.C.H


DSC06830[1].jpg
tạo dáng teen…

ANH # CÓ NUỐT LỜI?

Lâm Trực

Vào mạng đọc báo, thấy chuyện lạ.

Chuyện rằng, Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đã hứa sẽ thưởng cho đơn vị thi công Dự án 3B đường vành đai 3 nếu đơn vị này vượt chỉ tiêu về thời gian và đảm bảo chất lượng công trình. Nhưng đến nay, công trinh đã hoàn thành vượt tiến độ thời gian, thì ông Bộ trưởng lại lặn mất tăm. 

Cấp dưới nói là không hay, không biết và vân vân.

Trong cuộc họp bất thường diễn ra vào tháng 1/2012, Tổng GĐ Tổng Cty xây dựng Thăng Long Phan Quốc Hiếu và Tổng GĐ Tổng Cty Xây dựng Công trình Giao thông 8 Vũ Hải Thanh cùng cam kết nếu công trình không về đích sớm 5 tháng sẽ nộp đơn xin thôi việc.


Đồng thời, ông Phan Quốc Hiếu cũng đã đề xuất 2 điều kiện với Bộ trưởng. Một là, cho ứng thêm 10% tiền nữa. Hai là, cho thưởng tiến độ để lấy tiền huy động máy móc, thiết bị. Ngay sau đó, những yêu cầu của Tổng GĐ Tổng Cty xây dựng Thăng Long được đáp ứng. Ngày 11/6, trao đổi với báo chí, hai tổng GĐ dám cược chức vụ của mình với Bộ trưởng GTVT thi công hoàn thành trước 6 tháng cho biết tiến độ thậm chí về đích trước 10 ngày và “tiền thưởng hàng chục tỷ đồng trong tầm tay”.



Vậy mà…Chỉ là lời hứa thôi mà.

ĐÀN BÀ TÂY NGUYÊN, ĐẾN RỒI BIẾT…

Văn Công Hùng

Bài này tôi viết theo đặt hàng của một tờ báo, tất nhiên là cho ngày tám tháng ba, một trong những ngày “vĩ đại” đối với cả thế giới. Thôi thì chả làm sao cám ơn và bày tỏ được hết, tôi post bài này nhân hôm nay là Vu Lan như một lời chia sẻ, cảm ơn và cảm phục của tôi đối với các bà, các mẹ, các chị, các em, các cháu…


          Hồi mới lên Tây Nguyên, ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi là giữa ánh hoàng hôn chạng vạng, từng đoàn phụ nữ đeo gùi lầm lũi đi hàng dọc trong chiều. Nhiều nhà nhiếp ảnh đã “ăn” những cái ảnh rất đẹp về hình tượng này. Không gian mênh mông thoáng đãng, những con đường tít tắp mờ chân trời, chân trần da nâu lẳn chắc, cái dáng cong về phía trước của phụ nữ Tây Nguyên nó gợi vô cùng. Chưa kể còn váy, áo ló hở vai, thậm chí là ngực trần.  Cặp vú trinh nữ cong vút như sừng dê non, nâu bóng hiên ngang chĩa vào chiều làm khối chàng đau mắt, nhiều người bị tai nạn giao thông. Mà trong cái gùi ấy không nhẹ đâu nhé. Khi thì củi, lúc thức ăn, có thể là lúa, là nước, những bầu nước suối xếp đầy và thường là đi ngược dốc, ngược nắng… nó tạo cho tôi ấn tượng về người phụ nữ Tây Nguyên gắn với… gùi. Nó đẹp nhưng buồn, cái buồn lặng lẽ cam chịu, một chút hoang vắng, một chút cô đơn, một chút nhẫn nhục…

          Ở lâu tôi mới phát hiện, làm đàn ông Tây Nguyên sướng thật. Chế độ mẫu hệ dẫu có mất “quyền làm chủ” một tí, nhưng sướng lắm. Này nhé, sáng sớm các lão chồng đang ngủ pho pho thì các bà vợ đã lặng lẽ dậy, sau khi đẩy củi vào cho bếp liu riu thêm để “chồng yêu” ngủ nướng khỏi lạnh, các bà nhặt các quả bầu khô nước xếp vào gùi xuống suối lấy nước. Làng nào gần suối còn đỡ, có làng như làng người Xê Đăng chẳng hạn, chuyên môn ở trên triền núi cao, đường xuống suối thăm thẳm và dốc ngược, trơn nhẫy. Gùi nước về xếp vào sàn thì giã gạo. Thường người Tây Nguyên ăn ngày nào giã gạo ngày ấy. Giã xong thì nấu cơm. Trong lúc chờ cơm chín thì cho lợn gà ăn. Cơm chín thì vào lay chồng con dậy, ăn xong vào rẫy thì chồng phì phèo thuốc, vác mỗi con dao đi trước với con chó véo von hát. Vợ địu con trước ngực, gùi sau lưng, tay dắt đứa lẫm chẫm vừa đi vừa chạy cho kịp chồng. Đứa trẻ được địu sau lưng có kiểu bú rất lạ: nhổm qua vai để bú, lâu dần nó không cần nhổm mà chỉ vươn tay ra phía trước là tóm được vú vắt ngược vai mẹ cho vào mồm.

          Sướng nhất là… nối dây. Vợ chẳng may mệnh hệ nào thì lập tức họ hàng nhà vợ họp lại, chọn ra một người, phần lớn là em, cháu vợ, làm vợ nối dây cho anh chồng tội nghiệp kia. Anh này chỉ được một quyền duy nhất là… chấp nhận. Tôi biết nhà văn Nguyễn Ngọc Ký cũng được… nối dây kiểu này, nhưng ở người Kinh thì hình như đây là trường hợp độc nhất, còn ở chế độ mẫu hệ Tây Nguyên, đây là việc đương nhiên. Chúng ta chắc có người đọc có người nghe tiểu thuyết “Đất nước đứng lên” của nhà văn Nguyên Ngọc, trong tiểu thuyết có nhân vật H’Liêu là vợ Núp. Bà này bị chết khi Núp bắt đầu tập kết. Ra Hà Nội ông lấy vợ khác là nghệ sĩ H”ben, rồi bỏ, sau này khi về lại Gia Lai, ông nối dây lại với bà Ch’rơ, em ruột H’Liêu, và sống với bà này cho đến những ngày cuối đời.

          Nhưng có lẽ nhờ truyền thống mẫu hệ ấy mà Tây Nguyên cũng xuất hiện những phụ nữ tuyệt vời. Đấy là một chị H’noanh ở làng Bạc, xã Ia Phìn, huyện Chư Prông. Trong chiến tranh chống Mỹ, chị là trung đội trưởng du kích, đánh hàng trăm trận đến nỗi bọn Mỹ ngụy nghe đến tên là khiếp đảm. Chồng chị cũng là du kích, và anh đã hy sinh trong một trận chống càn. Theo phong tục, chị nối dây với chú em chồng, cũng đang là chiến sĩ du kích trong trung đội của chị. Rồi anh này cũng hy sinh. Hai anh hy sinh để lại cho chị hai đứa con và bà mẹ chồng. Chị tiếp tục nuôi con, đánh giặc và nuôi mẹ chồng. Sau giải phóng, chị nhường hết hai suất tiêu chuẩn liệt sĩ cho mẹ chồng, còn mình làm rẫy nuôi con và làm chủ tịch phụ nữ xã. Chị sống giản dị đến mức kinh ngạc. Chúng tôi đã nhiều lần vào thăm chị, vài lần thắc mắc tại sao chị không được phong anh hùng? Nhưng chị thì không quan tâm…

          Bà Y Một, rồi bà Y Vêng, nguyên phó bí thư và bí thư tỉnh ủy tỉnh Kon Tum cũng là những nhân vật phụ nữ Tây Nguyên kiệt xuất. Các bà phụ nữ là người dân tộc thiểu số làm đến bí thư, phó Bí thư tỉnh ủy ở nước ta không nhiều. Ở phía bắc thì có bà Tòng Thị Phóng, Hà Thị Khiết, ở Tây Nguyên thì bà Một bà Vêng- Bà  Y Một còn làm đến phó chủ tịch quốc hội, Ủy viên dự khuyết trung ương Đảng. Trước đó, từ thời Tây Sơn tụ nghĩa, xuất hiện trong vai trò một thủ lĩnh có Yă Đố. Đấy là người đàn bà con của một tù trưởng người Bahnar vùng An Khê, được gả làm vợ ba của “người trời” Nguyễn Nhạc. Bà phụ trách toàn bộ việc quân lương và luyện voi. Bà đã biến vùng Tây Sơn thượng hoang sơ thành những cánh đồng trù phú được gọi là “đồng Cô Hầu” còn vết tích đến ngày nay. Ngày nay vẫn còn những bãi luyện voi, những vườn cam, vườn mít do chính bà chỉ huy làm nên để bổ sung lương thực cho nghĩa quân Tây Sơn. Và điều quan trọng là, cho đến bây giờ, trong lòng người dân vùng Tây Sơn thượng đạo, Yă Đố- cô Hầu- vợ ba của Nguyễn Nhạc vẫn còn sống mãi, hầu như không ai ở vùng này là không biết tên và công đức của bà.

          Vai trò các già làng ở Tây Nguyên là rất quan trọng. Cũng chả hiểu sao mà ở chế độ mẫu hệ nhưng hàng mấy trăm năm qua, các già làng chỉ toàn là… đàn ông. Nó quen đến nỗi nói đến già làng ta hình dung ra một lão ông quắc thước, râu trắng như cước, da đỏ như son, ngậm tẩu, nghiêm nghị, thông minh… Già làng vừa là quyền uy, vừa là tri thức, lại vừa là tâm linh, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý để có thể xử tuốt các việc trong làng, từ lớn như quyết định dời làng lập làng, chiến tranh, cúng gọi mưa, cúng chống dịch bệnh, lý giải các giấc mơ… đến giải quyết các xích mích, cãi vã, ghen tuông, lợn gà… tóm lại phải là một người giỏi, ưu tú nhất trong cộng đồng, trong làng, thế mà gần đây ở Gia Lai đã có một… nữ già làng rất uy tín, nói dân làng nghe răm rắp. Bà là H’lâm ở xã Ia Mơr, huyện Chư Prông. Thực ra thì bà nguyên là thượng úy quân đội nghỉ hưu. Thời tuổi trẻ bà đã có hai năm được ra miền bắc ăn học rồi trở về quê đánh giặc. Hết giặc thì về làm dân và bà trở thành già làng chỉ vì không chịu nhìn thấy cảnh dân làng mình lạc hậu mông muội. Bà hướng dẫn nhân dân làm ăn, hướng dẫn dân làng cách sống mới, có vệ sinh và biết áp dụng các điều kiện sống mới vào cuộc sống của mình. Vì can thiệp vào các hủ tục mà đã vài lần bà suýt bị cộng đồng đuổi ra khỏi làng. Tất nhiên già làng bây giờ thì vai trò và quyền uy không còn như ngày xưa, vì còn có chính quyền và các đoàn thể, người dân cũng hiểu biết hơn chứ không như ngày xưa cái gì cũng hỏi già làng. Nhưng để được suy tôn như thế, từ xưa đến nay ở Tây Nguyên mới chỉ mình H’lâm là một…

          Còn về sắc đẹp của con gái Tây Nguyên thì…thôi chả kể nữa, các bạn có muốn tìm hiểu thì xin đọc Đăm San, Xing Nhã, và mới đây là Đăm Noi, các trường ca cổ. Mà đấy là thời cổ, chứ còn bây giờ á, thôi đến rồi biết…
                                                                             V.C.H


DSC06830[1].jpg
tạo dáng teen…

“Nó có đẻ ra chúng mày đâu mà gọi là mẹ”

Lâm Trực

Đọc bài báo này thấy thương chị Miền kinh khủng. Xin đăng lại để mọi người cùng suy ngẫm.

“Bố mẹ chồng cứ bảo với bọn trẻ: “Nó có đẻ ra chúng mày đâu mà gọi nó là Mẹ. Mẹ chúng mày trên bàn thờ kia kìa” – chị Trần Thị Miền (50 tuổi  Xuân Hòa – Vũ Thư – Thái Bình) nhớ lại những ngày đã qua, rơi nước mắt.
Định bỏ chạy nhiều lần…
“Bố tôi cưới được mẹ Miền là một điều may mắn, gia đình tôi trở thành gánh nặng trên vai mẹ. Nếu không về với bố, chắc mẹ đã có một cuộc sống sung sướng, an nhàn hơn. Chẳng biết bao nhiêu quả ngọt vào ai mà đắng chát cứ theo mẹ từng ngày. Tôi thương mẹ nhiều hơn những gì tôi nói ra và hơn cả những điều ít ỏi tôi đã làm được cho mẹ – Đinh Văn Dũng (con trai anh Đinh Văn Dụng – chồng chị Miền) nói về người mẹ ghẻ của mình.

Còn chị Miền thì bảo ngay từ đầu nếu anh Dụng không đưa chị đi đăng ký kết hôn thì chắc là chị đã bỏ chạy mất. Ngày mới về nhà thấy hai đứa con chồng, đứa lên 5, đứa lên 3 nheo nhóc, ăn cơm thì không mâm, không bát đĩa, chỉ mỗi cái thìa xới thẳng từ nồi, nền nhà đất thì lồi lõm ổ voi ổ gà, bố mẹ chồng trái tính, khó chiều, nhà thì có mà cửa thì không. Đêm đến hai đứa con chồng với vợ chồng mới cưới nằm chung một chiếc giường chật hẹp… “Tôi nghĩ và chán nản vô cùng”.

Chị Miền chăm sóc mẹ chồng
Bà Hoạt (thím của anh Dụng) cho biết: Nó về làm dâu nhà này khổ lắm, lại mang tiếng dì ghẻ. Làm quần quật ngày đêm để có tiền trả mấy khoản nợ cũ cho gia đình, cả tiền thắp điện từ năm 1993 mà mãi đến 1997 nó vẫn phải làm mà trả. Khổ thân.

“Ngày mới về nhà, hai đứa con cứ chạy theo gọi tôi bằng Mẹ. Bố mẹ chồng cứ bảo với chúng: “Nó có đẻ ra chúng mày đâu mà gọi nó là Mẹ. Mẹ chúng mày trên bàn thờ kia kìa. Chúng nó nào biết gì đâu, đến nỗi mỗi khi ra mộ chị cả thắp hương, hai đứa còn vạch quần đái lên trên mộ. Thế rồi nghe lời ông bà, hai đứa cứ xưng hô trống không. Mãi cho đến khi lên 8 lên 10, chúng mới lại gọi Mẹ, tôi mừng đến rớt nước mắt” – chị Miền tâm sự.

Tủi phận làm mẹ nghịch tử

Đinh Thế Hùng và Đinh Văn Dũng – hai người con chồng tranh nhau kể lại những ngày tháng ham chơi, ngỗ nghịch khiến mẹ Miền lo lắng, muộn phiền: “Bọn tôi toàn trốn học đi đánh nhau với bạn. Có lần người ta lùng đến tận nhà, đòi mẹ đền 5 triệu, không thì sẽ tìm giết bọn tôi. Hai anh em trốn trong nhà mấy ngày liền không dám ló mặt ra đường, cũng không đến lớp học. Mẹ chạy vạy kì đủ 5 triệu mang đến cho người ta để cứu chúng tôi.


Chị Miền ứa nước mắt nhớ lại ngày đầu về làm mẹ ghẻ của hai đứa con chồng


Lên lớp, chúng tôi đùa nghịch với bạn rồi đập vỡ lọ hoa, sọt rác, thiết bị của lớp. Đến mỗi kỳ họp phụ huynh, cô giáo đều phê bình “con mẹ” và bắt phải đóng tiền bồi thường. Có hôm đến bữa cơm, bố hỏi mẹ, kết quả học tập của hai con thế nào, mẹ bưng bát cơm mà nước mắt chảy dài, không nói một lời nặng. Bố biết ý nên thôi, nói lảng chuyện khác.

Ở cái xóm Cự Lâm này, chắc chưa ai ngỗ nghịch như anh em nhà tôi, thế mà chẳng bao giờ bị mẹ mắng. Mẹ chỉ nhẹ nhàng kể những câu chuyện để khuyên hai anh em. Nhưng chúng tôi cứ bỏ ngoài tai. Đêm, mẹ lại khóc nhiều hơn. Bây giờ, tôi mới kịp hiểu những dòng nước mắt ấy chua chát đến chừng nào.

Bố tôi tính hay keo kiệt, mỗi khi biết mẹ đi chợ mua quà bánh cho hai anh em tôi là bố lại mắng mẹ. Còn anh em tôi được kẹo thì sung sướng lắm, mặc kệ không quan tâm mẹ bị mắng hay không. Nhiều lần mẹ mua bánh quy đưa cho hai anh em rồi bảo chạy ra chỗ khác mà ăn, đừng để bố thấy bố lại mắng. Nghĩ lại ngày ấy mà thương mẹ bội phần. Mẹ nào đã dám sắm cho mình một cái khăn mặt mới, toàn chắt chiu miếng ngon, quần áo đẹp cho hai anh em tôi”.

Không phải mong được bù đắp

Ông Đỗ Văn Khương, trưởng thôn Cự Lâm cho biết: Người như chị Miền hiếm lắm. Phải nói là chị ấy quá nghị lực và bản lĩnh khi dạy dỗ hai đứa con trăm đường ngỗ nghịch giờ khôn lớn nên người. Làm tròn bổn phận dâu con với gia đình anh Dụng đã khó, làm mẹ của hai đứa con chồng càng khó hơn.


Ba đứa con chị Miền giờ đã khôn lớn. Cứ mỗi cuối tuần, các con đi làm, đi học xa về nhà quây quần, chuyện trò bên mâm cơm, chị Miền lại thấy ấm lòng. Ba anh em thương yêu nhau, không phân biệt con mẹ con cha.

Chị kể: mỗi khi về nhà, hai đứa lớn đều không quên mua kẹo, mua dây nơ đẹp cho em gái cài tóc. Chị cười: “Thằng Dũng đi sang nhà bạn gái chơi cũng kì kèo con Hạnh đi cùng cho bằng được”.

Cuộc sống gia đình bây giờ khá giả hơn nhưng chị vẫn chịu khó làm lụng ngày đêm vì còn các con đang tuổi ăn học, lại thêm phụng dưỡng bố mẹ chồng đã ngoài tuổi 80. Anh Dụng làm nghề thợ xây, nay đây mai đó nên việc gia đình một tay chị gồng gánh.

“Dũng nói: “Sau này chúng con đi làm sẽ gửi tiền về cho mẹ an hưởng tuổi già. Mẹ không phải làm lụng vất vả nữa”, nhưng tôi mong các con khôn lớn trưởng thành chứ không phải mong được bù đắp” – nhắc đến những dứa conc hồng, chị Miền lại nở nụ cười hạnh phúc.

Hoàng Cúc

BÀN VỀ THUẬT NGỮ "TÔN GIÁO"

Lâm Trực post lại từ Reds.vn

“Tôn giáo” là một thuật ngữ không thuần Việt, được du nhập từ nước ngoài vào từ cuối thế kỷ XIX. Xét về nội dung, thuật ngữ Tôn giáo khó có thể hàm chứa được tất cả nội dung đầy đủ của nó từ cổ đến kim, từ Đông sang Tây.
Thuật ngữ “Tôn giáo” vốn có nguồn gốc từ phương Tây và bản thân nó cũng có một quá trình biến đổi nội dung và khi khái niệm này trở thành phổ quát trên toàn thế giới thì lại vấp phải những khái niệm truyền thống không tương ứng của những cư dân thuộc các nền văn minh khác, vì vậy trên thực tế đã xuất hiện rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về tôn giáo của nhiều dân tộc và nhiều tác giả trên thế giới.
“Tôn giáo” bắt nguồn từ thuật ngữ “religion” (Tiếng Anh) và“religion” lại xuất phát từ thuật ngữ “legere” (Tiếng Latinh) có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên. Vào đầu công nguyên, sau khi đạo Kitô xuất hiện, đế chế Roma yêu cầu phải có một tôn giáo chung và muốn xóa bỏ các tôn giáo trước đó cho nên lúc này khái niệm “religion” chỉ mới là riêng của đạo Kitô. Bởi lẽ, đương thời những đạo khác Kitô đều bị coi là tà đạo. Đến thế kỷ XVI, với sự ra đời của đạo Tin Lành – tách ra từ Công giáo – trên diễn đàn khoa học và thần học châu Âu, “religion” mới trở thành một thuật ngữ chỉ hai tôn giáo thờ cùng một chúa. Với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra khỏi phạm vi châu Âu, với sự tiếp xúc với các tôn giáo thuộc các nền văn minh khác Kitô giáo, biểu hiện rất đa dạng, thuật ngữ “religion” được dùng nhằm chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên thế giới.
Thuật ngữ “religion” được dịch thành “Tông giáo” đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản vào đầu thế kỷ XVIII và sau đó du nhập vào Trung Hoa. Tuy nhiên, ở Trung Hoa, vào thế kỷ XIII, thuật ngữ Tông giáo lại bao hàm một ý nghĩa khác, nó nhằm chỉ đạo Phật (Giáo: đó là lời thuyết giảng của Đức Phật, Tông: lời của các đệ tử Đức Phật).
Thuật ngữ Tông giáo được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, nhưng do kỵ húy của vua Thiệu Trị nên được gọi là “Tôn giáo”.
Như vậy, thuật ngữ tôn giáo ban đầu được sử dụng ở châu Âu nhằm chỉ một tôn giáo sau đó thuật ngữ này lại làm nhiệm vụ chỉ những tôn giáo.
Một số thuật ngữ tương đồng với tôn giáo
Tôn giáo là một từ phương Tây. Trước khi du nhập vào Việt Nam, tại Việt Nam cũng có những từ tương đồng với nó, như:
– Đạo: từ này xuất xứ từ Trung Hoa, tuy nhiên “đạo” không hẳn đồng nghĩa với tôn giáo vì bản thân từ đạo cũng có thể có ý nghĩa phi tôn giáo. “Đạo” có thể hiểu là con đường, học thuyết. Mặt khác, “đạo” cũng có thể hiểu là cách ứng xử làm người: đạo vợ chồng, đạo cha con, đạo thầy trò… Vì vậy khi sử dụng từ “đạo” với ý nghĩa tôn giáo thường phải đặt tên tôn giáo đó sau từ “đạo”. Ví dụ: đạo Phật, đạo Kitô…
– Giáo: từ này có ý nghĩa tôn giáo khi nó đứng sau tên một tôn giáo cụ thể. Chẳng hạn: Phật giáo, Nho giáo, Kitô giáo… “Giáo” ở đây là giáo hóa, dạy bảo theo đạo lý của tôn giáo. Tuy nhiên “giáo” ở đây cũng có thể được hiểu với nghĩa phi tôn giáo là lời dạy của thầy dạy học.
– Thờ: đây có lẽ là từ thuần Việt cổ nhất. Thờ có ý bao hàm một hành động biểu thị sự sùng kính một đấng siêu linh: thần thánh, tổ tiên… đồng thời có ý nghĩa như cách ứng xử với bề trên cho phải đạo như thờ vua, thờ cha mẹ, thờ thầy hay một người nào đó mà mình mang ơn… Thờ thường đi đôi với cúng, cúng cũng có nhiều nghĩa: vừa mang tính tôn giáo, vừa mang tính thế tục. Cúng theo ý nghĩa tôn giáo có thể hiểu là tế, tiến dâng, cung phụng, vật hiến tế… Ở Việt Nam, cúng có nghĩa là dâng lễ vật cho các đấng siêu linh, cho người đã khuất nhưng cúng với ý nghĩa trần tục cũng có nghĩa là đóng góp cho việc công ích, việc từ thiện… Tuy nhiên, từ ghép “thờ cúng” chỉ dành riêng cho các hành vi và nội dung tôn giáo. Đối với người Việt, tôn giáo theo thuật ngữ thuần Việt là thờ hay thờ cúng hoặc theo các từ gốc Hán đã trở thành phổ biến là đạo, là giáo.
Khái niệm tôn giáo
Khái niệm tôn giáo là một vấn đề được giới nghiên cứu về tôn giáo bàn cãi rất nhiều. Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo:
– Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người”.
– Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: “Tôn giáo là niềm tin vào cái siêu nhiên”.
– Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo”.
– Khái niệm mang khía cạnh bản chất xã hội của tôn giáo của C.Mác: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần”.
– Khái niệm mang khía cạnh nguồn gốc của tôn giáo của Ph.Ăngghen: “Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày …”
Tôn giáo là gì?
Để có khái niệm đầy đủ về tôn giáo cần phải chú ý:
– Khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và vô hình.
– Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình do đó phải dựa vào thánh thần mà còn hướng con người đến một hy vọng tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, mang tính “Hoàng kim nguyên thủy”, một cuộc đời mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống. Nó gieo niềm hi vọng vào con người, dù có phần ảo tưởng để yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải.
Như vậy: Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý – văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau.
Bản chất, nguồn gốc của tôn giáo
– Tôn giáo xuất hiện từ rất lâu và con người mặc nhiên chấp nhận nó. Việc đặt ra câu hỏi: “Tôn giáo là gì” mới chỉ được giới khoa học đặt ra trong thời gian gần đây, khi mà vấn đề tôn giáo trở thành bức xúc và phức tạp. Khi câu hỏi này được đặt ra cũng là lúc mà tôn giáo trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học riêng biệt. Đối tượng nghiên cứu của tôn giáo xuất phát từ châu Âu khá sớm nhưng bộ môn khoa học về tôn giáo chỉ ra đời vào cuối thế kỷ XIX.
– Tôn giáo là một sản phẩm của lịch sử. Trong các tác phẩm của mình C. Mác đã khẳng định: “Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người”. Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài người nhưng lại là một thực thể có nhiều quan niệm phức tạp về cả nội dung cũng như hình thức biểu hiện. Về mặt nội dung, nội dung cơ bản của tôn giáo là niềm tin (hay tín ngưỡng) tác động lên các cá nhân, các cộng đồng. Tôn giáo thường đưa ra các giá trị có tính tuyệt đối làm mục đích cho con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy được thể hiện bằng những nghi thức, những sự kiêng kỵ…
– Rất khó có thể đưa ra được một định nghĩa về tôn giáo có thể bao hàm mọi quan niệm của con người về tôn giáo nhưng có thể thấy rõ rằng khi nói đến tôn giáo là nói đến mối quan hệ giữa hai thế giới thực và hư, của hai tính thiêng và tục và giữa chúng không có sự tách bạch.
Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph. Ăng nghen đã có một nhận xét làm cho chúng ta thấy rõ bản chất của tôn giáo như sau: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo – vào trong đầu óc của con người – của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế.”.
Nguồn gốc của tôn giáo
Vấn đề nguồn gốc của tôn giáo là một trong những vấn đề quan trọng nhất của tôn giáo học mácxít. Nhờ vạch ra được nguyên nhân xuất hiện và tồn tại của hiện tượng nào đó mà sự giải thích nó mới mang tính khoa học. Đối với hiện tượng tôn giáo cũng vậy.
V. I. Lênin đã gọi toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện tất yếu làm nảy sinh niềm tin tôn giáo là những nguồn gốc của tôn giáo. Nguồn gốc đó bao gồm:
a. Nguồn gốc xã hội của tôn giáo
Nguồn gốc xã hội của tôn giáo là toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện khách quan của đời sống xã hội tất yếu làm nảy sinh và tái hiện những niềm tin tôn giáo. Trong đó một số nguyên nhân và điều kiện gắn với mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, một số khác gắn với mối quan hệ giữa con người với con người
– Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên: tôn giáo học mácxít cho rằng sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên là một nguồn gốc xã hội của tôn giáo. Như chúng ta đã biết, mối quan hệ của con người với tự nhiên thực hiện thông qua những phương tiện và công cụ lao động mà con người có. Những công cụ và phương tiện càng kém phát triển bao nhiêu thì con người càng yếu đuối trước giới tự nhiên bấy nhiêu và những lực lượng tự nhiên càng thống trị con người mạnh bấy nhiêu. Sự bất lực của con người nguyên thủy trong cuộc đấu tranh với giới tự nhiên là do sự hạn chế, sự yếu kém của các phương tiện tác động thực tế của họ vào thế giới xung quanh. Khi không đủ phương tiện, công cụ để đảm bảo kết quả, mong muốn trong lao động, người nguyên thủy đã tìm đến phương tiện tưởng tượng hư ảo, nghĩa là tìm đến tôn giáo. F. Ăngghen nhấn mạnh rằng tôn giáo trong xã hội nguyên thủy xuất hiện do kết quả phát triển thấp của trình độ lực lượng sản xuất. Trình độ thấp của sự phát triển sản xuất đã làm cho con người không có khả năng nắm được một cách thực tiễn các lực lượng tự nhiên. Thế giới bao quanh người nguyên thủy đã trở thành cái thù địch, bí hiểm, hùng hậu đối với họ. Chúng ta cần thấy rằng, sự thống trị của tự nhiên đối với con người không phải được quyết định bởi những thuộc tính và quy luật của giới tự nhiên, mà quyết định bởi mối tính chất mối quan hệ của con người với tự nhiên, nghĩa là bởi sự phát triển kém của lực lượng sản xuất xã hội, mà trước hết là công cụ lao động.
Như vậy, không phải bản thân giới tự nhiên sinh ra tôn giáo, mà là mối quan hệ đặc thù của con người với giới tự nhiên, do trình độ sản xuất quyết định. Đây là một nguồn gốc xã hội của tôn giáo.
Nhờ hoàn thiện những phương tiện lao động và toàn bộ hệ thống sản xuất vật chất mà con người ngày càng nắm được lực lượng tự nhiên nhiều hơn, càng ít phụ thuộc một cách mù quáng vào nó, do đó dần dần khắc phục được một trong những nguồn gốc quan trọng của tôn giáo.
– Mối quan hệ giữa người và người: nguồn gốc xã hội của tôn giáo còn bao gồm cả phạm vi các mối quan hệ giữa con người với nhau, nghĩa là bao gồm các mối quan hệ xã hội, trong đó có hai yếu tố giữ vai trò quyết định là tính tự phát của sự phát triển xã hội và ách áp bức giai cấp cùng chế độ người bóc lột người.
Trong tất cả các hình thái kinh tế – xã hội trước hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa, những mối quan hệ xã hội đã phát triển một cách tự phát. Những quy luật phát triển của xã hội biểu hiện như là những lực lượng mù quáng, trói buộc con người và ảnh hưởng quyết định đến số phận của họ. Những lực lượng đó trong ý thức con người được thần thánh hoá và mang hình thức của những lực lượng siêu nhiên. Đây là một trong những nguồn gốc xã hội chủ yếu của tôn giáo.
Trong các xã hội có đối kháng giai cấp, sự áp bức giai cấp, chế độ bóc lột là một nhân tố quan trọng làm nảy sinh tôn giáo.
Người nô lệ, người nông nô, người vô sản mất tự do không phải chỉ là sự tác động của lực lượng xã hội mù quáng mà họ không thể kiểm soát được, mà còn bị bần cùng cả về mặt kinh tế, bị áp bức cả về mặt chính trị, bị tước đoạt những phương tiện và khả năng phát triển tinh thần. Quần chúng không thể tìm ra lối thoát hiện thực khỏi sự kìm kẹp và áp bức trên trái đất, nhưng họ đã tìm ra lối thoát đó ở trên trời, ở thế giới bên kia.
b. Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo
Để giải thích nguồn gốc nhận thức của tôn giáo cần phải làm rõ lịch sử nhận thức và các đặc điểm của quá trình nhận thức dẫn đến việc hình thành quan niệm tôn giáo.
Trước hết, lịch sử nhận thức của con người là một quá trình từ thấp đến cao, trong đó giai đoạn thấp là giai đoạn nhận thức tự nhiên cảm tính. Ở giai đoạn nhận thức này (nhất là đối với cảm giác và tri giác), con người chưa thể sáng tạo ra tôn giáo, bởi vì tôn giáo với tư cách là ý thức, là niềm tin bao giờ cũng gắn với cái siêu nhiên, thần thánh, mà nhận thức trực quan cảm tính thì chưa thể tạo ra cái siêu nhiên thần thánh được. Như vậy, tôn giáo chỉ có thể ra đời khi con người đã đạt tới một trình độ nhận thức nhất định. Thần thánh, cái siêu nhiên, thế giới bên kia… là sản phẩm của những biểu tượng, sự trừu tượng hoá, sự khái quát dưới dạng hư ảo. Nói như vậy có nghĩa là tôn giáo chỉ có thể ra đời ở một trình độ nhận thức nhất định, đồng thời nó phải gắn với sự tự ý thức của con người về bản thân mình trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài. Khi chưa biết tự ý thức, con người cũng chưa nhận thức được sự bất lực của mình trước sức mạnh của thế giới bên ngoài, do đó con người chưa có nhu cầu sáng tạo ra tôn giáo để bù đắp cho sự bất lực ấy.
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo gắn liền với đặc điểm của của quá trình nhận thức. Đó là một quá trình phức tạp và mâu thuẫn, nó là sự thống nhất một cách biện chứng giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan. Những hình thức phản ánh thế giới hiện thực càng đa dạng, phong phú bao nhiêu thì con người càng có khả năng nhận thức thế giới xung quanh sâu sắc và đầy đủ bấy nhiêu. Nhưng mỗi một hình thức mới của sự phản ánh không những tạo ra những khả năng mới để nhận thức thế giới sâu sắc hơn mà còn tạo ra khả năng “xa rời” hiện thực, phản ánh sai lầm nó. Thực chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo cũng như của mọi ý thức sai lầm chính là sự tuyệt đối hoá, sự cường điệu mặt chủ thể của nhận thức con người, biến nó thành cái không còn nội dung khách quan, không còn cơ sở “thế gian”, nghĩa là cái siêu nhiên thần thánh.
c. Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo
Ngay từ thời cổ đại, các nhà duy vật đã nghiên cứu đến ảnh hưởng của yếu tố tâm lý (tâm trạng, xúc cảm) đến sự ra đời của tôn giáo. Họ đã đưa ra luận điểm” “Sự sợ hãi sinh ra thần thánh”.
Các nhà duy vật cận đại đã phát triển tư tưởng của các nhà duy vật cổ đại – đặc biệt là L.Phơbách – và cho rằng nguồn gốc đó không chỉ bao gồm những tình cảm tiêu cực (sự lệ thuộc, sợ hãi, không thoả mãn, đau khổ, cô đơn…) mà cả những tình cảm tích cực (niềm vui, sự thoả mãn, tình yêu, sự kính trọng…), không chỉ tình cảm, mà cả những điều mong muốn, ước vọng, nhu cầu khắc phục những tình cảm tiêu cực, muốn được đền bù hư ảo.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã giải quyết vấn đề nguồn gốc tâm lý của tôn giáo khác về nguyên tắc so với các nhà duy vật trước đó. Nếu như các nhà duy vật trước Mác gắn nguyên nhân xuất hiện tôn giáo với sự sợ hãi trước lực lượng tự nhiên thì chủ nghĩa Mác lần đầu tiên vạch được nguồn gốc xã hội của sự sợ hãi đó.
Lịch sử hình thành tôn giáo và một số hình thức tôn giáo trong lịch sử
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội. Đặc điểm quan trọng trong ý thức tôn giáo là một mặt nó phản ánh tồn tại xã hội. Mặt khác, nó lại có xu hướng phản kháng lại xã hội đã sản sinh ra và nuôi dưỡng nó. Vì vậy, từ khi ra đời đến nay, cùng với sự biến đổi của lịch sử, tôn giáo cũng biến đổi theo.
– Với những thành tựu to lớn của ngành khảo cổ học, người ta đã chứng minh được sự tồn tại của con người cách đây hàng triệu năm (từ 4 – 6 triệu năm). Tuy nhiên, với những hiện vật thu được người ta khẳng định: có đến hàng triệu năm con người không hề biết đến tôn giáo. Bởi vì tôn giáo đòi hỏi tương ứng với nó là một trình độ nhận thức cao, nó là sản phẩm của tư duy trừu tượng trong một đời sống xã hội ổn định.
– Hầu hết trong giới khoa học đều thống nhất rằng chỉ khi con người hiện đại – người khôn ngoan (Homo Sapiens) – hình thành và tổ chức thành xã hội, tôn giáo mới xuất hiện. Thời kỳ này cách đây khoảng 95.000 – 35.000 năm. Tuy nhiên trong thời kỳ đầu mới chỉ là các tín hiệu đầu tiên. Đa số các nhà khoa học đều khẳng định tôn giáo ra đời khoảng 45.000 năm trước đây với những hình thức tôn giáo sơ khai như đạo Vật tổ (Tôtem), Ma thuật và Tang lễ… đây là thời kỳ tương ứng với thời kỳ đồ đá cũ.
– Bước sang thời kỳ đồ đá giữa, con người chuyển dần từ săn bắt, hái lượm sang trồng trọt và chăn nuôi, các hình thức tôn giáo dân tộc ra đời với sự thiêng liêng hóa các nguồn lợi của con người trong sản xuất và cuộc sống: thần Lúa, thần Khoai, thần Sông… hoặc tôn thờ các biểu tượng của sự sinh sôi (thờ giống cái, hình ảnh phụ nữ, phồn thực…), đó là các vị thần của các thị tộc Mẫu hệ. Khi đồ sắt xuất hiện, các quốc gia dân tộc ra đời nhằm mục đích phục vụ cho sự củng cố và phát triển của dân tộc. Tất cả các vị thần ấy còn tồn tại chừng nào dân tộc tạo ra vị thần ấy còn tồn tại và khi dân tộc tiêu vong, các vị thần ấy không còn nữa.
– Trong thời kỳ văn minh nông nghiệp, nhiều đế chế ra đời và thâu tóm vào mình nhiều quốc gia. Do nhu cầu một tôn giáo của đế chế, những tôn giáo như Phật, Nho, Kitô, Hồi… đã xuất hiện từ trước trở thành tôn giáo của đế chế và được chấp nhận như một tôn giáo chính thống. Theo thời gian, do nội dung của các tôn giáo manh tính phổ quát, không gắn chặt với một quốc gia cụ thể, với các vị thần cụ thể, với nghi thức cụ thể của một cộng đồng tộc người, dân tộc hay địa phương nhất định nên sự bành trướng của nó diễn ra thuận lợi, dễ dàng thích nghi với các dân tộc khác. Do vậy, dù được phổ biến bằng cách nào (chiến tranh hay hòa bình), các tôn giáo đó đã được các quốc gia bị lệ thuộc trực tiếp hay gián tiếp, tự giác hay không tự giác tiếp nhận và trên nền tảng của tôn giáo truyền thống, biến đổi thành tôn giáo riêng của quốc gia đó. Sự bành trướng kiểu như vậy diễn ra trong suốt thời kỳ văn minh công nghiệp và cho đến tận ngày nay. Tuy nhiên cũng cần phải chú ý rằng, giữa tôn giáo khu vực hay tôn giáo thế giới vừa chung sống cạnh nhau, vừa tranh chấp xung đột nhau và không ít trường hợp, với sự ủng hộ của các thế lực quân sự, chính trị, chiến tranh tôn giáo đã xảy ra. Những tôn giáo như Kitô, Hồi do tính cực đoan của mình (chỉ coi chúa hay thánh của mình là đối tượng tôn thờ duy nhất) nên ban đầu đi đến đâu cũng khó chung sống với các tôn giáo khác đã có mặt ở đó từ trước. Còn một số tôn giáo phương Đông như Nho, Phật thì khác, chúng chấp nhận hòa đồng với các tôn giáo bản địa, có xu hướng trần tục nhiều hơn là thế giới bên kia.
– Cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra một xã hội công nghiệp, xã hội này đòi hỏi phải có một tôn giáo năng động và tự do hơn, khó chấp nhận một tổ chức, một giáo lý với những nghi thức cứng nhắc, phức tạp. Tình trạng độc tôn của một tôn giáo trong một quốc gia đã bắt đầu chấm dứt và chấp nhận sự đa dạng trong đời sống tôn giáo. Từ đây quan niệm và sau là chính sách tự do tôn giáo ra đời, phát triển nhanh hay chậm và thể hiện khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Những yếu tố lỗi thời được huỷ bỏ hoặc tự thay đổi, thay thế để thích nghi. Với xu thế quốc tế hóa ngày càng gia tăng, việc mỗi cá nhân chỉ biết đến tôn giáo của mình đã trở nên lạc hậu. Mỗi người đều rằng trên thế gian có nhiều thánh thần, có nhiều tôn giáo. Họ bắt đầu hoài nghi và lựa chọn, thần thánh được mang ra tranh luận, bàn cãi và làm nảy sinh xu thế thế tục hoá tôn giáo và xu thế này ngày càng thắng thế.
– Trong thời đại ngày nay, khi mà xu thế toàn cầu hóa đang chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, sự nâng cao về trình độ học vấn và đặc biệt là những thành tựu của khoa học và công nghệ đã làm cho các tôn giáo ngày càng trở nên thế tục hóa kéo theo sự đa dạng trong đời sống tôn giáo. Từ đây xuất hiện các ý kiến khác nhau trong một tôn giáo và dẫn đến sự chia rẽ trong các tôn giáo một cách có tổ chức, bùng nổ các giáo phái và xuất hiện nhiều tôn giáo mới. Bản thân trong các tôn giáo khu vực và thế giới cũng có những biểu hiện khác trước: số tín đồ ngày càng tăng nhưng số tín đồ thực tế giảm, nghĩa là người ta theo đạo nhưng không hành đạo, nhiều tín đồ bỏ đạo để theo các “đạo mới”. Trong nội bộ các tôn giáo có sự chia rẽ thành những giáo phái với những tính chất cấp tiến, ôn hòa hoặc cực đoan.
Một số hình thức tôn giáo trong lịch sử
– Tôn giáo trong xã hội chưa có giai cấp (Tôn giáo nguyên thủy): Ăng nghen cho rằng tôn giáo xuất hiện từ ngay trong thời kỳ nguyên thủy, từ những quan niệm hết sức dốt nát, tối tăm, nguyên thủy của con người về bản thân mình và thiên nhiên bao quanh họ. Các tôn giáo nguyên thủy, sơ khai thể hiện niềm tin bản năng của con người và lúc ấy chưa gắn với các lợi ích về kinh tế – xã hội. Các hình thức phổ biến của tôn giáo nguyên thủy là các dạng sau:
+ Tô tem giáo (thờ vật tổ): Tô tem theo ngôn ngữ của thổ dân Bắc Mỹ nghĩa là giống loài. Đây là hình thức tôn giáo cổ xưa nhất, thể hiện niềm tin vào mối quan hệ gần gũi, huyết thống giữa một cộng đồng người (thị tộc, bộ lạc) với một loài động thực vật hoăïc một đối tượng nào đó. Tô tem giáo thể hiện hình thức nhận biết đầu tiên về mối liên hệ của con người với các hiện tượng xung quanh. Chẳng hạn: một bộ lạc tồn tại được nhờ săn bắt một loài động vật nào đó dẫn đến xuất hiện một ảo tưởng về mối quan hệ giữa loài vật đó với cộng đồng người săn nó và cuối cùng con vật này lại trở thành tổ tiên chung – là một tô tem của một tập thể nào đó.
+ Ma thuật giáo : Ma thuật theo tiếng Hi lạp cổ là phép phù thủy. Đây là biểu hiện của việc người nguyên thủy tin vào khả năng tác động đến tự nhiên bằng những hành động tượng trưng (cầu khấn, phù phép, thần chú…) nghĩa là bằng con đường siêu nhiên. Nhờ các biện pháp ma thuật, người nguyên thủy cố gắng tác động đến những sự kiện và làm cho nó diễn ra theo ý mình mong muốn. Về sau, ma thuật trở thành một thành tố quan trọng không thể thiếu được của các tôn giáo phát triển. Việc thờ cúng của bất kỳ tôn giáo nào cũng phải có ma thuật (cầu nguyện, làm phép…). Tàn dư của ma thuật là các hiện tượng bói toán, tướng số ngày nay.
+ Bái vật giáo: Bái vật theo tiếng Bồ Đào Nha là bùa hộ mệnh, phép lạ. Bái vật giáo xuất hiện vào lúc mới hình thành tôn giáo và sự thờ cúng. Bái vật giáo đặt lòng tin vào những thuộc tính siêu nhiên của các vật thể như hòn đá, gốc cây, bùa, tượng… Họ cho rằng có một lực lượng siêu nhiên, thần bí trú ngụ trong vật đó. Bái vật giáo là thành tố tất yếu của sự thờ cúng tôn giáo. Đó là sự thờ cúng các tượng gỗ, cây thánh giá… hoặc lòng tin vào sức mạnh kỳ quái của các lá bùa…
+ Vật linh giáo: Là hình thức tôn giáo xuất hiện muộn hơn, khi mà ý thức của con người đã đủ khả năng hình thành nên những khái niệm. Vật linh giáo là lòng tin ở linh hồn. Lòng tin này là cơ sở quan trọng để hình thành nên quan niệm về cái siêu nhiên của người cổ xưa. Giai đoạn này đã có ảo tưởng cho rằng có hai thế giới: một thế giới tồn tại thực sự và một thế giới siêu nhiên, trong đó thế giới siêu nhiên thống trị thế giới thực tại. Thế giới siêu nhiên này của người nguyên thủy cũng đầy đủ động vật, thực vật, các đối tượng do tinh thần tưởng tượng ra và không khác biệt gì lắm so với thế giới thực tại.
– Tôn giáo trong xã hội có giai cấp: khi xã hội phân chia giai cấp, xuất hiện các nhà nước, quốc gia với các vùng lãnh thổ riêng biệt, tôn giáo lúc này không chỉ còn là một nhu cầu tinh thần của quần chúng mà còn là một phương tiện để giai cấp thống trị duy trì sự thống trị áp bức giai cấp và bóc lột của mình và thực hiện sự bành trướng, xâm lược vì vậy tôn giáo gắn liền với chính trị và bị dân tộc hóa. Từ đó đã dẫn đến sự xuất hiện các tôn giáo dân tộc và tôn giáo thế giới.
+ Tôn giáo dân tộc: Đặc trưng của tôn giáo dân tộc là tính chất quốc gia dân tộc của nó. Các vị thần được tạo lập mang tính quốc gia dân tộc và phạm vi quyền lực giới hạn trong phạm vi quốc gia. Thậm chí một số tôn giáo lớn cũng bị dân tộc hóa ở mỗi quốc gia và trở thành tôn giáo có tính chất quốc gia. Ví dụ Anh giáo (Thanh giáo), các dòng khác nhau của đạo Hồi…
+ Tôn giáo thế giới: Sự phát triển của các tôn giáo vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia đã hình thành nên các tôn giáo khu vực và thế giới như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo… Khác với các tôn giáo dân tộc, tôn giáo thế giới mang tính đa quốc gia, ảnh hưởng đến nhiều khu vực rộng lớn trên thế giới.
Trích lại từ quyển Lý luận tôn giáo và vấn đề tôn giáo ở Việt Nam của GS. Đặng Nghiêm Vạn.

DỰ BÁO…

Lâm Trực


Nắng mưa là việc của giời

Chúng tôi dự báo tạm thời thế thôi


Đương ngồi thẩm ru với món bánh cuốn Thanh Trì buổi sáng thì trời sầm sập đổ mưa to. Nhà hàng mặt dài như bơm vì ô che thì thủng lỗ chỗ, nước bắn tung tóe, kiểu này khách nó dí vào thèm ngồi ăn nữa thì lỗ vốn :D . 

Một bà già đương chén món bún chả bảo: thế mà đài, tv báo là trời nắng to!. Chủ quán chạy ra ngửa mặt lên giời ngó 1 hồi rồi vào báo: mây thấp lắm, kiểu này mưa to. Hĩ hĩ, dự báo giỏi vãi đái, chả đang mưa to đấy thôi. Bà già bún chả bảo tiếp: “chiều qua đàng đông có cầu vồng, trong khi đàng tây mây đen sì, như vậy là: vồng đông, mống tây/3 ngày thì lụt. Ấy thế mà đài báo tv vẫn báo hôm nay nắng to, trong khi trời thì đang mưa kia, không hiểu thế nào..”. Mẹ, chả nhẽ lại bảo với cụ già là bọn đài báo tv ngu bỏ mẹ, có biết cái mẹ gì đâu, toàn bốc shit của bọn khí tượng thủy văn lên trộn với tí áo dài, ca la vat của mấy con/thằng tốt nghiệp hẳn từ cái gọi là báo chí tuyên truyền gì đó ra nhá, khua môi mua mép kiếm tiền đổ vào mồm chứ chúng nó quan tâm chó gì mưa hay không mưa. Có ai chửi chúng thì chúng lại bảo chúng đéo chịu trách nhiệm gì vì có phải chúng nghĩ ra đéo đâu. TSB bọn kền kền ăn xác chết. hĩ hĩ.
Tuy nhiên, anh đang ngâm cứu câu dự báo của bà già bún chả: “vồng đông, mống tây/3 ngày thì lụt”. Mẹ, anh nghĩ có khi chuẩn, đàng tây luôn đen kịt mấy ngày nay rồi, chắc mưa nguồn hoành tráng. Mẹ, quên bố nó mất không ra sông Hồng đo phát xem đã lên quá mức báo động 3 chưa nhể.
Lọ mọ trên mạng 1 tí, Google cho anh 1 lô những dự báo sau đây, anh nghĩ là đúng vãi đái, xác suất đúng mẹ nó là 100%, từ dự báo dài ngày (3 ngày trở ra) cho tới dự báo khẩn cấp (5h trở lại). Như vậy thì nhân dân ta cần chó gì bọn dự báo thời tiết nữa. Và tất nhiên đéo cần phải xem tv, đọc báo, hay nghe đài về món dự báo thời tiết này, kể cả những đống shit khác mà bọn báo chí truyền hình, truyền thanh đương bôi đầy khắp các public media.
Sau đây là hệ thống dự báo truyền thống của người Việt cổ cận đại, rõ ràng tiên tiến hơn rất nhiều hệ thống dự báo “hiện đại, có yếu tố nước ngoài” của người Việt hiện nay. Mk, việc gì phải giải phương trình bậc 2 mới lại cái bổ đề bổ đeo gì đó? Nhà trường và bọn phụ huynh thần kinh đạp đổ cổng trường hãy dạy những thứ như dưới đây thì anh sẽ có hi vọng 1 ngày không xa nước ta sẽ sánh vai với các cường cuốc 5 châu. hĩ hĩ.
—–

DỰ BÁO THỜI TIẾT
 THÔNG QUA CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM

1. CÁC LOÀI VẬT

CON KIẾN
– Kiến dọn tổ thời mưa.
– Kiến đen tha trứng lên cao
Thế nào cũng có mưa rào rất to.
– Tháng bảy kiến bò chỉ lo lại lụt.
– Tháng bảy kiến đàn, đại hàn hồng thủy.
– Kiến cánh vỡ tổ bay ra, bão táp mưa sa gần tới.

CON CHUỒN CHUỒN
– Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão.
– Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng bay vừa thì râm.

CON GÀ
Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa.

CON ÉN
Én bay thấp mưa ngập bờ ao,
Én bay cao mưa rào lại tạnh.

CON CHÓ
Sầm Đông, sáng Bắc, tía Tây,
Chó đen ăn cỏ, trời này thì mưa.

CON ẾCH – CÓC
– Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước.
– Cóc nghiến răng, đang nắng thì mưa.

CON SẾU
Gió bấc hiu hiu, sếu kêu thì rét.

CON QỤA – CON SÁO
Qụa tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa.

2. BẰNG MẶT TRỜI – MẶT TRĂNG
– Mặt trời có quầng thì hạn,
Mặt trăng có tán thì mưa.
– Trăng quầng thì hạn, Trăng tán thì mưa.

3. BẰNG SAO
– Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa.
– Đêm trời tang (trời u ám), trăng sao không tỏ
Ấy là điềm mưa gió tới nơi.
Đêm nào sao sáng xanh trời,
Ấy là nắng ráo yên vui suốt ngày.

4. GIÓ
– Mùa nực gió Đông thì đồng đầy nước.
– Tháng sáu heo may, chẳng mưa thì bão.
– Cơn đằng Đông vừa trông vừa chạy
Cơn đằng Tây vừa cày vừa ăn.
Cơn đằng Nam vừa làm vừa chơi.
Cơn đằng Bắc đổ thóc ra phơi (hoặc cơn đằng Bắc lắc rắc vài hột).

5. CHỚP
– Chớp thừng chớp chão, chẳng bão thì mưa.
– Chớp đằng Đông, mua dây mà tát.

6. BẰNG MÂY
– Mây kéo xuống biển thì nắng chang chang,
Mây kéo lên ngàn thì mưa như trút.
– Vàng mây thời gío, đỏ mây thời mưa.
– Mây xanh thì nắng, mấy trắng thì mưa.
– Thâm Đông, hồng Tây, dựng mây;
Ai ơi! Ở lại ba ngày hãy đi.

7. MỐNG (cầu vồng)
– Mống cao gió táp, mống áp mưa rào.
– Mống cao gió táp, mống rạp mưa dầm.
– Mống đông vồng tây,
Chẳng mưa dây cũng bão giật.
– Mống vàng thì nắng, mống trắng thì mưa.
– Mống dài trời lụt, mống cụt trời mưa.
– Vồng chiều mưa sáng, ráng chiều mưa hôm.
– Vồng rạp mưa rào, vồng cao gió táp.