TÌNH BÁO MỸ

TÌNH BÁO MỸ

(Paul R. Pillar, tạp chí Foreign Policy)

Tôi đã phục vụ cho CIA trong 28 năm và tôi có thể nói với các bạn: những vụ lộn xộn của Mỹ xuất phát từ những nhà lãnh đạo tồi, chứ không phải từ những điệp viên chẳng ra gì.

“Tổng thống ra các quyết định dựa trên tin tức tình báo”.

Không phải là những quyết định lớn.

Từ việc George W.Bush loan báo ầm ĩ nhũng báo cáo vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD) về Irắc cho đến việc các ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Cộng hòa vào năm nay thề định ra chính sách ở Ápganixtan dựa trên những đề xuất của cộng đồng tình báo, người Mỹ thường có cảm giác rằng sự kiểm soát của các nhà lãnh đạo của họ được chỉ dẫn ở nước ngoài bởi bộ máy gián điệp nổi tiếng của họ. Trên hết, mỗi năm Mỹ chi khoảng 80 tỷ USD cho tình báo, mà mang lại rất nhiều sự chỉ dẫn quan trọng hàng tuần về các vấn đề từ truy lùng những kẻ khủng bố đến chống lại những khả năng quân sự đang tăng lên của Trung Quốc. Phân tích này cho biết việc ra quyết định hàng ngày của các nhà hoạch định chính sách và đôi khi khiến họ nhìn vào các vấn đề một cách kỹ lưỡng hơn, như mối đe dọa đang nổi lên từ al-Qaeda vào cuối những năm 1990, so với những gì mà mặt khác họ sẽ làm.

Tuy nhiên, về các quyết định chính sách đối ngoại lớn, dù là tiến hành chiến tranh hay suy nghĩ lại tổng thể chiến lược của Mỹ ở Thế giới Arập (như Tổng thống Obama có lẽ là đang làm hiện nay), tình báo không phải là nhân tố quyết định. Những ảnh hưởng thực sự quan trọng là những ảnh hưởng mà các nhà lãnh đạo đưa cùng với họ vào cương vị của mình: giác quan chiến lược của chính họ, những bài học họ đã rút ra được từ lịch sử hay kinh nghiệm cá nhân, những đòi hỏi chính trị trong nước, và chứng bấn loạn của chính họ. Một bản ghi nhớ hay thông báo tình hình xuất phát từ một nơi nào đó không quen thuộc trong bộ máy quan liêu khó có thể có cơ hội.

Hơn nữa, không bao giờ nên đánh giá thấp ảnh hưởng của sự hiểu biết thông thường. Tổng thống Lyndon B.Johnson và nhóm giật dây của ông đã nhận được những đánh giá ảm đạm của cộng đồng tình báo về khả năng của Nam Việt Nam tự đứng vững, cũng như những báo cáo tương đối bi quan từ các nhà lãnh đạo quân sự Mỹ về cam kết có thể có về tiền bạc và thời gian của một nỗ lực quân sự của Mỹ ở đó. Nhưng họ đã không vượt qua được học thuyết đôminô – ý tưởng cho rằng nếu miền Nam Việt Nam rơi vào tay chủ nghĩa cộng sản, thì một loạt các nước khác ở thế giới đang phát triển cũng sẽ như vậy. Tổng thống Harry Truman đã quyết định can thiệp vào Triều Tiên dựa trên những bài học của quá khứ: thất bại của phe Đồng minh trong việc chống lại các cường quốc trong trục Béclin, Rôma, Tôkyô trước Chiến tranh Thế giới thứ Hai và sự thành công thời hậu chiến của phương Tây trong việc đáp trả quyết liệt sự xâm lược của chủ nghĩa cộng sản ở Ai Cập và Béclin. Sự mở cửa lịch sử với Trung Quốc của Tổng thống Richard Nixon đã được định hình bởi sự nghiền ngẫm của ông trong thời gian mờ nhạt trên chính trường về chiến lược nước lớn và chỗ đứng của ông ở trong đó. Sự khua chiêng gõ trống của Chính quyền Obama gần đây về Iran phần lớn là chức năng của công việc chính trị trong nước. Lời khuyên từ Langley, cho dù tốt hơn hay tồi tệ hơn, hầu như chẳng liên quan gì đến bất cứ điều nào trong số này.

“Tình báo tồi đã dẫn đến chiến tranh Irắc”.

Không, sự lãnh đạo tồi tệ đã dẫn đến điều đó.

Tình báo có thể đã hiển hiện rõ trong việc Bush thuyết phục về cuộc xâm lược Irắc, nhưng nó hầu như không có một vai trò nào trong bản thân quyết định này. Nếu những đánh giá của cộng đồng tình báo chỉ ra được bất cứ tiến trình hành động nào, thì đó là tránh chứ không phải phát động một cuộc chiến tranh.

Khi Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell ra trước LHQ vào tháng 2/2003 để dùng lí lẽ ủng hộ một cuộc xâm lược Irắc, ông đã lập luận: “Saddam Hussein và chế độ của ông ta đang che giấu những nỗ lực của họ trong việc chế tạo nhiều vũ khí hủy diệt hàng loạt hơn”, một nhận xét mà ông đã nói là “dựa trên tin tức tình báo chắc chắn”. Nhưng trong một cuộc phỏng vấn thẳng thắn 4 tháng sau đó, Thứ trưởng Quốc phòng Paul Wolfowitz đã thừa nhận rằng các vũ khí hủy diệt hàng loạt đơn giản là “một vấn đề mà mọi người có thể tán thành”. Cộng đồng tình báo không rung lên một hồi chuông báo động nào về chủ đề này khi Chính quyền Bush lên nắm quyền; quả thực, số xuất bản năm 2011 của tuyên bố toàn diện của cộng đồng này về những mối đe dọa trên khắp thế giới thậm chí không đề cập đến khả năng Irắc có các vũ khí hạt nhân hay bất cứ kho dự trữ vũ khí hóa học hay sinh học nào. Theo các nhân viên giữ các văn bản lưu, chính phủ không yêu cầu đánh giá tình báo tháng 10/2002 (cuối cùng có sai sót) về những chương trình vũ khí không thông thường của Irắc cái là trọng tâm của lập luận chính thức ủng hộ xâm lược – các đảng viên đảng Dân chủ trong Quốc hội đã yêu cầu và chỉ 6 thượng nghị sĩ và một số ít các hạ nghị sĩ chịu nhìn vào nó trước khi bỏ phiếu về cuộc chiến tranh này. Cả Bush lẫn Condoleezza Rice, khi đó là cố vấn an ninh quốc gia, đều đã không đọc bản đánh giá toàn bộ này tại thời điểm đó, và trong bất cứ trường hợp nào thì sự xuất hiện việc quảng bá rầm rộ về cuộc chiến tranh này đã diễn ra trước khi văn bản này được viết nên.

Nếu Bush đọc bản báo cáo của cộng đồng tình báo, thì ông đã nhận thấy lí lẽ ủng hộ xâm lược của chính quyền ông nằm ngay phía đầu. Các quan chức tình báo đã kết luận rằng không có khả năng Saddam sử dụng bất cứ vũ khí hủy diệt hàng loạt nào chống lại Mỹ hay đưa chúng cho những kẻ khủng bố – trừ khi Mỹ xâm lược Irắc và cố gắng lật đổ chế độ của ông. Cộng đồng tình báo không tin, như tổng tống đã tuyên bố rằng chế độ Irắc là đồng minh của al-Qaeda, và cộng đồng này đã dự kiến chính xác bất cứ nỗ lực nào nhằm thiết lập chế độ dân chủ ở Irắc hậu Saddam đều là một công việc vất vả, hỗn độn.

Trong một đánh giá riêng rẽ trước chiến tranh, cộng đồng tình báo đã phán đoán rằng việc cố gắng xây dựng một hệ thống chính trị mới ở Irắc sẽ là “kéo dài, khó khăn và có thể gây náo loạn”, thêm vào đó là bất cứ nhà cầm quyền nào sau Saddam cũng đứng trước “một xã hội bị chia rẽ sâu sắc với một cơ hội đáng kể rằng các nhóm trong nước sẽ tham gia cuộc xung đột bạo lực với nhau trừ khi lực lượng chiếm đóng ngăn không cho họ làm như vậy”. Đáng chú ý là thiếu vắng những đề cập đến sự chào mừng của người Irắe đối với binh lính Mỹ, hay đến việc cuộc chiến tự trang trải. Không cần phải nói rằng không một điều nào trong số đó là quan trọng đối với Nhà Trắng.

“Những thất bại tình báo làm chính sách đối ngoại của Mỹ rối tung”.

Khó có thể như vậy.

Hồ sơ về những thất bại của tình báo Mỹ thế kỷ 20 là một hồ sơ quen thuộc, và gần như không thể bàn cãi. Nhưng liệu những thất bại – hay những sự thành công – này có ý nghĩa quan trọng trong bức tranh lớn này không là một câu hỏi khác.

CIA đã dự đoán sẽ xảy ra cả sự nổ ra lẫn hậu quả của cuộc chiến tranh 6 ngày năm 1967 giữa Ixraen và các nước Arập láng giềng, một kỳ công đủ gây ấn tượng tới mức nghe nói nó đã đem lại cho người đứng đầu cơ quan tình báo Richard Helms một chỗ tại bàn tiệc trưa thứ Ba của Tổng thống Johnson. Tuy nhiên, tình báo xuất sắc không thể giúp Johnson ngăn chặn cuộc chiến tranh mà đã tạo ra những diễn biến cơ bản của cuộc xung đột khó giải quyết giữa Ixraen và Palextin hiện nay, và cơ quan tình báo của Mỹ đã hoàn toàn không thể dự tính được cuộc tấn công bất ngờ của Ai Cập vào Ixraen 6 năm sau đó. Tuy nhiên, cuộc tấn công bất ngờ hiểm ác của Ai Cập vào năm 1973 không ngăn được Nixon và Ngoại trưởng Henry Kissinger sau đó đạt được một chiến thắng ngoại giao, tận dụng cuộc xung đột này để củng cố các mối quan hệ với Ixraen trong khi phát triển chúng với Ai Cập và các nước Arập khác – tất cả gây phương hại cho các nước Xôviết.

Cơ quan tình báo Mỹ cũng nổi tiếng là đã không thể dự đoán được cuộc cách mạng Iran năm 1979. Nhưng chính sự không chú ý đến Iran của các nhà hoạch định chính sách và sự bất đồng mạnh mẽ bên trong Chính quyền Jimmy Carter, chứ không phải tình báo kém, đã ngăn không cho Mỹ đưa ra các quyết định cứng rắn trước khi chế độ của vua Ba Tư ở cận kề cái chết. Thậm chí sau những tháng hỗn loạn ở các thành phố Iran, Chính phủ Carter – bận tâm như nó là vậy với những cuộc đàm phán hòa bình Ai Cập- Ixraen và cuộc cách mạng Xanđinô ở Nicaragoa – vẫn chưa triệu tập bất cứ cuộc họp chính sách cấp cao nào về Iran, cố vấn an ninh quốc gia của Carter, Zbigniew Brzezinski sau này đã nhớ lại: “Chu trình ra quyết định của chúng ta đã bị quá tải nặng nề”.

Phân tích tình báo không hoàn chỉnh về một cuộc chính biến nữa sắp xảy ra – sự sụp đổ của Liên Xô – không quan trọng; ảnh hưởng bao trùm lên chính sách Mỹ đối với Liên Xô vào những năm 1980 là những bản năng của Ronald Reagan. Từ những ngày sớm nhất trong nhiệm kỳ tổng thống của mình, nhận định rằng Liên Xô không thể tránh khỏi thất bại – và sẽ sớm xảy ra – là một niềm tin vững chắc đối với vị tổng thống thứ 40 này. Sau này ông đã viết: “Người Nga có thể không bao giờ chiến thắng trong cuộc chạy đua vũ trang. Chúng ta mãi mãi có thể chi nhiều tiền hơn họ”.

“Tình báo Mỹ đã đánh giá thấp al-Qađea trước khi xảy ra sự- kiện 11/9”.

Không! họ không như vậy.

Như bất cứ cuộc tấn công khủng bố nào, sự kiện 11/9/2001, theo định nghĩa là một thất bại tình báo về mặt chiến thuật. Nhung cho dù các quan chức tình báo không nhận biết cuộc tấn công này, họ không phải không nhận thấy mối đe dọa này. Những năm trước sự kiện 11/9, cộng đồng tình báo, đặc biệt là CIA, đã dành sự chú ý và nỗ lực mạnh mẽ khác thường để hiểu tổ chức của Osama bin Laden. CIA đã lập ra một đơn vị đặc biệt tập trung vào bin Laden vào đầu năm 1996, khi al Qaeda chỉ mới bắt đầu có định hình như một nhóm khủng bố chống Mỹ, xuyên quốc gia mà chúng ta biết đến hiện nay. Vào năm 1998, Tổng thống Bill Clinton đã tuyên bố rằng “chủ nghĩa khủng bố nằm ở hàng đầu chương trình nghị sự của Mỹ”, ông cũng đã đưa ra một chương trình hành động bí mật chống lại al Qaeda bao gồm việc phát triển các kế hoạch bắt giữ bin Laden; thậm chí trước cả vụ đánh bom các sứ quán Mỹ ở châu Phi vào năm 1998.

Khi các quan chức an ninh quốc gia của Clinton chuyến giao trách nhiệm cho những người kế nhiệm họ trong Chính quyền Bush, họ đã nhấn mạnh mối đe dọa mà sẽ trở thành hiện thực vào ngày 11/9. Sandy Berger, một cố vấn an ninh quốc gia sắp mãn nhiệm đã nói với bà Rice: “Bà sẽ tiêu tốn nhiêu thời gian trong 4 năm của bà cho vấn đề khủng bố nói chung và al Qaeda nói riêng hơn bất cứ vấn đề nào khác”. Nếu nhiều điều hơn không được làm trước vụ 11/9 để chống lại mối đe dọa này thì đó là bởi vì việc tập hợp sự ủng hộ của công chúng cho bất cứ thứ gì giống như một cuộc chiến tranh ở Ápganixtan hay các biện pháp an ninh tốn kém, cồng kềnh ở trong nước xét về mặt chính trị là điều không thể có trước khi những kẻ khủng bố tấn công nước Mỹ.

Bằng chứng có căn cứ nhất về sự hiểu biết trước sự kiện 11/9 đối với chủ đề này của cộng đồng tình báo là cũng tuyên bố mối đe dọa toàn thế giới vào tháng 2/2001 đó chưa bao giờ đề cập đến các vũ khí hạt nhân hay kho vũ khí không thông thường của Irắc. Thay vào đó nó xác định chủ nghĩa khủng bố, và đặc biệt là al-Qaeda, là mối đe dọa số 1 đối với an ninh Mỹ – trên cả sự phổ biến các vũ khí hạt nhân, sự trỗi dậy của Trung Quốc, và mọi việc khác. Báo cáo nói Bin Laden và đồng bọn của hắn “là mối đe dọa trực tiếp nhất và nghiêm trọng nhất” và “có khả năng lên kế hoạch nhiều cuộc tấn công với rất ít hoặc không có cảnh báo nào”. Tất cả đều quá chính xác.

“Các cơ quan tình báo cố chấp từ chối thay đổi”.

Bạn sẽ rất ngạc nhiên.

Sự chỉ trích các cơ quan tình báo Mỹ – ít nhất là theo kiểu không hoang tưởng – có xu hướng miêu tả họ như các bộ máy quan liêu trì trệ sử dụng quyền hoạt động bí mật rộng lớn của họ để bảo vệ chính họ khỏi sự giám sát khiến họ làm công việc của họ tốt hơn. Nhung đại đa số các cải cách tình báo có hiệu quả xuất phát từ bên trong chứ không phải từ bên ngoài.

Những biểu đồ về tổ chức của CIA và các cơ quan tình báo khác của Mỹ đã phải trải qua sự xét duyệt thường xuyên và đôi khi quyết liệt, một sự thừa nhận sự cần thiết phải thích ứng với thế giới đang thay đổi nhanh chóng mà các cơ quan tình báo đang giám sát và phân tích. CIA đã sáp nhập các đơn vị phân tích bao gồm Đông Đức và Tây Đức với dự tính sự thống nhất nước Đức trước khi nước Đức được thống nhất vào năm 1990. Các biện pháp khác, như phát triển khả năng ngoại ngừ lớn hơn hay đào tạo các nhà phân tích về những kỹ thuật tinh vi hơn, là trung tâm của sự chú ý được tăng cường bên trong các cơ quan này trong nhiều năm. Sự thay đổi hiệu quả nhất và có lẽ là mang tính đổi mới nhất trong công việc chống chủ nghĩa khủng bố của cộng đồng tình báo là việc lập ra Trung tâm chống khủng bố của CIA vào năm 1986 – một thử nghiệm thành công đã phá vỡ bộ máy quan liêu, tập hợp lại những người thu thập thông tin, các nhà phân tích và các chuyên gia khác trước đây bị chia tách để làm việc sát cánh bên nhau.

Các cuộc cải cách được theo đuổi từ bên ngoài đã nhận được nhiều sự chú ý của dư luận hơn nhưng được hoàn thành ít hơn rất nhiều. Sau sự kiện 11/9, cộng đồng tình báo đã trải qua một cuộc tổ chức lại khi Quốc hội làm theo khuyến nghị của ủy ban 11/9 khiến cho tất cả các cơ quan tình báo có thể trả lời trước một giám đốc tình báo quốc gia duy nhất. Nhưng hành động này đã không được như hy vọng là thống nhất được cộng đồng tình báo, thay vào đó tạo ra một cơ quan nữa nằm chênh vênh bên trên 16 cơ quan khác. Bởi vì cả văn phòng giám đốc mới này lần Trung tâm chống khủng bố Quốc gia – một khuyến nghị nữa của ủy ban – đã thêm vào, thay vì thay thế, những chức năng hiện có của chính phủ, chúng đã làm rối hơn nữa những đường lối trách nhiệm. Việc này đã phần lớn được làm rõ khi kẻ sắp thành khủng bố Umar Farouk Abdulmutallab cố gắng làm nổ tung một chiếc máy bay chở hành khách đến Detroit vào ngày Giáng sinh năm 2009. Vụ việc đã dẫn đến cùng những hình thức tố cáo lẫn nhau như những vụ việc sau sự kiện 11/9, về việc thông tin không được tập hợp và sắp xếp đúng thứ tự, và các điểm không được kết nối – chỉ có lần này chúng được nhằm vào những sáng tạo của chính ủy ban 11/9.

“Tình báo đã trở nên tốt hơn kể từ sự kiện 11/9”.

Đúng như vậy, nhưng không phải vì những lí do như bạn nghĩ.

Dĩ nhiên là việc có một tấm séc đế trống thực sự trong một thập kỷ tạo nên một sự khác biệt. Sự bùng nổ lớn hậu 11/9 trong ngân sách tình báo – mà theo Ủy ban tình báo Thượng viện, đã tăng gấp đôi kể từ năm 2001 – ít nhất đã cải thiện đôi chút lợi thế của việc phát hiện ra mỏ vàng thông tin tiếp theo sẽ tạo điều kiện cho Mỹ có thể tiếp cận một âm mưu khủng bố lớn hay hạ gục kẻ xấu.

Nhưng chính một sự thay đổi mạnh mẽ và rõ ràng trong những ưu tiên của Mỹ sau sự kiện 11/9 đã tạo nên sự khác biệt nhất. Chống khủng bố, hơn bất cứ nhiệm vụ tình báo nào khác, phụ thuộc vào sự hợp tác chặt chẽ với các chính phủ khác, có sự hiểu biết trực tiếp quan trọng, cảnh sát địa phương và những quyền điều tra mà Mỹ thường thiếu. Trước khi có sự kiện 11/9, sự sẵn sàng hợp tác của những chính phủ đó thường là ít, đặc biệt là khi nó có nghĩa phá hỏng những lợi ích trong nước. Tuy nhiên, sau sự kiện 11/9, các quan chức Mỹ có thể đặt lên bàn những người đồng nhiệm nước ngoài của họ và nói rằng: “Lần này, chúng ta thực sự muốn nói lên điều

đó”. Có thể thấy rõ một số kết quả của sự thay đổi lớn này – nhũng sự thành công trong việc đóng băng hay tịch thu tài sản tài chính của những kẻ khủng bố. Nhiều kết quả khác về cơ bản là ít hơn thế. Sự thành công hay thất bại tương lai trong việc lần theo dấu vết những mối đe dọa như chủ nghĩa cực đoan bài Mỹ ở Nam Á tương tự sẽ phụ thuộc vào tình trạng các mối quan hệ Mỹ-Pakixtan hơn là vào việc thực hiện sự hỗ trợ của bộ máy hành chính ở Oasinhtơn.

Sự hợp tác trong số các cơ quan chống khủng bố của các chính phủ thường tiếp tục bất chấp những sự bất đồng về chính trị giữa bản thân các chính phủ. Tuy nhiên, cuối cùng thì sự hợp tác như vậy phụ thuộc vào thiện chí mà Mỹ được hưởng và sự lành mạnh của cảc mối quan hệ của nước này trên khắp thế giới. Khi sự kiện 11/9 lùi dần vào lịch sử, sự sẵn sàng chia sẻ thông tin của các nhà nước là một tài sản trống rỗng. Chúng ta đã nghĩ một cách xác đáng về tình báo như một sự trợ giúp quan trọng cho chính sách đối ngoại, nhung chúng ta cũng cần phải nhớ rằng chính sách đối ngoại tác động đến ngành tình báo nhiều như thế nào.

“Tình báo tốt có thể cứu chúng ta khỏi những sự bất ngờ tồi tệ”.

Chúng ta mong đợi như vậy.

Đầu tháng 2 năm 2011, chỉ 1 tuần trước khi phong trào Mùa Xuân Arập chấm dứt nhiệm kỳ tổng thống kéo dài 3 thập kỷ của Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak, Thượng nghị sĩ Dianne Feinstein, chủ tịch ủy ban tình báo Thượng viện, đã tra hỏi một quan chức CIA trong một phòng họp đồi Capitol. Feinstein đã nói với Stephanie O’Sullivan, khi đó là Phó giám đốc CIA: “Tổng thống, ngoại trưởng, và Quốc hội đang ra các quyết định chính sách về Ai Cập, và những nhà hoạch định chính sách đó xứng đáng có phân tích tình báo kịp thời. Tôi có những hoài nghi liệu cộng đồng tình báo có sống theo những nghĩa vụ của nó ở khu vực này không?”.

Feinstein khó có thể là người duy nhất chỉ trích sự bất lực của các cơ quan tình báo Mỹ trong việc dự đoán tốc độ mà theo đó ngọn lửa thắp lên bởi người bán hoa quả dạo người Tuynidi Mohamed Bouazizi, đã tự thiêu vào ngày 17/12/2010, sẽ lan rộng ra khắp thế giới Arập.

Nhưng tất cả các cuộc đại tu bộ máy và các ủy ban điều tra trên thế giới không thể thay đổi một thực tế không thể chối cãi: nhiều điều chúng ta muốn các cơ quan tình báo của chúng ta biết là quá phức tạp để có thể tạo khuôn mẫu hay dự đoán. Những gì cộng đồng này nên được mong đợi sẽ mang lại – và dựa trên bằng chứng có thể có được một cách công khai có giới hạn, thì rõ ràng là nó đã mang lại – là sự hiểu biết chiến lược về những điều kiện và thái độ mà, có được một tia lửa thích đáng, có thể bùng lên thành cuộc cách mạng phát triển đầy đủ.

Những lời buộc tội lẫn nhau và những đòi hỏi gần đây nhất chỉ là những gì mới nhất trong một dãy dài tính từ cuộc tấn công bất ngờ vào Chân Châu cảng năm 1941, Những nguồn tin đã tận tâm với ngành tình báo đã tăng đáng kể trong 7 thập kỷ qua, và các cơ quan tình báo đang tiếp tục tìm kiếm các cách để cải thiện cách họ làm việc. Nhưng không có một thay đổi nào trên biểu đồ phát triển có thể loại bỏ được những bất ngờ khó chịu và sẽ luôn luôn có những thách thức mới – đặc biệt là trong thời đại thông tin không ngừng được phổ biến.

Tình báo có thể giúp xử lý tình trạng không chắc chắn, xác định phạm vi của nó và định rõ cái gì có thể được biết đến và cái gì có thể vẫn không được biết đến. Nó có thể phân biệt tình trạng không chắc chắn thực sự với sự hoàn toàn không biết gì bằng việc thu thập một cách có hệ thống tất cả các thông tin sẵn có, nhưng nó không thể loại bỏ tình trạng không chắc chắn và nó không thể ngăn chặn tất cả sự bất ngờ, bao gồm cả những bất ngờ lớn. Các nhà lãnh đạo phải chấp nhận thực tế này: họ phải chờ đợi – và sẵn sàng – bị bất ngờ.

Với lời cám ơn thích đáng dành cho Ronald Rumsfeld, điều đó cũng có nghĩa là chờ đợi những điều chưa biết không được biết đến. Chúng ta sẽ không chỉ không biết được tất cả những câu trả- lời đúng đắn – chúng ta sẽ thậm chí không hỏi tất cả những câu hỏi đúng đắn./.
Advertisements

TÌNH BÁO MỸ

TÌNH BÁO MỸ

(Paul R. Pillar, tạp chí Foreign Policy)

Tôi đã phục vụ cho CIA trong 28 năm và tôi có thể nói với các bạn: những vụ lộn xộn của Mỹ xuất phát từ những nhà lãnh đạo tồi, chứ không phải từ những điệp viên chẳng ra gì.

“Tổng thống ra các quyết định dựa trên tin tức tình báo”.

Không phải là những quyết định lớn.

Từ việc George W.Bush loan báo ầm ĩ nhũng báo cáo vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD) về Irắc cho đến việc các ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Cộng hòa vào năm nay thề định ra chính sách ở Ápganixtan dựa trên những đề xuất của cộng đồng tình báo, người Mỹ thường có cảm giác rằng sự kiểm soát của các nhà lãnh đạo của họ được chỉ dẫn ở nước ngoài bởi bộ máy gián điệp nổi tiếng của họ. Trên hết, mỗi năm Mỹ chi khoảng 80 tỷ USD cho tình báo, mà mang lại rất nhiều sự chỉ dẫn quan trọng hàng tuần về các vấn đề từ truy lùng những kẻ khủng bố đến chống lại những khả năng quân sự đang tăng lên của Trung Quốc. Phân tích này cho biết việc ra quyết định hàng ngày của các nhà hoạch định chính sách và đôi khi khiến họ nhìn vào các vấn đề một cách kỹ lưỡng hơn, như mối đe dọa đang nổi lên từ al-Qaeda vào cuối những năm 1990, so với những gì mà mặt khác họ sẽ làm.

Tuy nhiên, về các quyết định chính sách đối ngoại lớn, dù là tiến hành chiến tranh hay suy nghĩ lại tổng thể chiến lược của Mỹ ở Thế giới Arập (như Tổng thống Obama có lẽ là đang làm hiện nay), tình báo không phải là nhân tố quyết định. Những ảnh hưởng thực sự quan trọng là những ảnh hưởng mà các nhà lãnh đạo đưa cùng với họ vào cương vị của mình: giác quan chiến lược của chính họ, những bài học họ đã rút ra được từ lịch sử hay kinh nghiệm cá nhân, những đòi hỏi chính trị trong nước, và chứng bấn loạn của chính họ. Một bản ghi nhớ hay thông báo tình hình xuất phát từ một nơi nào đó không quen thuộc trong bộ máy quan liêu khó có thể có cơ hội.

Hơn nữa, không bao giờ nên đánh giá thấp ảnh hưởng của sự hiểu biết thông thường. Tổng thống Lyndon B.Johnson và nhóm giật dây của ông đã nhận được những đánh giá ảm đạm của cộng đồng tình báo về khả năng của Nam Việt Nam tự đứng vững, cũng như những báo cáo tương đối bi quan từ các nhà lãnh đạo quân sự Mỹ về cam kết có thể có về tiền bạc và thời gian của một nỗ lực quân sự của Mỹ ở đó. Nhưng họ đã không vượt qua được học thuyết đôminô – ý tưởng cho rằng nếu miền Nam Việt Nam rơi vào tay chủ nghĩa cộng sản, thì một loạt các nước khác ở thế giới đang phát triển cũng sẽ như vậy. Tổng thống Harry Truman đã quyết định can thiệp vào Triều Tiên dựa trên những bài học của quá khứ: thất bại của phe Đồng minh trong việc chống lại các cường quốc trong trục Béclin, Rôma, Tôkyô trước Chiến tranh Thế giới thứ Hai và sự thành công thời hậu chiến của phương Tây trong việc đáp trả quyết liệt sự xâm lược của chủ nghĩa cộng sản ở Ai Cập và Béclin. Sự mở cửa lịch sử với Trung Quốc của Tổng thống Richard Nixon đã được định hình bởi sự nghiền ngẫm của ông trong thời gian mờ nhạt trên chính trường về chiến lược nước lớn và chỗ đứng của ông ở trong đó. Sự khua chiêng gõ trống của Chính quyền Obama gần đây về Iran phần lớn là chức năng của công việc chính trị trong nước. Lời khuyên từ Langley, cho dù tốt hơn hay tồi tệ hơn, hầu như chẳng liên quan gì đến bất cứ điều nào trong số này.

“Tình báo tồi đã dẫn đến chiến tranh Irắc”.

Không, sự lãnh đạo tồi tệ đã dẫn đến điều đó.

Tình báo có thể đã hiển hiện rõ trong việc Bush thuyết phục về cuộc xâm lược Irắc, nhưng nó hầu như không có một vai trò nào trong bản thân quyết định này. Nếu những đánh giá của cộng đồng tình báo chỉ ra được bất cứ tiến trình hành động nào, thì đó là tránh chứ không phải phát động một cuộc chiến tranh.

Khi Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell ra trước LHQ vào tháng 2/2003 để dùng lí lẽ ủng hộ một cuộc xâm lược Irắc, ông đã lập luận: “Saddam Hussein và chế độ của ông ta đang che giấu những nỗ lực của họ trong việc chế tạo nhiều vũ khí hủy diệt hàng loạt hơn”, một nhận xét mà ông đã nói là “dựa trên tin tức tình báo chắc chắn”. Nhưng trong một cuộc phỏng vấn thẳng thắn 4 tháng sau đó, Thứ trưởng Quốc phòng Paul Wolfowitz đã thừa nhận rằng các vũ khí hủy diệt hàng loạt đơn giản là “một vấn đề mà mọi người có thể tán thành”. Cộng đồng tình báo không rung lên một hồi chuông báo động nào về chủ đề này khi Chính quyền Bush lên nắm quyền; quả thực, số xuất bản năm 2011 của tuyên bố toàn diện của cộng đồng này về những mối đe dọa trên khắp thế giới thậm chí không đề cập đến khả năng Irắc có các vũ khí hạt nhân hay bất cứ kho dự trữ vũ khí hóa học hay sinh học nào. Theo các nhân viên giữ các văn bản lưu, chính phủ không yêu cầu đánh giá tình báo tháng 10/2002 (cuối cùng có sai sót) về những chương trình vũ khí không thông thường của Irắc cái là trọng tâm của lập luận chính thức ủng hộ xâm lược – các đảng viên đảng Dân chủ trong Quốc hội đã yêu cầu và chỉ 6 thượng nghị sĩ và một số ít các hạ nghị sĩ chịu nhìn vào nó trước khi bỏ phiếu về cuộc chiến tranh này. Cả Bush lẫn Condoleezza Rice, khi đó là cố vấn an ninh quốc gia, đều đã không đọc bản đánh giá toàn bộ này tại thời điểm đó, và trong bất cứ trường hợp nào thì sự xuất hiện việc quảng bá rầm rộ về cuộc chiến tranh này đã diễn ra trước khi văn bản này được viết nên.

Nếu Bush đọc bản báo cáo của cộng đồng tình báo, thì ông đã nhận thấy lí lẽ ủng hộ xâm lược của chính quyền ông nằm ngay phía đầu. Các quan chức tình báo đã kết luận rằng không có khả năng Saddam sử dụng bất cứ vũ khí hủy diệt hàng loạt nào chống lại Mỹ hay đưa chúng cho những kẻ khủng bố – trừ khi Mỹ xâm lược Irắc và cố gắng lật đổ chế độ của ông. Cộng đồng tình báo không tin, như tổng tống đã tuyên bố rằng chế độ Irắc là đồng minh của al-Qaeda, và cộng đồng này đã dự kiến chính xác bất cứ nỗ lực nào nhằm thiết lập chế độ dân chủ ở Irắc hậu Saddam đều là một công việc vất vả, hỗn độn.

Trong một đánh giá riêng rẽ trước chiến tranh, cộng đồng tình báo đã phán đoán rằng việc cố gắng xây dựng một hệ thống chính trị mới ở Irắc sẽ là “kéo dài, khó khăn và có thể gây náo loạn”, thêm vào đó là bất cứ nhà cầm quyền nào sau Saddam cũng đứng trước “một xã hội bị chia rẽ sâu sắc với một cơ hội đáng kể rằng các nhóm trong nước sẽ tham gia cuộc xung đột bạo lực với nhau trừ khi lực lượng chiếm đóng ngăn không cho họ làm như vậy”. Đáng chú ý là thiếu vắng những đề cập đến sự chào mừng của người Irắe đối với binh lính Mỹ, hay đến việc cuộc chiến tự trang trải. Không cần phải nói rằng không một điều nào trong số đó là quan trọng đối với Nhà Trắng.

“Những thất bại tình báo làm chính sách đối ngoại của Mỹ rối tung”.

Khó có thể như vậy.

Hồ sơ về những thất bại của tình báo Mỹ thế kỷ 20 là một hồ sơ quen thuộc, và gần như không thể bàn cãi. Nhưng liệu những thất bại – hay những sự thành công – này có ý nghĩa quan trọng trong bức tranh lớn này không là một câu hỏi khác.

CIA đã dự đoán sẽ xảy ra cả sự nổ ra lẫn hậu quả của cuộc chiến tranh 6 ngày năm 1967 giữa Ixraen và các nước Arập láng giềng, một kỳ công đủ gây ấn tượng tới mức nghe nói nó đã đem lại cho người đứng đầu cơ quan tình báo Richard Helms một chỗ tại bàn tiệc trưa thứ Ba của Tổng thống Johnson. Tuy nhiên, tình báo xuất sắc không thể giúp Johnson ngăn chặn cuộc chiến tranh mà đã tạo ra những diễn biến cơ bản của cuộc xung đột khó giải quyết giữa Ixraen và Palextin hiện nay, và cơ quan tình báo của Mỹ đã hoàn toàn không thể dự tính được cuộc tấn công bất ngờ của Ai Cập vào Ixraen 6 năm sau đó. Tuy nhiên, cuộc tấn công bất ngờ hiểm ác của Ai Cập vào năm 1973 không ngăn được Nixon và Ngoại trưởng Henry Kissinger sau đó đạt được một chiến thắng ngoại giao, tận dụng cuộc xung đột này để củng cố các mối quan hệ với Ixraen trong khi phát triển chúng với Ai Cập và các nước Arập khác – tất cả gây phương hại cho các nước Xôviết.

Cơ quan tình báo Mỹ cũng nổi tiếng là đã không thể dự đoán được cuộc cách mạng Iran năm 1979. Nhưng chính sự không chú ý đến Iran của các nhà hoạch định chính sách và sự bất đồng mạnh mẽ bên trong Chính quyền Jimmy Carter, chứ không phải tình báo kém, đã ngăn không cho Mỹ đưa ra các quyết định cứng rắn trước khi chế độ của vua Ba Tư ở cận kề cái chết. Thậm chí sau những tháng hỗn loạn ở các thành phố Iran, Chính phủ Carter – bận tâm như nó là vậy với những cuộc đàm phán hòa bình Ai Cập- Ixraen và cuộc cách mạng Xanđinô ở Nicaragoa – vẫn chưa triệu tập bất cứ cuộc họp chính sách cấp cao nào về Iran, cố vấn an ninh quốc gia của Carter, Zbigniew Brzezinski sau này đã nhớ lại: “Chu trình ra quyết định của chúng ta đã bị quá tải nặng nề”.

Phân tích tình báo không hoàn chỉnh về một cuộc chính biến nữa sắp xảy ra – sự sụp đổ của Liên Xô – không quan trọng; ảnh hưởng bao trùm lên chính sách Mỹ đối với Liên Xô vào những năm 1980 là những bản năng của Ronald Reagan. Từ những ngày sớm nhất trong nhiệm kỳ tổng thống của mình, nhận định rằng Liên Xô không thể tránh khỏi thất bại – và sẽ sớm xảy ra – là một niềm tin vững chắc đối với vị tổng thống thứ 40 này. Sau này ông đã viết: “Người Nga có thể không bao giờ chiến thắng trong cuộc chạy đua vũ trang. Chúng ta mãi mãi có thể chi nhiều tiền hơn họ”.

“Tình báo Mỹ đã đánh giá thấp al-Qađea trước khi xảy ra sự- kiện 11/9”.

Không! họ không như vậy.

Như bất cứ cuộc tấn công khủng bố nào, sự kiện 11/9/2001, theo định nghĩa là một thất bại tình báo về mặt chiến thuật. Nhung cho dù các quan chức tình báo không nhận biết cuộc tấn công này, họ không phải không nhận thấy mối đe dọa này. Những năm trước sự kiện 11/9, cộng đồng tình báo, đặc biệt là CIA, đã dành sự chú ý và nỗ lực mạnh mẽ khác thường để hiểu tổ chức của Osama bin Laden. CIA đã lập ra một đơn vị đặc biệt tập trung vào bin Laden vào đầu năm 1996, khi al Qaeda chỉ mới bắt đầu có định hình như một nhóm khủng bố chống Mỹ, xuyên quốc gia mà chúng ta biết đến hiện nay. Vào năm 1998, Tổng thống Bill Clinton đã tuyên bố rằng “chủ nghĩa khủng bố nằm ở hàng đầu chương trình nghị sự của Mỹ”, ông cũng đã đưa ra một chương trình hành động bí mật chống lại al Qaeda bao gồm việc phát triển các kế hoạch bắt giữ bin Laden; thậm chí trước cả vụ đánh bom các sứ quán Mỹ ở châu Phi vào năm 1998.

Khi các quan chức an ninh quốc gia của Clinton chuyến giao trách nhiệm cho những người kế nhiệm họ trong Chính quyền Bush, họ đã nhấn mạnh mối đe dọa mà sẽ trở thành hiện thực vào ngày 11/9. Sandy Berger, một cố vấn an ninh quốc gia sắp mãn nhiệm đã nói với bà Rice: “Bà sẽ tiêu tốn nhiêu thời gian trong 4 năm của bà cho vấn đề khủng bố nói chung và al Qaeda nói riêng hơn bất cứ vấn đề nào khác”. Nếu nhiều điều hơn không được làm trước vụ 11/9 để chống lại mối đe dọa này thì đó là bởi vì việc tập hợp sự ủng hộ của công chúng cho bất cứ thứ gì giống như một cuộc chiến tranh ở Ápganixtan hay các biện pháp an ninh tốn kém, cồng kềnh ở trong nước xét về mặt chính trị là điều không thể có trước khi những kẻ khủng bố tấn công nước Mỹ.

Bằng chứng có căn cứ nhất về sự hiểu biết trước sự kiện 11/9 đối với chủ đề này của cộng đồng tình báo là cũng tuyên bố mối đe dọa toàn thế giới vào tháng 2/2001 đó chưa bao giờ đề cập đến các vũ khí hạt nhân hay kho vũ khí không thông thường của Irắc. Thay vào đó nó xác định chủ nghĩa khủng bố, và đặc biệt là al-Qaeda, là mối đe dọa số 1 đối với an ninh Mỹ – trên cả sự phổ biến các vũ khí hạt nhân, sự trỗi dậy của Trung Quốc, và mọi việc khác. Báo cáo nói Bin Laden và đồng bọn của hắn “là mối đe dọa trực tiếp nhất và nghiêm trọng nhất” và “có khả năng lên kế hoạch nhiều cuộc tấn công với rất ít hoặc không có cảnh báo nào”. Tất cả đều quá chính xác.

“Các cơ quan tình báo cố chấp từ chối thay đổi”.

Bạn sẽ rất ngạc nhiên.

Sự chỉ trích các cơ quan tình báo Mỹ – ít nhất là theo kiểu không hoang tưởng – có xu hướng miêu tả họ như các bộ máy quan liêu trì trệ sử dụng quyền hoạt động bí mật rộng lớn của họ để bảo vệ chính họ khỏi sự giám sát khiến họ làm công việc của họ tốt hơn. Nhung đại đa số các cải cách tình báo có hiệu quả xuất phát từ bên trong chứ không phải từ bên ngoài.

Những biểu đồ về tổ chức của CIA và các cơ quan tình báo khác của Mỹ đã phải trải qua sự xét duyệt thường xuyên và đôi khi quyết liệt, một sự thừa nhận sự cần thiết phải thích ứng với thế giới đang thay đổi nhanh chóng mà các cơ quan tình báo đang giám sát và phân tích. CIA đã sáp nhập các đơn vị phân tích bao gồm Đông Đức và Tây Đức với dự tính sự thống nhất nước Đức trước khi nước Đức được thống nhất vào năm 1990. Các biện pháp khác, như phát triển khả năng ngoại ngừ lớn hơn hay đào tạo các nhà phân tích về những kỹ thuật tinh vi hơn, là trung tâm của sự chú ý được tăng cường bên trong các cơ quan này trong nhiều năm. Sự thay đổi hiệu quả nhất và có lẽ là mang tính đổi mới nhất trong công việc chống chủ nghĩa khủng bố của cộng đồng tình báo là việc lập ra Trung tâm chống khủng bố của CIA vào năm 1986 – một thử nghiệm thành công đã phá vỡ bộ máy quan liêu, tập hợp lại những người thu thập thông tin, các nhà phân tích và các chuyên gia khác trước đây bị chia tách để làm việc sát cánh bên nhau.

Các cuộc cải cách được theo đuổi từ bên ngoài đã nhận được nhiều sự chú ý của dư luận hơn nhưng được hoàn thành ít hơn rất nhiều. Sau sự kiện 11/9, cộng đồng tình báo đã trải qua một cuộc tổ chức lại khi Quốc hội làm theo khuyến nghị của ủy ban 11/9 khiến cho tất cả các cơ quan tình báo có thể trả lời trước một giám đốc tình báo quốc gia duy nhất. Nhưng hành động này đã không được như hy vọng là thống nhất được cộng đồng tình báo, thay vào đó tạo ra một cơ quan nữa nằm chênh vênh bên trên 16 cơ quan khác. Bởi vì cả văn phòng giám đốc mới này lần Trung tâm chống khủng bố Quốc gia – một khuyến nghị nữa của ủy ban – đã thêm vào, thay vì thay thế, những chức năng hiện có của chính phủ, chúng đã làm rối hơn nữa những đường lối trách nhiệm. Việc này đã phần lớn được làm rõ khi kẻ sắp thành khủng bố Umar Farouk Abdulmutallab cố gắng làm nổ tung một chiếc máy bay chở hành khách đến Detroit vào ngày Giáng sinh năm 2009. Vụ việc đã dẫn đến cùng những hình thức tố cáo lẫn nhau như những vụ việc sau sự kiện 11/9, về việc thông tin không được tập hợp và sắp xếp đúng thứ tự, và các điểm không được kết nối – chỉ có lần này chúng được nhằm vào những sáng tạo của chính ủy ban 11/9.

“Tình báo đã trở nên tốt hơn kể từ sự kiện 11/9”.

Đúng như vậy, nhưng không phải vì những lí do như bạn nghĩ.

Dĩ nhiên là việc có một tấm séc đế trống thực sự trong một thập kỷ tạo nên một sự khác biệt. Sự bùng nổ lớn hậu 11/9 trong ngân sách tình báo – mà theo Ủy ban tình báo Thượng viện, đã tăng gấp đôi kể từ năm 2001 – ít nhất đã cải thiện đôi chút lợi thế của việc phát hiện ra mỏ vàng thông tin tiếp theo sẽ tạo điều kiện cho Mỹ có thể tiếp cận một âm mưu khủng bố lớn hay hạ gục kẻ xấu.

Nhưng chính một sự thay đổi mạnh mẽ và rõ ràng trong những ưu tiên của Mỹ sau sự kiện 11/9 đã tạo nên sự khác biệt nhất. Chống khủng bố, hơn bất cứ nhiệm vụ tình báo nào khác, phụ thuộc vào sự hợp tác chặt chẽ với các chính phủ khác, có sự hiểu biết trực tiếp quan trọng, cảnh sát địa phương và những quyền điều tra mà Mỹ thường thiếu. Trước khi có sự kiện 11/9, sự sẵn sàng hợp tác của những chính phủ đó thường là ít, đặc biệt là khi nó có nghĩa phá hỏng những lợi ích trong nước. Tuy nhiên, sau sự kiện 11/9, các quan chức Mỹ có thể đặt lên bàn những người đồng nhiệm nước ngoài của họ và nói rằng: “Lần này, chúng ta thực sự muốn nói lên điều

đó”. Có thể thấy rõ một số kết quả của sự thay đổi lớn này – nhũng sự thành công trong việc đóng băng hay tịch thu tài sản tài chính của những kẻ khủng bố. Nhiều kết quả khác về cơ bản là ít hơn thế. Sự thành công hay thất bại tương lai trong việc lần theo dấu vết những mối đe dọa như chủ nghĩa cực đoan bài Mỹ ở Nam Á tương tự sẽ phụ thuộc vào tình trạng các mối quan hệ Mỹ-Pakixtan hơn là vào việc thực hiện sự hỗ trợ của bộ máy hành chính ở Oasinhtơn.

Sự hợp tác trong số các cơ quan chống khủng bố của các chính phủ thường tiếp tục bất chấp những sự bất đồng về chính trị giữa bản thân các chính phủ. Tuy nhiên, cuối cùng thì sự hợp tác như vậy phụ thuộc vào thiện chí mà Mỹ được hưởng và sự lành mạnh của cảc mối quan hệ của nước này trên khắp thế giới. Khi sự kiện 11/9 lùi dần vào lịch sử, sự sẵn sàng chia sẻ thông tin của các nhà nước là một tài sản trống rỗng. Chúng ta đã nghĩ một cách xác đáng về tình báo như một sự trợ giúp quan trọng cho chính sách đối ngoại, nhung chúng ta cũng cần phải nhớ rằng chính sách đối ngoại tác động đến ngành tình báo nhiều như thế nào.

“Tình báo tốt có thể cứu chúng ta khỏi những sự bất ngờ tồi tệ”.

Chúng ta mong đợi như vậy.

Đầu tháng 2 năm 2011, chỉ 1 tuần trước khi phong trào Mùa Xuân Arập chấm dứt nhiệm kỳ tổng thống kéo dài 3 thập kỷ của Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak, Thượng nghị sĩ Dianne Feinstein, chủ tịch ủy ban tình báo Thượng viện, đã tra hỏi một quan chức CIA trong một phòng họp đồi Capitol. Feinstein đã nói với Stephanie O’Sullivan, khi đó là Phó giám đốc CIA: “Tổng thống, ngoại trưởng, và Quốc hội đang ra các quyết định chính sách về Ai Cập, và những nhà hoạch định chính sách đó xứng đáng có phân tích tình báo kịp thời. Tôi có những hoài nghi liệu cộng đồng tình báo có sống theo những nghĩa vụ của nó ở khu vực này không?”.

Feinstein khó có thể là người duy nhất chỉ trích sự bất lực của các cơ quan tình báo Mỹ trong việc dự đoán tốc độ mà theo đó ngọn lửa thắp lên bởi người bán hoa quả dạo người Tuynidi Mohamed Bouazizi, đã tự thiêu vào ngày 17/12/2010, sẽ lan rộng ra khắp thế giới Arập.

Nhưng tất cả các cuộc đại tu bộ máy và các ủy ban điều tra trên thế giới không thể thay đổi một thực tế không thể chối cãi: nhiều điều chúng ta muốn các cơ quan tình báo của chúng ta biết là quá phức tạp để có thể tạo khuôn mẫu hay dự đoán. Những gì cộng đồng này nên được mong đợi sẽ mang lại – và dựa trên bằng chứng có thể có được một cách công khai có giới hạn, thì rõ ràng là nó đã mang lại – là sự hiểu biết chiến lược về những điều kiện và thái độ mà, có được một tia lửa thích đáng, có thể bùng lên thành cuộc cách mạng phát triển đầy đủ.

Những lời buộc tội lẫn nhau và những đòi hỏi gần đây nhất chỉ là những gì mới nhất trong một dãy dài tính từ cuộc tấn công bất ngờ vào Chân Châu cảng năm 1941, Những nguồn tin đã tận tâm với ngành tình báo đã tăng đáng kể trong 7 thập kỷ qua, và các cơ quan tình báo đang tiếp tục tìm kiếm các cách để cải thiện cách họ làm việc. Nhưng không có một thay đổi nào trên biểu đồ phát triển có thể loại bỏ được những bất ngờ khó chịu và sẽ luôn luôn có những thách thức mới – đặc biệt là trong thời đại thông tin không ngừng được phổ biến.

Tình báo có thể giúp xử lý tình trạng không chắc chắn, xác định phạm vi của nó và định rõ cái gì có thể được biết đến và cái gì có thể vẫn không được biết đến. Nó có thể phân biệt tình trạng không chắc chắn thực sự với sự hoàn toàn không biết gì bằng việc thu thập một cách có hệ thống tất cả các thông tin sẵn có, nhưng nó không thể loại bỏ tình trạng không chắc chắn và nó không thể ngăn chặn tất cả sự bất ngờ, bao gồm cả những bất ngờ lớn. Các nhà lãnh đạo phải chấp nhận thực tế này: họ phải chờ đợi – và sẵn sàng – bị bất ngờ.

Với lời cám ơn thích đáng dành cho Ronald Rumsfeld, điều đó cũng có nghĩa là chờ đợi những điều chưa biết không được biết đến. Chúng ta sẽ không chỉ không biết được tất cả những câu trả- lời đúng đắn – chúng ta sẽ thậm chí không hỏi tất cả những câu hỏi đúng đắn./.

BA BÀI HỌC TỪ NGUYỄN BÁ THANH

Nhiều năm qua trên báo chí, ông Nguyễn Bá Thanh – Bí thư của Đà Nẵng – là nhân vật có sức thu hút người đọc cả nước. Nhiều người gọi là “Hiện tượng Nguyễn Bá Thanh”.


Mấy ngày qua, nhiều thành phố và các tỉnh họp HĐND, nhưng cuộc họp của Đà Nẵng có nhiều tin tức nổi bật nhất. Các đại biểu của TP.Đà Nẵng đi họp đầy đủ, nghiêm túc, chất vấn và trả lời chất vấn cặn kẽ. Đặc biệt là vai trò điều hành của vị Chủ tịch HĐND TP Nguyễn Bá Thanh quá xuất sắc.

Hiện tượng Nguyễn Bá Thanh nói lên điều gì? Vì sao ông được dư luận cả nước đặc biệt hoan nghênh?

Một là ông thể hiện rõ một cán bộ chống quan liêu, luôn luôn đi sát cuộc sống, nhận rõ sự thật, nói đúng sự thật. Ông chưa bao giờ tỏ ra là người giỏi lý luận. Sức thuyết phục lớn nhất của ông không phải là lý luận mà là sự thật. Ông hỏi ông giám đốc Sở TNMT: “Anh có biết trong nội thành còn có khu dân cư nào không có thùng đựng rác và họ đã xử lý rác như thế nào?”.

Ông giám đốc lúng túng mãi không đáp được. Ông Thanh nói: “Sau cuộc họp này anh nên chịu khó đến khu dân cư Mân Thái (huyện Sơn Trà) để biết về tình trạng này và mau chóng giải quyết cho bà con”.

Khi ông giám đốc Sở GDĐT viện dẫn Thông tư 17 của Bộ GDĐT để trả lời khó khăn trong việc xử lý dạy thêm, ông Thanh nói “Anh không phải bộ trưởng. Vấn đề của anh là trả lời câu hỏi của Đà Nẵng. Thành phố có hay không có chuyện các giáo viên tiểu học lên lớp dạy chính khóa, nhưng không chịu truyền đạt hết kiến thức cho các cháu mà để dành cho dạy thêm”.

Hai là ông khuyến khích sự công khai minh bạch trong mọi việc không sợ vì thế mà mất uy tín của mình cũng như của cấp ủy, ủy ban. Qua chất vấn về tình trạng mãi lộ của CSGT chưa ngăn chặn được, ông đề nghị lắp đặt camera giám sát các mối đường để loại bỏ ngay CSGT nào chặn xe giữa đường.

Về tình trạng các ngân hàng làm khó DN đòi lãi suất trên 15%, ông yêu cầu ông GĐ ngân hàng TP.Đà Nẵng ngay buổi chiều phiên họp công bố 10 ngân hàng còn thu lãi suất trên 15%.

Về tình trạng không ngăn chặn nổi tình trạng lấn chiếm lòng lề đường, ông kết luận: “Công khai tên các chủ tịch phường còn để lấn chiếm lòng lề đường, lần đầu kỷ luật cảnh cáo, nếu để tái phạm sẽ bị cách chức ngay”.

Ba là tôn trọng luật pháp, đồng thời đòi hỏi luật pháp phải đi sát cuộc sống đáp ứng đúng yêu cầu của cuộc sống, phục vụ lợi ích lâu dài của số đông người dân. Lâu nay Đà Nẵng có ý kiến khác về quy định nhập cư, theo quan điểm của ông Thanh và được HĐND TP.Đà Nẵng đồng tình thì phải giải quyết việc nhập cư sát thực tế. Chính sách đặt ra không phải để nói cho êm tai mà phải thực hiện được, đi dần từ thấp lên cao không vấp váp.

Trong việc ngăn chặn tình trạng dạy thêm ở cấp tiểu học, ông Thanh đề nghị nếu thông tư của Bộ GDĐT không đủ thì HĐND TP.Đà Nẵng nên có quyết định của mình bổ sung những chỗ còn kẽ hở.

Ông còn đòi hỏi chính quyền phải bình đẳng với DN và người dân, khi kết luận vụ thành phố không giao đất cho Công ty Khải Hoàn Nguyên, ông nói: “Nếu tháng 12 mà chính quyền Đà Nẵng không giao đất thì CT Khải Hoàn Nguyên nên kiện ra tòa”. Làm sao để những bài học từ ông Nguyễn Bá Thanh có thể nhân ra cả nước? Đó là mong mỏi của nhân dân đối với những người lãnh đạo.
TỐNG VĂN CÔNG (LAO ĐỘNG ONLINE)

BA BÀI HỌC TỪ NGUYỄN BÁ THANH

Nhiều năm qua trên báo chí, ông Nguyễn Bá Thanh – Bí thư của Đà Nẵng – là nhân vật có sức thu hút người đọc cả nước. Nhiều người gọi là “Hiện tượng Nguyễn Bá Thanh”.


Mấy ngày qua, nhiều thành phố và các tỉnh họp HĐND, nhưng cuộc họp của Đà Nẵng có nhiều tin tức nổi bật nhất. Các đại biểu của TP.Đà Nẵng đi họp đầy đủ, nghiêm túc, chất vấn và trả lời chất vấn cặn kẽ. Đặc biệt là vai trò điều hành của vị Chủ tịch HĐND TP Nguyễn Bá Thanh quá xuất sắc.

Hiện tượng Nguyễn Bá Thanh nói lên điều gì? Vì sao ông được dư luận cả nước đặc biệt hoan nghênh?

Một là ông thể hiện rõ một cán bộ chống quan liêu, luôn luôn đi sát cuộc sống, nhận rõ sự thật, nói đúng sự thật. Ông chưa bao giờ tỏ ra là người giỏi lý luận. Sức thuyết phục lớn nhất của ông không phải là lý luận mà là sự thật. Ông hỏi ông giám đốc Sở TNMT: “Anh có biết trong nội thành còn có khu dân cư nào không có thùng đựng rác và họ đã xử lý rác như thế nào?”.

Ông giám đốc lúng túng mãi không đáp được. Ông Thanh nói: “Sau cuộc họp này anh nên chịu khó đến khu dân cư Mân Thái (huyện Sơn Trà) để biết về tình trạng này và mau chóng giải quyết cho bà con”.

Khi ông giám đốc Sở GDĐT viện dẫn Thông tư 17 của Bộ GDĐT để trả lời khó khăn trong việc xử lý dạy thêm, ông Thanh nói “Anh không phải bộ trưởng. Vấn đề của anh là trả lời câu hỏi của Đà Nẵng. Thành phố có hay không có chuyện các giáo viên tiểu học lên lớp dạy chính khóa, nhưng không chịu truyền đạt hết kiến thức cho các cháu mà để dành cho dạy thêm”.

Hai là ông khuyến khích sự công khai minh bạch trong mọi việc không sợ vì thế mà mất uy tín của mình cũng như của cấp ủy, ủy ban. Qua chất vấn về tình trạng mãi lộ của CSGT chưa ngăn chặn được, ông đề nghị lắp đặt camera giám sát các mối đường để loại bỏ ngay CSGT nào chặn xe giữa đường.

Về tình trạng các ngân hàng làm khó DN đòi lãi suất trên 15%, ông yêu cầu ông GĐ ngân hàng TP.Đà Nẵng ngay buổi chiều phiên họp công bố 10 ngân hàng còn thu lãi suất trên 15%.

Về tình trạng không ngăn chặn nổi tình trạng lấn chiếm lòng lề đường, ông kết luận: “Công khai tên các chủ tịch phường còn để lấn chiếm lòng lề đường, lần đầu kỷ luật cảnh cáo, nếu để tái phạm sẽ bị cách chức ngay”.

Ba là tôn trọng luật pháp, đồng thời đòi hỏi luật pháp phải đi sát cuộc sống đáp ứng đúng yêu cầu của cuộc sống, phục vụ lợi ích lâu dài của số đông người dân. Lâu nay Đà Nẵng có ý kiến khác về quy định nhập cư, theo quan điểm của ông Thanh và được HĐND TP.Đà Nẵng đồng tình thì phải giải quyết việc nhập cư sát thực tế. Chính sách đặt ra không phải để nói cho êm tai mà phải thực hiện được, đi dần từ thấp lên cao không vấp váp.

Trong việc ngăn chặn tình trạng dạy thêm ở cấp tiểu học, ông Thanh đề nghị nếu thông tư của Bộ GDĐT không đủ thì HĐND TP.Đà Nẵng nên có quyết định của mình bổ sung những chỗ còn kẽ hở.

Ông còn đòi hỏi chính quyền phải bình đẳng với DN và người dân, khi kết luận vụ thành phố không giao đất cho Công ty Khải Hoàn Nguyên, ông nói: “Nếu tháng 12 mà chính quyền Đà Nẵng không giao đất thì CT Khải Hoàn Nguyên nên kiện ra tòa”. Làm sao để những bài học từ ông Nguyễn Bá Thanh có thể nhân ra cả nước? Đó là mong mỏi của nhân dân đối với những người lãnh đạo.
TỐNG VĂN CÔNG (LAO ĐỘNG ONLINE)

"TÀU CÁ"/ TRUNG QUỐC KÉO ĐỨT CÁP TÀU BÌNH MINH 02

Ngày 30/11/2012, trên vùng biển gần đảo Cồn Cỏ của Việt Nam, tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đang làm nhiệm vụ lại bị các tàu cá Trung Quốc xâm hại, gây đứt cáp thu nổ địa chấn.

Phóng viên Petrotimes đã có cuộc phỏng vấn ông Phạm Việt Dũng, Phó trưởng ban Tìm kiếm Thăm dò – phụ trách Văn phòng Biển Đông của PVN về vụ việc nghiêm trọng này.

PV: Theo một số nguồn tin, tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 của PVN lại bị cản trở khi đang làm việc ở vùng biển Việt Nam. Xin ông cho biết thông tin cụ thể?



Cáp tàu BM02 bị cắt

Ông Phạm Việt Dũng: Vào lúc 4 giờ 5 phút ngày 30/11/2012, khi tàu Bình Minh 02 đang di chuyển từ tuyến PVN12-R009 về tuyến PVN12-R005 ở khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ để chuẩn bị khảo sát. Có rất nhiều tàu cá Trung Quốc đang hoạt động tại đây. Khi các lực lượng chức năng phát tín hiệu cảnh báo và yêu cầu các tàu cá ra khỏi khu vực làm việc của tàu Bình Minh 02, một cặp tàu kéo dã cào mang số hiệu 16025 và 16028 của Trung Quốc đã chạy qua phía sau tàu Bình Minh 02 và gây đứt cáp địa chấn của tàu Bình Minh 02 cách phao đuôi khoảng 25m.

Vị trí cáp bị đứt có tọa độ là 17º26 Bắc và 108º02 Đông, cách đảo Cồn Cỏ 43 hải lý về phía đông nam và cách đường trung tuyến Việt Nam – Trung Quốc 20 hải lý về phía tây.

PV: Xin ông cho biết đôi nét về nhiệm vụ của tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 và những khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ này?


Vị trí xảy ra sự cố và hướng di chuyển của tàu BM02

Ông Phạm Việt Dũng: Từ tháng 5/2012 đến nay, tàu Bình Minh 02 tiến hành đề án khảo sát địa chấn 2D liên kết các bể trầm tích trên thềm lục địa Việt Nam. Tàu địa chấn Bình Minh 02 bắt đầu khảo sát các tuyến liên kết ở bể Cửu Long, sau đó là bể Nam Côn Sơn, bể Phú Khánh và hiện nay đang đang khảo sát các tuyến liên kết ở bể Sông Hồng tại khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ.

Thời gian gần đây, có rất nhiều tàu cá Trung Quốc xâm phạm trái phép vùng biển Việt Nam đánh bắt hải sản, với số lượng rất lớn, tập trung ở khu vực từ Cồn Cỏ đến Nam Tri Tôn, có ngày lên tới hơn 100 lần chiếc. Các tàu chấp pháp của Việt Nam đã yêu cầu các tàu cá Trung Quốc rút ra khỏi vùng biển Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều tàu cá Trung Quốc vẫn cố tình quay trở lại xâm phạm vùng biển Việt Nam.


PV: Vậy phía PVN đã có những phản ứng như thế nào trước vụ việc này, thưa ông?

Ông Phạm Việt Dũng: Ngay sau khi xảy ra sự việc, PVN đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc và tàu Bình Minh 02 nhanh chóng khắc phục sự cố, sửa chữa cáp địa chấn để sớm tiếp tục công việc. Đến 14 giờ ngày 1/12/2012, anh em đã khắc phục xong sự cố cáp địa chấn và tàu Bình Minh 02 đã tiếp tục công tác khảo sát bình thường.

Việc tàu cá Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm vùng biển Việt Nam đánh bắt hải sản, không những vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam mà còn cản trở hoạt động bình thường của ngư dân Việt Nam và làm ảnh hưởng đến hoạt động trên biển của PVN.


Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam phản đối hành động xâm hại tàu Bình Minh 02 của tàu cá Trung Quốc và kiến nghị các cơ quan chức năng yêu cầu phía Trung Quốc giáo dục công dân Trung Quốc tôn trọng vùng biển Việt Nam, không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các tàu Việt Nam, trong đó có các tàu khảo sát của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.

PV: Xin cảm ơn ông.
TIẾN DŨNG (NĂNG LƯỢNG MỚI)

"TÀU CÁ"/ TRUNG QUỐC KÉO ĐỨT CÁP TÀU BÌNH MINH 02

Ngày 30/11/2012, trên vùng biển gần đảo Cồn Cỏ của Việt Nam, tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đang làm nhiệm vụ lại bị các tàu cá Trung Quốc xâm hại, gây đứt cáp thu nổ địa chấn.

Phóng viên Petrotimes đã có cuộc phỏng vấn ông Phạm Việt Dũng, Phó trưởng ban Tìm kiếm Thăm dò – phụ trách Văn phòng Biển Đông của PVN về vụ việc nghiêm trọng này.

PV: Theo một số nguồn tin, tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 của PVN lại bị cản trở khi đang làm việc ở vùng biển Việt Nam. Xin ông cho biết thông tin cụ thể?



Cáp tàu BM02 bị cắt

Ông Phạm Việt Dũng: Vào lúc 4 giờ 5 phút ngày 30/11/2012, khi tàu Bình Minh 02 đang di chuyển từ tuyến PVN12-R009 về tuyến PVN12-R005 ở khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ để chuẩn bị khảo sát. Có rất nhiều tàu cá Trung Quốc đang hoạt động tại đây. Khi các lực lượng chức năng phát tín hiệu cảnh báo và yêu cầu các tàu cá ra khỏi khu vực làm việc của tàu Bình Minh 02, một cặp tàu kéo dã cào mang số hiệu 16025 và 16028 của Trung Quốc đã chạy qua phía sau tàu Bình Minh 02 và gây đứt cáp địa chấn của tàu Bình Minh 02 cách phao đuôi khoảng 25m.

Vị trí cáp bị đứt có tọa độ là 17º26 Bắc và 108º02 Đông, cách đảo Cồn Cỏ 43 hải lý về phía đông nam và cách đường trung tuyến Việt Nam – Trung Quốc 20 hải lý về phía tây.

PV: Xin ông cho biết đôi nét về nhiệm vụ của tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 và những khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ này?


Vị trí xảy ra sự cố và hướng di chuyển của tàu BM02

Ông Phạm Việt Dũng: Từ tháng 5/2012 đến nay, tàu Bình Minh 02 tiến hành đề án khảo sát địa chấn 2D liên kết các bể trầm tích trên thềm lục địa Việt Nam. Tàu địa chấn Bình Minh 02 bắt đầu khảo sát các tuyến liên kết ở bể Cửu Long, sau đó là bể Nam Côn Sơn, bể Phú Khánh và hiện nay đang đang khảo sát các tuyến liên kết ở bể Sông Hồng tại khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ.

Thời gian gần đây, có rất nhiều tàu cá Trung Quốc xâm phạm trái phép vùng biển Việt Nam đánh bắt hải sản, với số lượng rất lớn, tập trung ở khu vực từ Cồn Cỏ đến Nam Tri Tôn, có ngày lên tới hơn 100 lần chiếc. Các tàu chấp pháp của Việt Nam đã yêu cầu các tàu cá Trung Quốc rút ra khỏi vùng biển Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều tàu cá Trung Quốc vẫn cố tình quay trở lại xâm phạm vùng biển Việt Nam.


PV: Vậy phía PVN đã có những phản ứng như thế nào trước vụ việc này, thưa ông?

Ông Phạm Việt Dũng: Ngay sau khi xảy ra sự việc, PVN đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc và tàu Bình Minh 02 nhanh chóng khắc phục sự cố, sửa chữa cáp địa chấn để sớm tiếp tục công việc. Đến 14 giờ ngày 1/12/2012, anh em đã khắc phục xong sự cố cáp địa chấn và tàu Bình Minh 02 đã tiếp tục công tác khảo sát bình thường.

Việc tàu cá Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm vùng biển Việt Nam đánh bắt hải sản, không những vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam mà còn cản trở hoạt động bình thường của ngư dân Việt Nam và làm ảnh hưởng đến hoạt động trên biển của PVN.


Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam phản đối hành động xâm hại tàu Bình Minh 02 của tàu cá Trung Quốc và kiến nghị các cơ quan chức năng yêu cầu phía Trung Quốc giáo dục công dân Trung Quốc tôn trọng vùng biển Việt Nam, không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các tàu Việt Nam, trong đó có các tàu khảo sát của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.

PV: Xin cảm ơn ông.
TIẾN DŨNG (NĂNG LƯỢNG MỚI)

CIA TÌM CÁCH TUYỂN NGƯỜI VIỆT

Vũ Quý Hạo Nhiên
Buổi hội thảo việc làm của CIA tại Đại học California State University Fullerton
Ở Quận Cam hôm 18/10 ngay gần Little Saigon có một sự kiện vừa rất là bình thường mà cũng có nhiều điều rất là lạ.

Chuyện bình thường là một cơ quan nhà nước đi tuyển nhân viên. Chuyện cơ quan này là Trung ương Tình báo CIA, vẫn còn bình thường. CIA cũng cần người làm việc, và muốn có người làm việc, thì phải đi tuyển.

Tại các trường đại học ở Mỹ, mỗi năm các cơ quan chính quyền, từ liên bang đến tiểu bang, tràn đến tuyển sinh viên sắp ra trường.

Sở thuế, bộ Quốc phòng, bộ Ngoại giao, Quỹ Dự trữ Liên bang đều có mặt. Và cả cơ quan tình báo CIA.

Cho nên, khi CIA tìm đến cộng đồng Việt Nam, hợp tác với Phòng Thương mại Việt Mỹ Quận Cam (VACOC) tổ chức một buổi giới thiệu việc làm, riêng cho người Việt tại phòng họp đại học California State University Fullerton, điều đó có phần bình thường, theo như lời giải thích của Bác sĩ Tâm Nguyễn, chủ tịch Phòng Thương mại.

Bác sĩ Tâm nói hội đồng quản trị Phòng Thương mại đi dự một buổi hội thảo của hội OCA, Tổ chức người Hoa tại Mỹ, và gặp ông Michael Mau, đại diện của CIA, nói chuyện tại đó. “Chúng tôi nghĩ, nếu họ đã muốn tìm nhân viên người gốc Á, tại sao không giúp họ tuyển nhân viên gốc Việt?,” Bác sĩ Tâm kể.

Tuy là một sự kiện bình thường, nhưng vì là CIA, nên trong đó có những chuyện không bình thường.

‘Tác nghiệp’

Mới gặp mặt đế viết bài, ông Mau đã nói ngay, “Chụp hình tôi thì được, nhưng xin đừng chụp hình các đồng nghiệp của tôi, họ vẫn còn đang làm việc tình báo.”

Hiểu. Năm nhân viên CIA tới thuyết trình, nhưng chỉ được chụp hình một. Bốn người còn lại, xem như không có.

Mà đúng là “như không có” thật. Khi giới thiệu, ngoài ông Mau là người phụ trách về nhân sự ra, những người còn lại đều là nhân viên chuyên môn của CIA, và những người này không tiết lộ họ của mình. Chỉ có tên: Cô “Sharon C.,” ông “Alexander M.,” cô “Thuy L.,” và cô “Noli A.”
Tờ rơi quảng cáo đi làm cho CIA.
Không những thế, họ còn không biết tốt nghiệp ở đâu ra.

Ông Alexander M. chẳng hạn, là một người gốc Việt, được giới thiệu có tên Việt Nam là Tuấn. Ông có bằng cử nhân kỹ sư điện, và bằng thạc sĩ hệ thống tin học. Nhưng không biết ở trường nào ra.

Bốn người kia cũng vậy, không giới thiệu nơi học. Có lẽ vì các trường đại học mỗi năm đều in một quyến Yearbook như một thứ lưu bút với thông tin về sinh viên và hình ảnh sinh hoạt trong trường, để giữ làm kỷ niệm. Có lẽ họ ngại nếu biết tên trường, đối phương sẽ tìm ra tông tích?

Khi sắp bắt đầu phỏng vấn, ông Mau hỏi lại là viết cho ai. “BBC Vietnamese.” “BBC bên Anh đấy à?” “Đúng vậy.”

Và thế là đụng phải luật. “Xin lỗi,” ông Mau nói, “tôi bị kẹt quy định của cơ quan. Chúng tôi không được phép trả lời phỏng vấn các cơ quan truyền thông nước khác. Luật không cho phép.”

Nhưng người phỏng vấn là công dân Mỹ mà? Ông Mau lắc đầu, “Trên thực tế người ngoại quốc mà làm cho truyền thông Mỹ thì tôi được trả lời phỏng vấn, trong khi người Mỹ làm cho truyền thông ngoại quốc thì lại không. Quy định của chúng tôi ngược ngạo như thế. Xin lỗi.”

Thôi thế thì xong! Luật không cho phỏng vấn thì không thể dụ dỗ thuyết phục gì. Thế ở lại xem có được không? “Vâng.” Rồi suy nghĩ một chút, ông tiếp: “Nhưng xin đừng quay phim, đừng thu tiếng.”

Thôi thế thì xong, tập hai. Cũng may BBC không còn phát thanh nên không thu hình thu tiếng không sao.

Một điểm đặc biệt nữa đối với một buổi tuyển người, là không ai biết CIA có bao nhiêu nhân viên. Chỉ có một số người – như các dân biểu, nghị sĩ trong Ủy ban Tình báo Hạ Viện và Thượng Viện – là biết con số đó.

‘Dịp tốt’
Đại diện nhân sự của CIA, ông Michael Mau (trái), bàn chuyện với Bác sĩ Tâm Nguyễn (Chủ tịch Phòng Thương mại Việt Mỹ Quận Cam)
Ngân sách CIA cũng không tiết lộ ra ngoài. Chỉ từ năm 2007 tới giờ, chính phủ Mỹ mới công bố ngân sách tổng cộng của các ngành tình báo, trong đó CIA chỉ là một trong 16 cơ quan.

Năm 2011, theo báo cáo của giám đốc tình báo quốc gia Trung tướng James Clapper nộp lên Quốc Hội, ngân sách tình báo dân sự của Hoa Kỳ là $54.6 tỷ, thêm ngân sách tình báo quân đội $24 tỷ, tổng cộng $78.6 tỷ.

Đây là một con số khiêm tốn so với những món khổng lồ như máy bay F-35, mãi chưa xong, giá mua lên tới $400 tỷ.

Buổi hội thảo được Phòng Thương mại Việt Mỹ tổ chức với mục đích đơn giản là giúp người Việt Nam tìm việc. Luật sư Ken Đạt Dương, trong ban tổ chức, nói họ làm việc với CIA “vì muốn mở thêm cơ hội tìm việc làm cho người Việt Nam, nhất là trong một ngành ít ai nghĩ tới.”

Bác sĩ Tâm nói thêm, “Chúng tôi làm việc nhiều với các công ty tư nhân để khuyến khích họ đa dạng hóa sắc tộc nhân sự của họ. Nhưng chúng tôi ít có dịp làm việc với các cơ quan chính quyền, nên đây là một dịp tốt để tiếp tay với một cơ quan chính quyền tuyển thêm người gốc Việt.”
Trong số người tham dự buổi hội thảo, có khoảng mươi người có vẻ đến với đúng ý định tìm việc. Họ ăn mặc chỉnh tề, lắng nghe nghiêm túc, như thể sắp phỏng vấn xin việc.

Nhưng cũng có những người đến vì tò mò. Cô Nam Nguyễn là một trong những người như vậy. Hiện đang học nghề cắt tóc, cô nói cô tới vì thấy mấy người trong trường khuyến khích đi để “mở mang đầu óc.” Một người khác cũng tò mò tới nghe là cô Liên Trịnh, muốn “tìm hiểu, hội nhập.”

Hai người đều không nghĩ mình có cơ hội, vì mới qua Mỹ “tiếng Anh còn yếu lắm.” Nhưng khi được hỏi nếu CIA nhận thiệt, cho về Việt Nam làm gián điệp, có dám làm không, thì cô Nam dõng dạc tuyên bố, “Dám chứ gì đâu sợ!”

Tất nhiên không phải ai làm cho CIA cũng là gián điệp. “Chúng tôi tuyển rất nhiều khoa học gia, kỹ sư, chuyên viên điện toán,” ông Mau trình bày. CIA đặc biệt tự hào với ngành nghiên cứu khoa học kỹ thuật của họ. “Quý vị có thể làm việc với kỹ thuật tân tiến tới mức là bí mật quốc gia.”

Ngay những người nhân viên CIA hiện diện tại chỗ cũng có nhiều ngành chuyên môn khác nhau. Trong hai người gốc Việt, ông Tuấn Alexander là kỹ sư điện, cô Thủy L. là nhà kinh tế, với hai bằng cử nhân và thạc sĩ kinh tế quốc tế. Có người học toán, quản trị kinh doanh, ngôn ngữ, sư phạm. Tất cả đều làm trong “Clandestine Service,” tạm dịch “dịch vụ bí mật,” của CIA.

‘Lối nhìn độc đáo’


Nhân viên CIA có nhiều sắc dân, nhiều tôn giáo, nhiều giới tính. Thông tin phát tại buổi hội thảo cho thấy ở CIA có ngoài các hội nhân viên theo sắc dân, còn có hội người điếc và khiếm thính, và có cả hội người đồng tính.

Thay vì ép buộc mọi người phải giống nhau, CIA chủ trương “Những lối nhìn độc đáo, đó là nhiệm vụ của chúng tôi.”

Có những điều nhiều người hiểu nhầm về CIA. Dù bắt buộc phải giữ kín bí mật quốc gia, điều đó không có nghĩa là gia đình chả bao giờ biết người nhân viên CIA làm gì.

Họ còn cho biết, có những trường hợp nhân viên phải chuyển ra ngoại quốc làm việc, CIA trả tiền cho vợ con đi theo luôn. Nhân viên CIA không nhất thiết phải là võ sư hay xông pha vào nơi nguy hiểm. Nhân viên CIA không cần phải rành ngoại ngữ, không cần phải là công dân Mỹ nhiều đời.

Nhân viên CIA không phải mang vũ khí – “trừ khi quý vị xem điện thoại an toàn là một thứ vũ khí.”

Tuy nói vậy, nhưng chính ông Alexander Tuấn lại tiết lộ:

“Công tác đặc biệt nhất của tôi là có lần tôi đi Trung Đông, tập đánh xáp lá cà, tập bắn súng – mặc dù việc của tôi là làm kỹ sư!”

Cuối buổi hội thảo, một số người ở lại hỏi thêm những nhân viên CIA này – một dấu hiệu cho thấy buổi hội thảo đã đạt được một phần mục đích chính là kết nối tìm việc làm.

Chính Luật sư Ken cũng thố lộ, “Nghe xong buổi hội thảo tôi cũng thấy tò mò. Đúng là trước đây tôi không hề nghĩ mình sẽ làm cho CIA nhưng bây giờ tối thiểu tôi cũng phần nào quan tâm.”

Đó không phải là suy nghĩ khác thường. Tất cả các nhân viên CIA nói chuyện tại buổi hội thảo, đều chia sẻ một điều giống nhau, là trước khi bước chân vào làm tại CIA, họ chưa hề nghĩ mình sẽ vào làm tại “Ổ gián điệp” như vậy. Đường vào tới tình báo, có vẻ như tình cờ chứ không cố ý.

Bài thể hiện cách hành văn và góc nhìn riêng của tác giả, một phóng viên của tờ Người Việt ở California, Hoa Kỳ.