NHẬT KÍ CỦA MỘT EM CAVE


ngày 1: hôm nay *** có khách, buồn vl, tiền nong chẳng có mà tiêu, lại còn cãi nhau với con đồng nghiệp….

ngày 2 : hôm nay, gặp 1 thằg thư sinh, đi cái xe wave s ghẻ lên bar ngồi, dáng vẻ rất hiền lành chân chất, ngỏ í đag tìm bạn tình…uh thì thôi mọi hôm toàn gặp hổ báo cáo chồn sư tử gấu, hnay thử đổi bọt 1 tí cho khác vị…… 
Thế mà đm, một đêm nó đòi nhữg 7 cái, mả mẹ nhà nó chắc nhịn 4 tháng rồi hay sao mà khỏe thế k biết, bố tiên sư….

ngày 3 : hôm nay nhặt đc cái điện thoại iphone, *** hiểu 3g hay 3gs, đại khái là loại cũ, định bán đi lấy tiền tiêu tạm, nghĩ thế *** nào lại đợi thân chủ gọi đt xin lại, đến tối thì gọi đt xin lại thật, hẹn chị í ra bờ hồ uống cốc nước gửi lại cái đt, thế lozl nào uống nc xog chị lại gửi mình 200 gọi là cảm ơn, *** mẹ đưa thì đưa mẹ nó 2triệu, 200 chẳng bõ đi khách, thôi…giả lại…. 

ngày 4 : hôm nay đánh nhau với đồng nghiệp, nó dám bơm đểu mình với má mì là mình lấy tiền bo của khách rồi giấu đi ko đưa cho má, thế là bị má tỉn cho 1 trận, ăn đòn no nê xog mình hỏi dò xem ai nói, biết là nó mình chẳng nói chẳng rằng, con giời đang ngồi sửa guốc ở đầu ngõ, mình cầm thẳng cái guốc của nó fang vào giữa mặt, nó vùng lên giật tóc mình kéo xuống, àhhhh….con bỏ mẹ khỏe thật, *** nói nhiều mình lấy đúng gót guốc bổ mạnh vào thái dương, con chó ngã vật ra, mình lao đến đạp cho *** cái nào vào mặt, toàn trượt vào mồm mới khổ, nó chỉ mặt bảo “đợi đấy đmm để tao gọi mấy thằng đến”, mình cười khẩy, đm toàn là fò cả, việc lôz j mà fải dọa, mình nó có giai đấy mà gọi.

ngày 5 : dạo này đô lên 21 rồi đấy, thế mà hôm qua đc khách bo cho 50 đô, sướng quá tháng này đỡ đc tiền nhà, lại vẫn dư để gửi về cho bố mẹ, nói bố mẹ mới nhớ, ko hiểu con tít nhài mình học hành thế lozl nào rồi, thôi cố gắng làm gửi về cho nó học đến nơi đến chốn, để nó đỡ fải làm cái nghề giốg con chị nó, mà mình vẫn nói với bố mẹ là mình đi giặt quần áo thuê….. 

ngày 6 : lại 1 ngày cuối tuần nữa, buồn tẻ và *** có vẹo j, hôm qua thằng già cặp với mình bị vợ nhốt ở nhà, khác *** j chó già bị xích, có nó cặp cũng đỡ buồn, thỉnh thỏag nó lo cho tiền nhà và mua cho đồ đẹp, nó cho mình tiền đi học tiếg anh, mà khổ, mình làm lozl j có óc mà đòi học với hành, gớm học đc thì đã *** đi làm fò…… 

ngày 7 : sáng nay đc ngủ đến 2h chiều, sướng thật, mà ngủ dậy đầu óc cứ mụ mị thế *** nào, cái chị mà đc giả lại đt nhắn tin rủ mình đi ăn trưa, ừh thì đi, có vấn đề j đâu, lần đầu tiên đc ăn pizza, ngấy bỏ mẹ, thôi cứ cơm gà rán bbq cho nó dân dã, nhưg đc cái mì ý j đấy thì ngon ra fết, chị í hỏi thăm mình làm j, mình trả lời ráo hoảnh “em làm fò”, chị cười to cứ tưởng mình nói đùa, lại thấy mình tỉnh bơ thì càng buồn cười hơn, đến lúc mình nuốt xog, mình bảo “e nói thật”, chị í im lặng, từ đấy bữa ăn cứ nguôi dần , lạnh dần, rồi cũng đứng lên tính tiền….chị bảo để chị đưa về, mình chỉ biết quay lại nói “thôi chị ạ, em bẩn thỉu lắm, ko đáng để đi với chị đâu”….rồi mình vẫy taxi đi thẳg…. 

ngày 8 : đêm qua đầy những mộg mị , nằm mơ thấy mình đc làm ng tử tế, đi oto, giày guess, áo gucci, quần dolce và mỹ fẩm dior….rồi nằm mơ thấy mình lại bị má mì đánh, chỉ biết mím môi chịu đòn, ko khóc, ko kêu gào…..rồi lại nằm mơ thấy con tít đỗ đại học, đi làm việc rất nh tiền, đón mình về 2 chị em thuê nhà ở chung….tỉnh dậy….nước mắt lưg tròg, chẳg hiểu sao bị ăn đòn liên tục thì ko khóc, nghĩ đến em, đến bố mẹ lại khóc….đúg là đm cái thân con fò…..thôi….trở lại thực tại là mình vẫn làm fò, rồi lại mặc quần áo, độn ngực, xi lip dây, nước hoa, son fấn…..nhìn mình trog gươg….thở dài….hết kiếp này thôi….

Hàng nhà PhẹtLìn@

Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NGÀY 30 THÁNG 4

Cuteo@

Đúng ngày 30 tháng 4, vào tra cứu trên google ra ngay bài này. Giới thiệu và chia sẻ với bạn đọc. Tuy nhiên, đây là vấn đề lịch sử phức tạp, Cuteo@ không rành nên không có bình luận gì.

——————

Ý nghĩa lịch sử của ngày 30/4

Chữ viết của một người dân Sài Gòn vào tờ lịch ngày 30/4 lịch sử
Ngày toàn thắng 30/4 là một ngày hội non sông, là một đại lễ, một ngày hội lớn của dân tộc. Đây là một ngày có những ý nghĩa lịch sử trọng đại, bao gồm nhiều bài học lịch sử quan trọng. Đây là ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, giải phóng nốt những vùng tạm chiếm còn lại ở miền Nam Việt Nam, thống nhất đất nước. Đây là ngày toàn thắng trước giặc Mỹ xâm lược, hoàn toàn đánh bại cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ ở Việt Nam, đánh bại chiến lược chiến tranh cuối cùng của Mỹ ở Việt Nam (Phi Mỹ hóa – Việt Nam hóa chiến tranh, De-Americanization, Vietnamization, thay màu da trên xác chết, dùng người Việt đánh người Việt).

Ngày này cũng mang nhiều ý nghĩa và bài học về tinh thần đại đoàn kết dân tộc, về tinh thần đề cao cảnh giác với người láng giềng phía Bắc, về chủ quyền lãnh thổ trên Biển Đông, về công tác địch vận, binh vận, kể cả trong nhóm chóp bu có chức vụ cao nhất của địch, và nhất là ý nghĩa về sự thống nhất quốc gia dân tộc sau hàng trăm năm chiến tranh và chia rẽ, chia ly, chia cắt. Bài viết này xin được nói sâu hơn về một số vấn đề mà chính sử và truyền thông chính thống ít nhắc tới hoặc chưa được trình bày sâu sát.

Nữ biệt động Sài Gòn dẫn đường cho các đoàn xe Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến vào nội đô
Chiến dịch Mùa xuân 1975 bắt đầu từ trận Phước Long, là trận đánh trinh sát chiến lược, đến 3 “chiến dịch trong chiến dịch” liên tiếp nhau: Chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế – Đà Nẵng, và sau cùng là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ngoài ra còn có những chiến dịch nhỏ hơn, diễn ra trên những địa bàn chiến lược như Long Khánh – Xuân Lộc, Trường Sa và các đảo trên Biển Đông, các trận đánh trên các tuyến phòng thủ từ xa như Tây Ninh – An Lộc – Dầu Tiếng, Phan Rang – Ninh Thuận, và các đợt tiến công quét sạch Khmer đỏ ra khỏi bờ cõi mà trước đó họ đã “đục nước béo cò” khi vào đóng giữ những nơi mà quân ngụy Sài Gòn đào ngũ, tan hàng rã ngũ, trốn chạy. Chiến dịch Hồ Chí Minh đã dẫn đến kết quả là chấm dứt hoàn toàn sự chia cắt đất nước của ngoại bang, đưa đến việc thống nhất đất nước, xã hội, chính trị, dân cư.

Trước đó, nhà báo nổi tiếng Neil Sheehan của tờ New York Times đã nói: “Sau những năm dài tìm cách khuất phục những dân tộc nghèo khổ bằng sự tàn bạo của sức mạnh kỹ thuật của mình, nước Mỹ, một nước giàu mạnh nhất trên quả đất này, cuối cùng có thể bị những người cộng sản Việt Nam đuổi ra khỏi bán đảo Đông Dương. Nếu đúng như vậy, thì thắng lợi của người Việt Nam sẽ là một thí dụ vô song về sự toàn thắng của trí tuệ con người đối với máy móc.” 


Chỉ trong vòng 55 ngày, chiến dịch Mùa xuân đã đuổi người quân nhân Mỹ cuối cùng ra khỏi Việt Nam và đánh sập ngụy quyền Sài Gòn, đây là một trong những chiến dịch thần tốc nhất trong chiến sử thế giới, một trong những sự sụp đổ nhanh nhất trong lịch sử thế giới, và sự tháo chạy hỗn loạn, vô trật tự, vô nguyên tắc, vô tổ chức, và vô kỷ luật nhất trong quân sử thế giới. Nguyên nhân chủ yếu là vì Mỹ đã cắt giảm viện trợ quân sự xuống chỉ còn hơn 700 triệu USD. Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch và Phát triển của chế độ Sài Gòn, giáo sư đại học Harvard tại Mỹ trong sách “Từ tòa Bạch Ốc đến dinh Độc Lập” đã đưa ra nhiều thông tin gián tiếp cho thấy sự sống chết của ngụy quyền Sài Gòn hoàn toàn phụ thuộc vào sự nuôi dưỡng, cưu mang của chính phủ Hoa Kỳ, cụ thể bản báo cáo mà Nguyễn Văn Thiệu đã đọc:

“Nếu mức viện trợ quân sự là 1,4 tỷ USD thì có thể giữ được các vùng đông dân cư tại bốn vùng chiến thuật.

Nếu mức viện trợ quân sự xuống 1,1 tỷ USD thì có thể không giữ được Quân khu I.

Nếu mức Viện trợ quân sự còn 900 triệu USD thì khó giữ được Quân khu I, Quân khu II.

Nếu viện trợ quân sự chỉ còn 750 triệu USD thì chỉ có thể phòng thủ một vài khu vực.

Nếu viện trợ quân sự chỉ còn 600 triệu USD thì chỉ còn có thể giữ được Sài Gòn và vùng châu thổ sông Cửu Long.”

(Đó chỉ là viện trợ quân sự, chưa tính viện trợ kinh tế vốn không có nhiều cắt giảm)

Cũng theo tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, có lúc Nguyễn Văn Thiệu đã cay đắng “than thân trách phận” với một dân biểu Mỹ rằng: “Mới vài ngày trước đây là một tỷ, bây giờ còn 700 triệu, tôi làm gì được với số tiền này? Như là chuyện cho tôi 12 đô la và bắt tôi mua vé máy bay hạng nhất từ Sài gòn đi Tokyo.” Sau đó, ông Thiệu phái ông Nguyễn Tiến Hưng đi xin thêm tiền và sau này thuật lại trong quyển sách trên, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã ví việc này với “cái nhục của kẻ đi cầu xin”.

Chiến dịch Trường Sa và các đảo trên Biển Đông
Đứng trước thực tế Trung Quốc đã dè chừng và dồn quân phòng thủ Hoàng Sa, đồng thời lăm le cho hải quân, cùng có hành động như lực lượng hải quân của Đài Loan, Indonesia, Philippines, Malaysia âm mưu xâm chiếm các hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa một khi quân ngụy Sài Gòn giải tán. Hải quân Nhân dân Việt Nam đã khẩn trương triển khai chiến dịch Trường Sa và các đảo trên Biển Đông, để giải phóng hoặc tiếp quản thật nhanh những vùng này trước khi Trung Quốc và các nước ngoài “đục nước béo cò”.

Chiến dịch Trường Sa và các đảo trên Biển Đông là một phần của Chiến dịch Mùa xuân năm 1975, là một chiến dịch không lớn nhưng có ý nghĩa quan trọng về chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Chiến dịch diễn ra trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1975. Mục tiêu chiến dịch nhằm vào các đảo trên quần đảo Trường Sa và các đảo ven biển miền Nam Việt Nam mà quân ngụy Sài Gòn đang đồn trú và một số đảo do quân Khmer đỏ đánh chiếm từ tay quân ngụy Sài Gòn từ trước.

Ý thức được một thực tế là lực lượng hải quân lúc đó chưa đủ sức giải phóng Hoàng Sa từ tay Trung Quốc, nhất là biết Trung Quốc đã đề phòng trước, nên hải quân Việt Nam đã tập trung giải phóng Trường Sa từ tay Mỹ-Thiệu, chủ yếu bằng phương pháp địch vận, binh vận, ngụy vận, thuyết phục địch quy hàng để “bất chiến tự nhiên thành”, hy vọng những chiến thắng dồn dập ở đất liền sẽ góp phần thuyết phục địch đầu hàng và giải phóng được quần đảo.

Theo các tác giả Nguyễn Văn Đấu, Dương Thảo, Đặng Văn Tới trong sách “Bộ Tham mưu Hải quân – Biên niên sự kiện (1959-2004)”, NXB Quân đội nhân dân xuất bản năm 2004, thì ngày 9 tháng 4 năm 1975, đài trinh sát kỹ thuật của Quân đội Nhân dân Việt Nam cướp được bức điện của lính ngụy đồn trú trên đảo Nam Yết gọi về đất liền yêu cầu tăng viện và điện trả lời của Bộ Tổng tham mưu ngụy với nội dung: “Không có lực lượng tăng viện”. Nhận được tin này, Quân ủy Trung ương QĐNDVN điện cho Bộ tư lệnh tiền phương quân chủng Hải quân đặt tại Đà Nẵng: “Có tin đối phương chuẩn bị rút khỏi các đảo ở Trường Sa. Kiểm tra lại ngay và chỉ thị cho lực lượng hành động kịp thời theo phương án đã định. Nếu để chậm, có thể quân đội nước ngoài chiếm trước, vì hiện nay một số nước ngoài đang có ý đồ xâm chiếm.”

Sau khi khoảng 2.000 quân ta mai phục trong các tàu đánh cá trá hình đã đột kích bất ngờ vào Trường Sa và tổ chức nổi dậy ở Côn Đảo, trong đánh ra – ngoài đánh vào hải quân ngụy và quân Khmer đỏ, một bộ phận lớn quân ngụy đã đầu hàng, nhưng trong đó có một số vẫn ngoan cố chống cự. Kết quả là quân ta có 10 người thương vong. Quân ngụy có 187 người thương vong, 557 người bị bắt sống. Quân ta cũng loại vòng chiến 284 tên Khmer đỏ và bắt sống hơn 400 tên khác. Sở dĩ có sự chênh lệch khá lớn giữa số lượng thương vong như vậy là vì địch bị bất ngờ, và những người lính hải quân ngụy đóng ở các đảo đa phần là những người đút lót để được ra đó để tránh phải đánh trận, gọi là “lính kiểng”, họ có năng lực chiến đấu kém và không có tinh thần chiến đấu, nhất là với những tin tức thất thủ dồn dập đến từ đất liền. Còn quân Khmer đỏ thì không quen thủy chiến và tác chiến trên biển đảo và hời hợt không có sự chuẩn bị từ trước. Yếu tố bất ngờ và yếu tố tinh thần đã làm nên chiến thắng tuyệt đối này.

Những người lính hải quân yêu nước của quân ngụy Sài Gòn đã vui mừng giương cao cờ Tổ quốc, cờ Đảng, cờ Mặt trận để chào đón Hải quân Nhân dân Việt Nam đến giải phóng quần đảo Trường Sa

Đánh đuổi Khmer đỏ

Tuy không nằm trong kế hoạch chiến dịch Hồ Chí Minh nhưng các hoạt động đánh đuổi quân Khmer đỏ ra khỏi các vùng đất liền Việt Nam ở Tây Nam Bộ bị họ lấn chiếm cũng là một trong các hoạt động quân sự để chiến dịch này có được kết quả hoàn chỉnh, bảo vệ vững chắc lãnh thổ Việt Nam.

Ngay sau khi ngụy quân tại đồng bằng sông Cửu Long tan rã và đầu hàng Mặt trận, từ ngày 3 đến ngày 12 tháng 5 năm 1975, chính quyền Khmer đỏ đã lợi dụng khoảng trống quyền lực tại các địa phương trên khu vực biên giới giữa các tỉnh Hà Tiên, Châu Đốc của Việt Nam với các tỉnh Takeo và Campot của Campuchia, sử dụng quân chính quy mở các cuộc tấn công lấn chiếm nhiều địa điểm của Việt Nam. Đặc biệt là khu vực Ba Chúc (huyện Tri Tôn), Phú Cường, Phú Hiệp (huyện Tịnh Biên), thị xã Châu Đốc, huyện lỵ An Phú; quân Khmer đỏ đã sát hại trên 500 thường dân Việt Nam, kể cả một số cựu quân nhân Sài Gòn đã buông súng, đào ngũ; bắn vào những Việt kiều từ Campuchia chạy trốn khỏi chế độ Khmer đỏ về Việt Nam. Tại Tây Ninh, quân Khmer đỏ cũng tấn công lấn chiếm nhiều địa điểm tại Xa Mát, Ta Nốt, Lò Gò (huyện Tân Biên), Phước Thạnh, Phước Tân, (huyện Châu Thành), Cây Me, Mộc Bài (huyện Bến Cầu) sát hại hàng trăm thường dân Việt Nam.

Song song với các chiến dịch chiếm lại các đảo Phú Quốc, Thổ Chu, Polovai, quần đảo Nam Du trên Vịnh Thái Lan. Bộ tư lệnh Quân khu 9 đã sử dụng sư đoàn 4 bộ binh được tăng cường trung đoàn hải quân đánh bộ 101 từ Bộ tư lệnh hải quân mở cuộc tấn công mạnh mẽ vào quân Khmer đỏ. Ngày 7 tháng 5, giải phóng Châu Đốc. Đến đầu tháng 6, các đơn vị này đã giải phóng toàn bộ khu vực biên giới thuộc tỉnh An Giang bị quân Khmer đỏ lấn chiếm; loại khỏi vòng chiến đấu một tiểu đoàn quân chính quy Khmer đỏ, thu giữ một khẩu pháo 105 mm, hai khẩu cối 82 và 60 mm, tám đại liên 12,7 mm, hơn 40 súng bộ binh các loại. Sau khi giành lại chủ quyền lãnh thổ, các đơn vị này đã tổ chức rào dây thép gai trên 40 km đường biên giới và bố trí phòng thủ tại chỗ đề phòng quân Khmer đỏ tiếp tục lấn chiếm.


Mưu sâu của Trung Quốc và tấm gương Dương Văn Minh

Dương Văn Minh là một tướng lĩnh đã từng phục vụ dưới quyền của Pháp lẫn Mỹ, nhưng sau đó được em trai mình là đại tá QĐNDVN Dương Thanh Nhựt, bí danh Mười Ty “ngụy vận” và cảm hóa được ngay từ đầu. Năm 1963, trong lúc Mỹ muốn “thay ngựa giữa dòng”, lật Diệm, còn Mặt trận thì cũng muốn diệt Diệm vì gia đình này quá độc tài tàn bạo. Thế là cách mạng cũng tương kế tựu kế và “thuận nước đẩy thuyền”, ủng hộ Dương Văn Minh làm theo ý Hoa Kỳ. Dương Văn Minh cũng không từ chối đảo chính Diệm vì ông ta có tinh thần dân tộc và còn là một Phật tử sùng đạo, mắt thấy gia đình Diệm đàn áp đạo Phật dã man và “Đảng Cần Lao” lộng hành, tàn ác, xã hội không có tự do tín ngưỡng, thì tất nhiên là muốn lật Diệm.

Một thời gian sau, năm 1964, Mỹ nhận ra là họ không thể dùng được Dương Văn Minh, họ không tin dùng ông nữa và ông bị cho “ngồi chơi xơi nước”. Mỹ làm cuộc đảo chính đưa “tướng râu dê” Nguyễn Khánh lên. Tướng Nguyễn Khánh sau khi lên thì độc tài quân phiệt không kém Diệm, và bị chống đối quyết liệt, nhất là sau khi hiến chương Vũng Tàu ra đời, thanh niên và sinh viên miền Nam rầm rộ biểu tình chống Mỹ-ngụy. Mỹ không yên tâm nên lại đảo chính lần nữa và đưa Thiệu-Kỳ lên, và liên danh này là 2 nhân tuyển cuối cùng của Mỹ mà họ hài lòng và an tâm nhất sau khi chọn lựa và thử nghiệm một loạt các tay sai khác nhau.

Mặt trận, thông qua người nhà của tướng Minh, đã “ngụy vận” và cảm hóa được ông. Từ chỗ còn mơ hồ về việc miền Nam bị Mỹ xâm lược và cho rằng Mỹ có giúp xã hội miền Nam, như các hành động tâm lý chiến mị dân xây nhà, sửa sang đường xá, phát đồ chơi cho trẻ em, xây trường học (cũng là để nhồi sọ), xây bệnh viện (cũng để chữa trị cho lính Mỹ, người Mỹ), chích ngừa miễn phí, khám bệnh miễn phí, bố thí thực phẩm cho dân nghèo, làm “từ thiện”, “nhân đạo” v.v. thì ông ta cũng nhận thức được bản chất của cuộc chiến, ông ta là một nhà chính trị trong cuộc, tuy đã bị “lập trình”, nhồi nhét lâu ngày dưới những mái trường và quân trường của Pháp – Mỹ nhưng sau khi nghe người của Mặt trận giải thích, phân tích thì ông ta cũng dần nhìn ra vấn đề, nhìn nhận đúng sự việc.

Ông thấy người Mỹ gây tội ác, ông thấy chính quyền của mình rõ ràng là một bọn bù nhìn nằm dưới quyền Mỹ, không có thực quyền, không có quyền quyết định cuối cùng, không có độc lập thật sự, thậm chí người Mỹ tràn lan khắp miền Nam, không coi “đồng minh Việt Nam Cộng hòa” ra gì, chà đạp lên “luật pháp VNCH”, mặc tình thảm sát “công dân VNCH”, sát hại một số tướng tá “đồng minh VNCH” mà Mỹ không ưa, giật dây đảo chính lật đổ, đưa lên đưa xuống các “tổng thống VNCH” như những món đồ chơi, tóm lại là thích làm gì thì làm, thích giết ai thì giết từ người dân cho tới “tổng thống”. Từ đó, ông ta ý thức ra được đây đúng là một chính quyền bù nhìn của Mỹ và đang phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, xã hội miền Nam là một xã hội thực dân mới (neocolonialism).

Tuy nhiên, ông ta còn trách nhiệm với gia đình, cho nên không thể một sớm một chiều mà ly khai ngay lập tức hay theo về với cách mạng. Mặt trận biết vậy và còn khuyến khích ông ta ở lại, đối với Mặt trận thì một sĩ quan cao cấp, có chức vụ cao, “thân tại Tào, tâm tại Hán” ở trong hàng ngũ giặc thì có lợi cho cách mạng hơn. Năm 1975, Mặt trận đã dùng “con bài bí mật” này tuyên bố đầu hàng vô điều kiện làm Hoa Kỳ không phản ứng kịp và Trung Quốc cũng không kịp đục nước béo cò.


Trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975, Trung Quốc đã tìm cách đi cửa sau để tiếp xúc tướng Minh, “tổng thống” vào ngày cuối của chế độ Sài Gòn, để tiếp tục chống lại cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân của quân dân miền Nam Việt Nam. Văn kiện “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 30 năm qua” của Bộ ngoại giao Việt Nam do NXB Sự Thật xuất bản vào tháng 10 năm 1979 đầu tiên công bố chuyện mờ ám này. Sau này, tướng Dương Văn Minh, tướng Nguyễn Hữu Hạnh, sĩ quan ngụy Trần Viết Đại Hưng, và nhiều cựu tướng tá, sĩ quan quân đội Sài Gòn cũng thừa nhận chuyện này.

19 giờ ngày 28 tháng 4, ngay sau khi tân “tổng thống” Dương Văn Minh vừa thu âm xong bản tuyên bố của mình với yêu cầu cả hai bên ngưng bắn, thương lượng để bàn giao chính quyền thì ông Vanussème (Vanuxem), tùy viên quân sự và an ninh của Đại sứ quán Pháp tại Sài Gòn xuất hiện. Ông này yêu cầu ngưng phát cuộn băng và đưa ra một đề nghị khiến ông Dương Văn Minh cũng phải kinh ngạc vì sợ mình nghe nhầm: Chính quyền mới do ông Dương Văn Minh đứng đầu hãy kêu gọi Trung Hoa can thiệp, ngăn chặn cộng sản Việt Nam tiến vào Sài Gòn.

Vanussème nói có những nguồn tin ở Washington, Paris và Bắc Kinh cho biết Trung Quốc không ủng hộ một thắng lợi hoàn toàn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ông ta còn khẳng định: “Quân đội Trung Quốc sẽ vào giúp các ông đứng vững”. Tuy nhiên, tướng Minh đã từ chối đề nghị của Vanussème và nói: “Tôi cảm ơn thiện chí của ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã từng làm tay sai cho Pháp, rồi tay sai cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Cộng.” Sau khi Vanussème đi khỏi, Dương Văn Minh than với vài người thân hữu: “Mình đã bỏ Pháp đi theo Mỹ, bây giờ nó lại xui mình đi theo Tàu. Thật là chán quá.”

Theo tướng ngụy Lý Tòng Bá và Dư Quốc Đống kể lại trên đài radio “Chân trời mới” và một số đài phát thanh Việt ngữ ở Houston, Texas, Hoa Kỳ năm 2004. Trong ngày 30 tháng 4 năm 1975, một nhân viên ngoại giao Trung Quốc đã gặp riêng Dương Văn Minh và khuyến khích hãy cố thủ, án ngữ Vùng 4 Chiến thuật, hứa hẹn sẽ đem quân đánh vào biên giới miền Bắc Việt Nam để giải vây cho ngụy Sài Gòn. Nhưng tình thế bi đát, Mỹ bất lực, buông tay, bỏ rơi, tình hình của ngụy Sài Gòn đã tuyệt vọng không còn cách nào cứu vãn. Dù quân Trung Quốc có thật sự làm vậy thì cũng không thể nào ngăn cản được khí thế tiến công của quân dân miền Nam từ nông thôn tràn về giải phóng Sài Gòn, sào huyệt của ngụy quyền Sài Gòn.

Rất nhiều tư liệu, hồi ký, hồi ức của các chóp bu ngụy, sĩ quan ngụy đã thừa nhận việc này. Ví dụ ông Dương Văn Minh sau khi định cư ở Pháp, đã kể lại cho các sinh viên Pháp gốc Việt trong một buổi nói chuyện thân mật ở Paris rằng trong ngày 30 tháng 4, khi ngụy quyền Sài Gòn trong cơn hấp hối, sắp sụp đổ, thì người của Trung Quốc đã tìm cách liên lạc với chính phủ Dương Văn Minh thông qua sự trung gian của người Pháp, đề nghị viện trợ, giúp đỡ khẩn cấp ngụy Sài Gòn chống lại quân dân miền Nam.

Theo cựu chuẩn tướng quân đội Sài Gòn Nguyễn Hữu Hạnh (hiện đang là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), thì sáng ngày 30-4-1975, tướng tình báo Pháp Francois Vanussème đã đến “Phủ thủ tướng” gặp “tổng thống” Dương Văn Minh, đề nghị kêu gọi Trung Quốc can thiệp để cứu ngụy quyền Sài Gòn đang trong cơn nguy cấp. Tướng Minh vốn đã được Ban Binh vận Trung ương cục miền Nam thông qua em trai Dương Thanh Nhựt (bí danh Mười Ty, người của cách mạng) và gia đình đã thuyết phục từ trước, nên ông đã khước từ và nói: “Tôi cảm ơn thiện chí của ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã từng làm tay sai cho Pháp, rồi tay sai cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Cộng.” Cựu “dân biểu” Sài Gòn Lý Quý Chung, Bộ trưởng Thông tin trong ngụy quyền Dương Văn Minh, trong hồi ức “Hồi ký không tên” xuất bản ở Việt Nam cũng đề cập tới chuyện này.

Ông Nguyễn Hữu Thái, một chiến sĩ cách mạng, một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào sinh viên Sài Gòn chống Mỹ trước 1975 cũng xác nhận thông tin này. Trong bài hồi ức “Dương Văn Minh và tôi” năm 2008, ông ta kể lại: Viên tướng Pháp Francois Vanussème đội lốt ký giả hối hả đến gặp tướng Minh và các cộng sự, và nói với họ: “Hãy rút về Cần Thơ, cố thủ Vùng 4 Chiến thuật, chỉ vài ngày nữa thôi thì Trung Quốc sẽ có giải pháp trung lập hóa miền Nam”. Tướng Minh từ khước đề nghị của đặc sứ Pháp và sau đó than với cộng sự một câu khác: “Hết Tây đến Mỹ, chẳng lẽ bây giờ còn đi làm tay sai cho Tàu nữa sao!”

Đó là lý do mà trong những ngày miền Nam sôi sục khí thế, thì ít ai để ý lúc đó Trung Quốc đã tập kết trọng binh một cách bất thường ở biên giới phía Nam, đại quân áp sát biên thùy, tạo ra áp lực quân sự làm nóng biên giới. Trong khi lực lượng võ trang miền Nam Việt Nam đang tiến quân như “mưa lũ tràn về” giải phóng thành đô, thì lực lượng biên phòng miền Bắc Việt Nam phải đặt trong tình trạng báo động với một tâm trạng hoang mang không hiểu ông hàng xóm định làm gì.

Thắm tình quân dân
Thắm tình quân dân
Như vậy đã rõ, Trung Quốc không muốn một Việt Nam độc lập – thống nhất – hòa bình nên đã đi đêm với Mỹ, thực hiện chiến lược “liên Mỹ đả Việt” (聯美打越), sau khi Mỹ “bỏ con giữa chợ” thì Trung Quốc muốn đóng thay vai trò của Mỹ. Nhưng họ không ngờ “con bài” Dương Văn Minh của Mặt trận, vốn đã được Ban Binh vận Trung ương cục miền Nam, và đại tá QĐNDVN Dương Thanh Nhựt (em ruột của tướng Minh) cảm hóa từ lâu, “thân tại Tào – tâm tại Hán”. Mặt trận ngay từ đầu đã khuyến khích, động viên tướng Minh ở lại với Mỹ, vì một sĩ quan cao cấp, có chức tước cao ở trong hàng ngũ giặc thì có lợi cho kháng chiến hơn, phát huy giá trị hơn.

Những ngày cuối tháng 4 năm 1975, “con bài Dương Văn Minh” đã phát huy tác dụng, các tổ chức bí mật của ta ở trong chóp bu ngụy quyền đã cùng với tướng Minh giành quyền từ tay ông lão chống cộng cực đoan Trần Văn Hương, không nghe lời Mỹ, bác bỏ mọi uy hiếp, dụ dỗ của Trung Quốc, đầu hàng vô điều kiện và kêu gọi binh lính bỏ vũ khí đầu hàng làm Mỹ và Trung Quốc đều bị bất ngờ.

Sự kiện trên cũng cho thấy, Trung Quốc không chỉ muốn “liên Mỹ đả Việt”, mà còn muốn thay thế vai trò của Mỹ đối với ngụy quyền. Vì khách quan mà nói, Mỹ đã “bỏ con giữa chợ”, hoàn toàn bỏ rơi ngụy Sài Gòn từ sáng ngày 30/4/1975. 4:58 sáng thì Martin đã rời Việt Nam. 7 giờ sáng những quân nhân cuối cùng của Hoa Kỳ cũng rời khỏi Việt Nam. 7:53 sáng chiếc trực thăng quân sự cuối cùng của Mỹ chở 10 người lính Thủy quân Lục chiến Mỹ cuối cùng tháo chạy khỏi Việt Nam. Không đầy 4 giờ sau, ngụy quyền sụp đổ, ngụy quân tan rã. Còn 2 tướng Fredrick C. Weyand và John Murray thì đã bỏ chạy khỏi Việt Nam ngay từ chiến dịch Mùa xuân 1975, trước chiến dịch Hồ Chí Minh.

Như vậy, kết quả cuộc chiến đã được định đoạt vào lúc 7:53 sáng ngày 30/4 khi người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi lãnh thổ Việt Nam, chứ không phải khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vào 11:30 trưa hôm đó, tướng Minh là quân bài của Mặt trận từ lâu, và tác dụng của việc tuyên bố đầu hàng và kêu gọi buông súng chỉ là để cho không còn đổ máu vô ích, đánh gục những sự ngoan cố cuối cùng của một bộ phận quá khích.

Trung Quốc lá mặt, lá trái không những với Việt Nam, mà còn với cả đồng minh mới Hoa Kỳ, đồng minh mà họ đi đêm từ năm 1972. Âm mưu qua mặt Mỹ, nhặt lại công cụ mà Mỹ đã sử dụng và vừa mới vứt bỏ cách đó vài giờ. Mỹ – Trung, một bên vỏ quýt dày thì một bên móng tay nhọn, bên tám lạng, người nửa cân, hình thành một mối quan hệ bạn thù khó phân.

Henry Kissinger khi nói về Chiến tranh biên giới Việt – Trung, cũng đã thừa nhận: “Trung Quốc giúp đỡ Hà Nội để làm cùn bớt lưỡi dao của Mỹ thọc vào châu Á.” và “Hà Nội chỉ chiến đấu với một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản Việt Nam, chiến thắng vào năm 1975, chính là mối đe dọa chiến lược to lớn đối với Trung Quốc còn hơn đối với Mỹ.”

Không những các thỏa thuận giữa Trung Quốc với Mỹ, những mưu đồ chiến lược của họ đã bị thất bại, mà một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa độc lập, thống nhất, phát triển, hội nhập, và có uy tín và vị thế chính trị ngày càng cao trên trường quốc tế, sẽ mãi là vật cản, chướng ngại không thể nào san bằng cho mưu đồ bành trướng bá quyền Đại Hán của Trung Quốc ở Đông Dương và Đông Nam Á. Thắng lợi lịch sử của dân tộc Việt Nam ngày 30/4/1975 không chỉ là thất bại lớn của Hoa Kỳ, mà cũng là thất bại lớn của Trung Quốc.

Những giọt nước mắt hạnh phúc

Lịch sử chia cắt Việt Nam

Kể từ thời Trịnh – Nguyễn phân tranh rồi cuộc chiến giữa Tây Sơn – Nguyễn, Việt Nam chưa bao giờ có được sự thống nhất thật sự, triệt để và lâu dài. Trong thời Nguyễn sau này cũng xảy ra cuộc nổi dậy quy mô của Lê Văn Khôi đánh chiếm 6 tỉnh ròng rã 2 năm trời và hàng loạt cuộc khởi nghĩa nông dân khác chống lại ách thống trị phong kiến của nhà Nguyễn. Nội chiến nối tiếp nội chiến.

Khi thực dân Pháp xâm lược và thôn tính nước ta, họ chia Đại Nam ra 3 kỳ, 3 xứ riêng lẻ (Nam Kỳ – Cochinchine, Trung Kỳ – Annam, Bắc Kỳ – Tonkin) với 3 chế độ cai trị khác biệt, phục vụ cho chính sách “chia để trị”, “dùng người Việt trị người Việt”. Đây cũng là chia cắt, nhưng do giặc xâm lăng chia cắt, không phải là nội chiến.

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam phục hồi nền độc lập sau gần 100 năm Pháp thuộc và mấy năm bị giặc Nhật xâm lược. Chính phủ Việt Nam DCCH tuyên bố độc lập và thống nhất, xóa bỏ chế độ Bắc – Trung – Nam của thực dân, phát xít. Tuy nhiên, sau đó quân Tàu Tưởng kéo vào miền Bắc, liên quân Anh – Pháp kéo vào Nam, sau đó thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, mưu đồ tái chiếm thuộc địa, đại nghiệp thống nhất đất nước bị kẻ thù ngăn trở. Quân dân Việt Nam trên toàn quốc phải bước vào cuộc chiến tranh khốc liệt chống quân Pháp xâm lược.

Sau trận Điện Biên Phủ, giải phóng xong miền Bắc Việt Nam, giành được độc lập tự do thực tế trên nửa nước, lúc đó quân dân Việt Nam vẫn còn sức để chiến đấu giải phóng nốt miền Nam, nhưng Đảng và Bác Hồ muốn tranh thủ hòa bình, dưỡng sức nuôi quân đợi thời cơ, và không muốn đồng bào, chiến sĩ phải tổn thất thêm, xương máu đổ xuống thêm, đất nước bị tàn phá thêm, và cũng không muốn dồn Pháp vào đường cùng, vào chân tường, chọc họ liều lĩnh gây tội ác, do đó đã mở ra một con đường cho Pháp xuống nước và giữ thể diện, chấp nhận cho Pháp nghị hòa và đàm phán trong hội nghị Genève.

Sau khi chắc chắn rằng Hiệp định Genève về Đông Dương này đã có các điều khoản về sự đảm bảo chủ quyền, độc lập, thống nhất, và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, vĩ tuyến 17 chỉ có ý nghĩa quân sự (military zone), và nuôi hy vọng về một cuộc tổng tuyển cử năm 1956 trên toàn quốc để hoàn toàn thống nhất đất nước, cũng như dự tính về những cuộc đấu tranh chính trị trong 2 năm đó để gây sức ép, tạo áp lực cho Pháp, Mỹ, ngụy ở miền Nam phải nghiêm chỉnh thực hành hiệp định Genève, tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước, cộng với những ràng buộc mang tính nguyên tắc trong hiệp định rằng quân đội thực dân Pháp phải cuốn gói rời khỏi Đông Dương trong vòng 2 năm, nên Việt Nam đã chấp nhận ký Hiệp định Genève 1954 với Pháp. Sự nghiệp thống nhất tạm hoãn 2 năm.

Sau đó Mỹ, vốn trong chiến tranh Pháp – Việt chính là kẻ đứng sau thực dân Pháp, đã từ hậu trường nhảy ra phía trước sân khấu, lần lượt thu mua, chiêu hồi các tay sai cũ của Pháp, sử dụng các công cụ ngụy quyền, ngụy quân mà Pháp đã sử dụng và để lại, từng bước hất cẳng Pháp ra khỏi võ đài chính trị ở miền Nam Việt Nam. Mỹ-ngụy đã xé bỏ Hiệp định Genève về Đông Dương để chia cắt đất nước, đóng cửa vĩ tuyến 17, canh giữ sông Bến Hải, ngăn cầu Hiền Lương, chia cắt không cho miền Nam và miền Bắc gặp nhau, gây khó khăn một cách có hệ thống cho việc giao lưu, qua lại, liên lạc Bắc-Nam. Mỹ-Diệm chia cắt không cho Nam-Bắc hiệp thương, giao thương, quan hệ. Họ chia cắt, ngăn cản không cho lãnh đạo miền Bắc vào miền Nam, không cho Đảng bộ miền Nam liên hệ ra Bắc.

Trong lịch sử phong kiến, Loạn 12 sứ quân đã chia ra 12 vùng ảnh hưởng khác nhau, chiến tranh Nam – Bắc Triều giữa nhà Mạc và Trịnh-Lê, phân tranh Nam Hà – Bắc Hà, Đàng Trong – Đàng Ngoài giữa 2 thế lực Trịnh – Nguyễn là chia cắt kiểu nội chiến, nghĩa là chia cắt vì mỗi vùng hình thành một lực lượng địa phương, không phục nhau, ly khai với nhau. Hoặc có nhiều phe đảng khác nhau chống nhau rồi kéo đến nơi nào đó dựng nghiệp, xưng hùng một cõi.

Chia cắt thời Tây Sơn ở phía Nam, nhà Lê của Lê Chiêu Thống ở phía Bắc là loại chia cắt đã có từ trước, bắt nguồn từ Trịnh – Nguyễn phân tranh từ các thế hệ trước. Nhưng trong thời điểm này thì Nam Hà có thực lực và độc lập thật sự, còn Bắc Hà sau một thời gian cát cứ quân phiệt, hỗn quân hỗn quan đánh loạn lẫn nhau, tranh giành quyền lực, rồi sau đó giặc Thanh tiến vào “bảo vệ triều đình”, “giúp An Nam quốc vương chống giặc Nguyễn Huệ – Tây Sơn”, “giúp đỡ Lê Duy Kỳ khôi phục ngai vàng, khôi phục nhà Lê, khôi phục cơ nghiệp tổ tông”, “phù Lê diệt Huệ” v.v. Sau khi Lê Chiêu Thống sang cầu viện thì Bắc Hà đã thuộc về quyền kiểm soát của vua Càn Long và nhà Thanh, triều đình Lê Chiêu Thống chỉ là cái “đuôi trâu” không có quyền hành gì thật sự, người Hoa, người Thanh muốn làm gì thì làm, hoành hành bá đạo, nhũng nhiễu lương dân bá tánh. Chia cắt đấy, nhưng chỉ có Nam Hà là thuộc quyền lãnh đạo của người Việt, còn Bắc Hà là bị người Mãn Thanh xâm lược và chiếm đóng.

Chia cắt thời Pháp thuộc là chia cắt kiểu bị đô hộ. Khi tên đô hộ làm chủ và có quyền hành ở cả 3 nơi bị chia cắt. Họ chia nước ta ra làm 3 miền, 3 xứ, với 3 hệ thống cai trị khác nhau, hầu dễ bề “chia để trị”, chia rẽ dân tộc Việt Nam và thực hiện chính sách “dùng người Việt trị người Việt”.

Chia cắt sau Hiệp định Genève về Đông Dương là chia cắt kiểu một bên là một Việt Nam giải phóng nửa nước, có độc lập nhưng chưa thống nhất trên thực tế, một bên là dưới quyền thực dân Pháp chưa chịu rút hết, vẫn đang cố gắng níu kéo, bám víu cho kỳ được.

Sau đó Mỹ xông vào và từng bước lấn dần quyền lực của Pháp và sau đó hất cẳng Pháp hoàn toàn, thay vào vị trí và vai trò của Pháp. Mỹ đã xâm lược, chiếm đóng, và kiểm soát miền Nam Việt Nam, chia cắt lâu dài đất Việt, ngăn cấm miền Bắc và miền Nam gặp nhau, không cho đến với nhau. Các lãnh đạo, tướng lĩnh, chiến binh miền Nam muốn ra Bắc thì phải đi lén lút khổ sở. Miền Bắc muốn chi viện cho miền Nam thì phải hành trình thầm lặng, vất vả, gian nan và nguy hiểm qua Đường Trường Sơn, Đường Hồ Chí Minh trên biển, và 3 “Đường mòn Hồ Chí Minh” bí mật khác. Quân đội Mỹ chinh phạt, bình định, đàn áp, càn quét, tấn công khắp miền Nam và phá hoại miền Bắc.

Đại nghiệp thống nhất đất nước, thống nhất dân tộc dở dang sau Cách mạng tháng Tám, sau Tuyên ngôn Độc lập, sau hội nghị Genève, sau kháng chiến chống Pháp cuối cùng cũng đã hoàn thành vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Thống nhất đây là thống nhất tất cả: Thống nhất Nam-Bắc, thống nhất Bắc-Trung-Nam, thống nhất miền Nam, thống nhất vùng tạm chiếm và vùng giải phóng, xóa đi các “mảnh da báo”, lấp lại những hố ngăn cách, thống nhất toàn bộ. Về mặt pháp lý quốc tế, thì năm 1976 họp Quốc hội là thống nhất Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam, thành nước CHXHCN Việt Nam. Nói chung là thống nhất toàn bộ, thống nhất tất cả, thống nhất triệt để. Ngày nay chúng ta đi từ Hà Nội đến Sài Gòn chỉ mất 2 giờ bay, ngày trước cha anh đã đi mất 21 năm.

Ngày 30/4, dân tộc Việt Nam cuối cùng cũng hoàn thành được sự nghiệp thống nhất, điều mà đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam chưa từng có kể từ khi giặc Tây vào xâm chiếm, đô hộ, nô dịch và chia nước ta ra làm 3 xứ thuộc địa, điều mà nhân dân VN tranh đấu và hy sinh gian khổ suốt một thời kỳ giành độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc lâu dài từ thời Pháp thuộc đến ngày toàn thắng, hoàn toàn thống nhất quốc gia và giải phóng hoàn toàn miền Nam, đưa đất nước thoát khỏi nỗi đau chia cắt và tất cả giặc ngoại xâm.

Thiếu Long


GÁI NAM VÀ GÁI BẮC

Cuteo@ chôm từ Blog 5xu

Bài này chỉ để vui, xả xì chét chứ không phải là câu chuyện nghiêm túc! Chúc các bạn vui vẻ.
———————————————–

Gái miền nam nó yêu mình, mình là ông chủ. Đúng kiểu xuất giá tòng phu. Mình đi làm vất vả về muộn, say xỉn, nó chạy ra ngọt ngào: anh đi làm về có mệt không. Anh ăn gì, uống gì.

Gái bắc, nó yêu mình, nó sở hữu mình luôn. Đi làm về muộn 15 phút, mặt nó như cái mâm.
Gái nam mình xỉn, nó chăm mình nôn mửa các kiểu. 

Gái bắc mình xỉn, nó gọi đt cho bạn mình để kiểm tra đi đâu, mình xỉn, nôn mửa, thì kệ mình.
Gái nam nó không đòi hỏi nhiều trách nhiệm. Yêu và cưới tự nhiên như không. Con gái bắc, mình cầm tay nó là nó coi như mình có trách nhiệm với nó cả đời. Thế mới tệ chứ.

Gái miền nam gần như không có khái niệm bình đẳng giới. Gái bắc thì lại bình đẳng quá. Nhiều khi không biết ai là tướng trong gia đình.
Gái bắc mà có chồng tòng teng, nó cắt chim luôn. Vì nó cho rằng chim chồng nó là của nó. Cắt xong rồi ngồi khóc hu hu.
Gái nam mà có chồng tòng teng. Nó đến phang con kia bét nhè luôn. Xong về nhà vẫn thờ chồng như một, chả vấn đề đ’o gì.
Gái bắc mà ko hài lòng về chồng, ví dụ chồng lăng nhăng. Đến cơ quan kể um với chị em đồng nghiệp. Chị em xúm lại “Bỏ mẹ nó đi, cần đ’o gì”. Bình đẳng giới mà.

Gái nam thì không có khái niệm không hài lòng về chồng. Nhưng gái nam, nó là bồ mình, nó là vợ mình, mình phải lo cho nó đến tận răng. Tức là mình làm ăn ngày càng phải tấn tới. Mình sa cơ lỡ vận, nó té mẹ nó luôn.

Gái bắc, mình sa cơ, nó đi bán rau, bán cháo để nuôi mình.
Nhưng tình yêu thường mù quáng. Vậy gái nam gái bắc phân biệt làm gì. Thời buổi giá trị đảo lộn. Yêu được là hạnh phúc lắm rồi. Phân biệt cho vui thôi.

NHỮNG THỨ MÀ HỌ PHANG

Bản gốc xem ở đây
Phang đê!


Nói chuyện với các dịch giả chín chắn, thường khi nhắc đến cuốn này dịch sai cuốn kia dịch sai, họ thường bảo: sai thì có gì, chuyện bình thường.

Nói thế cũng đúng. Vì có làm (dịch) thì phải có sai. Bác sĩ, làm việc trên tính mạng con người, nhiều ông giỏi vãi chầy ra còn khám sai, mổ sai . Thế nên mới có lời khuyên là bị bệnh nặng thì phải khám mấy chỗ khác nhau. Còn mổ xẻ thì có cả một ca mổ hỗ trợ cái ông cầm dao. Tất cả chỉ là để giảm thiểu (tối đa) sai sót.

Thế nên dịch dọt mới có biên tập. Biên tập giỏi và cứng tay, dịch lại bản dịch của dịch giả đến cả nửa cuốn là bình thường hehehe.

Thế nhưng, ở VN, dịch giả không biết vì nguyên cớ gì thì nổi cứ như pop star, cứ như học giả, còn biên tập viên thì cứ lọ mọ, cứ …hèn hèn. Dịch giả ngồi lên đầu biên tập là bình thường. Dịch giả dịch một cuốn, còn biên tập viên thì cùng lúc ôm mấy cuốn. Thấy sai mà sửa cho đúng đã ong cả não lên, lại gặp phải dịch giả ngôi sao suốt ngày cự nự: không được sửa chỗ này, không được sửa chỗ kia. Cãi nhau mất thời gian, cho nên thôi kệ mẹ. Sai cũng kệ mẹ.

Đâm ra biên tập viên cứ yếu dần, rồi lương biên tập viên cũng bèo, việc thì ngày càng nhiều. Dần dà, đâm ra cứ làm quấy quá cho xong.

Rồi thì biên tập viên và dịch giả lại cùng một ổ, do một nhà trả lương, làm cùng nhau cùng một office. Có khi biên tập viên lại là nhân viên cấp dưới, hoặc là bạn của dịch giả. Nên lại càng dễ bỏ qua chỗ sai. Hoặc là tặc lưỡi, sếp là dịch giả nổi thế, chắc chả sai mấy đâu.

Lẽ ra, nếu dịch giả là người nhà của nhà xuất bản, thì bản dịch ấy phải thuê biên tập ngoài. Và ngược lại, nếu dịch giả ở ngoài thì dùng biên tập viên ruột của mình. Làm thế thì hai bên mới thẳng tưng ra mà mổ nhau, mới mong có ít sai sót. Ấy là nói biên tập viên có trình. Chứ biên tập viên yếu cả về trình độ, yếu cả bản lĩnh, cũng khó mà mổ được dịch giả. Mổ nó được một phát, nó đạp lai cho mấy phát vỡ mẹ sủ. Cứ lâu dần, càng ngày biên tập càng lép vế. Đúng ra, lẽ ra, thì ngày qua ngày, năm qua năm, càng ngày biên tập viên càng phải có vai trò lớn hơn, oách hơn.

Cho nên dịch sai lúc đầu là do dịch giả. Bản thảo vẫn sai là do biên tập viên: không đủ bản lĩnh và trình để vặc dịch giả, dưới cơ dịch giả nên bị đè. Xuất bản phẩm vẫn sai là do nhà xuất bản: không rạch ròi biên tập và dịch giả, cả hai cùng là quân nhà.

Có những dịch giả già, trước 75 vừa làm giáo sư ngôn ngữ trong đại học, vừa dịch sách. Sau 75 mỗi người một nơi, danh tiếng mờ nhạt, thua danh các dịch giả trong nước cả trăm lần, mà đẳng cấp trình độ thì có khi ngược lại. Nhưng nói chuyện với họ về chất lượng các bản dịch gần đây, các dịch giả già đều tránh phê bình chất lượng (dù lúc trà dư tửu hậu, họ vạch ra toàn cái sai chết người). Họ bảo mình làm nghề dịch, tránh phê bình đồng nghiệp. Việc đấy dành cho các vị phê bình dịch thuật.

Những dịch giả sau này quên mất dịch giả cũng là một nghề như bác sỹ, kỹ sư, cái quan trọng là làm tốt nghề của mình và sống bằng nghề đấy. Cái danh của mình cũng nên khoanh trong cái cộng đồng trong nghề biết, không phải là cái danh chìa ra đám đông mà ưỡn ngực. Đâm ra hay chê bản dịch người khác. Suốt ngày chê cuốn này cuốn kia dịch kém, dịch tồi, dịch hỏng, dịch thảm họa. Quên mất rằng mình cũng làm nghề dịch, và cái sai, cái thảm họa, nó không tránh một ai. Rồi sẽ có ngày, cũng như một bác sĩ giỏi, bên gan bệnh không cắt mà cắt bên gan tốt. Cắt xong rồi chỉ biết cười chứ biết làm sao. Chả ai có thể bênh được mình lúc ấy, ngoài đồng nghiệp. Mà đồng nghiệp mình lỡ chửi họ ngu rồi, giờ biết tính sao. Người đúng ra cùng gánh trách nhiệm với mình trước độc giả, là biên tập viên, mình cũng lỡ ngồi lên đầu họ rồi, làm sao họ cùng đứng ra lãnh đạn với mình được nữa.

Dịch giả cũng không nên …khen. Dịch giả bây giờ ngoài dịch sách, còn đi giới thiệu tác phẩm ở event hoặc viết bài. Dịch giả có thể giới thiệu tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, chứ đừng nên giới thiệu dịch phẩm. Bởi giới thiệu dịch phẩm bản chất đã là khen chê sản phẩm của dịch giả khác. Chê hậu quả thế nào, đã nói ở trên. Còn khen cũng hãi lắm. Khen một cuốn dịch giỏi dịch hay, xong về sau hóa ra là một dịch phẩm tồi, thì còn biết ăn biết nói làm sao. Có anh vừa dính một vụ khen nhầm thế này, nghe nói bây giờ sáng nào cũng phải ăn một quả trứng vịt lộn.

Thực ra còn một bệnh của dịch giả nữa, là bệnh cứ bô bô là dịch phải sáng tạo, hoặc có ông còn bệnh hoạn đến mức đòi dịch giả phải là đồng tác giả nữa. Việc này thôi không bàn, vì dịch mà sáng tạo thì giải nhất sẽ thuộc về quả dịch Cây Gạo Giáp Thân vừa rồi om xòm trên Facebook.

Rồi nhà xuất bản, là cái nơi xét cho cùng, tưởng đâu là phải chịu trách nhiệm cuối cùng về một bản dịch tồi, nhưng nếu nhìn từ quan điểm kinh doanh, thì lại là nạn nhân. Mỗi cuốn sách là một dự án, nhà xuất bản trả tiền để làm dự án ấy: mua bản quyền, dịch, biên tập, in, quảng cáo. Tốn một mớ tiền mà bị ăn chửi.

Tất nhiên tiên trách kỷ. Nxb sai từ cái gốc là tham: trong quy trình dịch biên tập (không rạch ròi biên tập là người trong nhà thì dịch giả phải là người ngoài và ngược lại), không bảo vệ, nâng đỡ biên tập viên để họ đủ sức chiến đấu với dịch giả để có bản dịch tốt hơn, ép biên tập viên làm khối lượng bản thảo quá sức họ khiến cho họ làm quấy quá để kịp tiến độ, và tệ nhất là không biết đánh giá trình độ thực của dịch giả và biên tập để giao cho họ làm những bản thảo đúng sức của mình.

Rồi hậu trách nhân. Nếu thị trường sách lớn hơn, một cuốn sách bán được nhiều bản hơn, thì các nhà xuất bản đâu còn phải chạy theo đầu sách mới để có doanh thu. Nếu một đầu sách bán được nhiều bản hơn, thì số đầu sách làm trong tháng, trong năm giảm đi, chất lượng sẽ tăng lên.

Hậu nữa là công chúng. Đã bỏ tiền ra mua sách, thấy cái sai là phải ném đá. Ném kịch liệt, ném tan nát. Nhưng chỉ ném vào cái chỗ sai thôi, để nhà xuất bản họ cải thiện chất lượng sản phẩm. Chứ không phải ném để đóng cửa nhà xuất bản. Cái sai của một cuốn sách dịch, so với cái sai của Vinashin chả hạn, chỉ bằng cái lỗ đít con vi trùng. Làm đéo gì mà suốt ngày thảm họa với chả thảm họa. Sốt cả ruột. Sai thì bảo các ông sai rồi, xin lỗi độc giả đi, dịch lại cho đàng hoàng đi, không thì bố mày không mua sách nữa.

Mà có khi tốt nhất là đừng mua sách, đừng đọc sách nữa. Đọc sách chỉ mà để lên mạng chửi nhau (như tôi đang làm đây) thì thà mù sách còn hơn. Sáng giờ lẽ ra đi xe ôm hay quay nước mía kiếm được ít tiền, thì ngồi nhà viết bài như vầy. Cứ bảo sao nước mình mãi nghèo.

Ký tên: Một biên tập viên nghèo hèn kiêm một dịch giả chuyên dịch những thứ vô danh, không có cả tên tác giả.

Nguồn: Blog 5xu

HÒA BÌNH CHƯA YÊN

TT – Từ ngày đất nước thống nhất, có lẽ biển đảo chưa bao giờ “nóng” như bây giờ. Khi chúng ta đang tổ chức lễ khao lề thế lính Hoàng Sa và hội thảo quốc tế khẳng định chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa thì Trung Quốc lại bán tour du lịch cho 100 du khách đầu tiên ra tham quan Hoàng Sa vào đúng ngày này.

Từ khi họ chiếm Hoàng Sa (năm 1974), chưa bao giờ họ đổ tiền bạc, của cải vào xây dựng Hoàng Sa nhiều như bây giờ. Cũng chưa bao giờ họ mạnh miệng tuyên bố Hoàng Sa là Tây Sa của họ liên tục như bây giờ. Họ không chỉ nói và nói, mà đang làm và làm những gì họ đã nói. Họ đã quy hoạch Hoàng Sa thành “pháo đài” của họ trên biển Đông. Họ đang có nhiều hành động để biến dần cái quy hoạch ngang ngược ấy thành hiện thực.

Chúng ta đã phản bác những lời nói và hành động khiêu khích đó của họ không chỉ bằng con đường ngoại giao. Không chỉ các cơ quan nhà nước mà các hội đoàn, các nhóm chuyên gia, thậm chí nhiều cá nhân người Việt đã làm bằng nhiều cách để chứng minh chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa thuộc Việt Nam. Nhưng những hành động đó của chúng ta chưa đủ mạnh để làm biển Đông bớt dậy sóng.

Tháng 4 này, người Việt nghĩ về ngày thống nhất, nghĩ về ngày hòa bình nhưng tin tức dội về cho thấy ngày hòa bình chưa thật sự bình yên trên lãnh thổ Việt Nam. Chúng ta như cây muốn lặng nhưng sóng gió từ phương Bắc chẳng chịu ngừng. Ngư dân chúng ta ra khơi xa luôn đối mặt với bao hiểm nguy chực chờ, hết thiên tai rồi lại nhân tai. Họ là những “cột mốc sống” cần được bảo vệ như bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Muốn vậy, Việt Nam phải là quốc gia mạnh. Và khoảng thời gian 40 năm đủ để “từ đống tro tàn chiến tranh, phượng hoàng cất cánh bay lên”. Nhưng sau 38 năm đất nước thống nhất, Việt Nam mới chỉ thoát khỏi danh sách những nước nghèo.

Nguồn lực lớn nhất của một quốc gia là con người, nhưng nó chỉ trở thành nguồn lực mạnh nhất khi mọi người đều được góp tay, góp sức xây dựng đất nước. Kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc hay một quốc gia rất bé nhỏ như Singapore đã chứng minh rất rõ điều đó. Không lẽ đầu óc, ý chí của người Việt không bằng người Nhật, người Hàn hay người Singapore? Không và chắc chắn không đến nỗi như vậy! Mà nhiều người nghĩ rằng do chúng ta chưa tập hợp được hết sức mạnh và ý chí của dân tộc ta. Chắc chắn chúng ta sẽ mạnh hơn.

Nghĩ về ngày thống nhất, thật sự mong có những ngày hội non sông hằng năm để tất cả đồng bào ta được nói, được nghe, được sống trong không khí không có gì có thể khuất phục chúng ta “cất cánh bay lên”. Không mạnh, chúng ta khó có thể giữ toàn vẹn lãnh thổ cho con cháu chúng ta muôn đời sau!

XUÂN TRUNG

SẾN ÍT THÔI, KƯNG!

Bài gốc của Đỏ, xem ở đây
HÌNH ĐỎ NÀY ĐỂ NGẮM CHỨ KHÔNG MINH HỌA
Anh ku Đỗ Hùng vừa tương lên Thanh Niên bài: “Để trong nước và hải ngoại san bằng cách biệt“. Cũng chẳng ngạc nhiên gì lắm vì anh ảnh từng tâm sự “Cờ đỏ cờ vàng” cực sến bên lóc. Dưng đã lên báo Đảng thiết nghĩ nên nói đôi lời để rộng đường sến luận. 
Trước khi bàn chuyện cách biệt và san bằng cách biệt, anh ku Hùng phải xác định rõ ràng hải ngoại là ai nhé. Là hơn 4 triệu con Vịt đương sinh sống, làm ăn ở các trang trại Sư tử, Hổ, Báo, Voi, Beo, Gấu, Chồn, Ngựa, Nai v…v. Hơn 90% sang chuồng, đổi trại vì các lý do sinh ra ở bên ngoài quê hương, học tập, lao động, đoàn tụ gia đình, buôn lậu, trồng “cỏ”, hôn nhân, đầu tư v…v. Tổng đàn này, từ những con lưu ở các trại gia súc cựu XHCN, đến bầy đàn đương ngụ cư tại các chuồng chăn nuôi tư bản, chẳng có khác biệt gì với thân cày bừa trong nước cả. Cứ nhìn vào số kiều hối mà đo lòng dạ hải ngoại cho chắc. Chúng chỉ chăm chăm một mục đích thôi: đánh quả khác biệt giữa đồng Cụ với đô la/ euro/ bảng/ rúp/ won/ yên/ tân đài tệ/ ringit/ bạt/ kíp/ riel/ koruna v…v để kiếm cơm. Tuyệt nhiên chúng không hề khao khát 2 đồng này được san bằng cách biệt. 
Còn lại một nhúm cách biệt, nhúm tướng tá quan lính Ba Que hận 30/4 và con cái kế thừa nỗi hận mà nhân vật Hoàng Duy Hùng được đại diện. Nhúm này cho quá tay 10% đi, cũng chưa bao giờ và mãi mãi không bao giờ đủ số lẫn lượng tư cách đại diện cho cộng đồng hải ngoại trong vế cân bằng với 90 triệu quốc nội. Chưa thèm kể, nếu nói về F1 của họ, thì chỉ cần đem Nguyễn Cao Kỳ Duyên đối lập với Hoàng Duy Hùng thôi đủ làm bật ra vấn đề; sự khác biệt mà báo Thanh Niên đang đề cập thực chất chỉ là một nhúm cỏn con hận thù cá nhân ích kỷ đến mức thành tội ác phản bội cội nguồn của mình. Tội ác này được san lấp aka đem chôn vào quên lãng đã quý lắm rồi, có cửa đâu mà đòi san bằng. 

Thật nực cười, một ông nghị viên thành phố Mỹ, quốc tịch Mỹ, tuyên thệ trung thành với Mỹ, cả đời sống ở Mỹ lại huênh hoang “đấu tranh cho nguyên vọng của đồng bào trong nước”. Làm báo sến đến mức này thì phải nghĩ ngay đến độ IQ có vấn đề, nếu không thì cầm chắc “rận chủ”
Nhưng thôi, anh ku Hùng vốn tiền án tiền sự sến ai cũng biết, không cần quàng thêm khoản IQ để anh ảnh còn đường phấn đấu. Cơ mà phải sến ít thôi, kưng.

GA LĂNG

LâmTrực@

Vui thật,

Một hình ảnh đẹp, vừa có lý vừa có tình. 

Trên mạng xuất hiện Clip “Chuyện tình anh cảnh sát có động“. Đoạn clip dài hơn một phút nhưng khiến cộng đồng mạng xôn xao.

Khỏi phải bàn, cái tình và cái lý (Luật) được thể hiện khá rõ nét trong Clip. Sự tỉnh táo và tính vì dân được kết hợp hài hòa, lãng mạn.  Có lẽ chỉ cần nói một từ: PHÊ là quá đủ.



Cái đẹp được thể hiện ngay trên đường phố tạo nên làn sóng còm trên mạng:

– Eo ôi, thế thì mình cũng thử đi xe đạp điện không đội mũ xem sao, biết đâu lại gặp được chàng cơ động?

– Sao CSGT không chở người vi phạm, để anh CSCĐ đạp xe một mình có phải đỡ mệt không nhỉ?

– Hỏi vớ hỏi vẩn, chở người k đội mũ bảo hiểm đi xe máy thì CSGT lại vi phạm luật à? Đó là giải pháp an toàn nhất, tình nhất.

– Khổ thân anh Cơ động, là mềnh thì mềnh né lun, khỏi phải phạt làm giề cho mệt.

– Anh CSCĐ ga lăng quá, chắc cố tình đạp xe chở bạn nữ về đồn để xin số điện thoại.

– CSCĐ thì chắc phải khỏe rồi, cơ mà anh này chắc đang muốn tập thể dục.

– Ngồi sau anh cơ động cảm giác an toàn cực, tớ đã từng bị như vậy rồi….

Clip anh chàng CSCĐ hì hục đạp xe: