NHÀ KHOA HỌC THAN…VÌ KHÔNG ĐƯỢC TỰ CHỦ

Chuyện quản lý khoa học ở nước ta lâu giờ người ta chán chẳng buồn nói nữa.
Thế rồi nhân dịp Bộ Khoa học và Công nghệ soạn thảo lại dự luật khoa học-công nghệ cách đây một năm, câu chuyện đó lại được xới lên và xới lên một cách rầm rộ. Rằng nhà khoa học bây giờ khó sống lắm, đã thế thủ tục tiêu tiền đề tài còn khó hơn làm đề tài, rồi Nhà nước không cho tự chủ, nhà khoa học muốn tự làm cái này tự làm cái kia lại còn khó nữa. Cuối cùng là cái khó bó đủ thứ.

PGS-TS Phan Thị Tươi, nguyên Bí thư Đảng ủy – Hiệu trưởng Trường ĐH Bách khoa TP.HCM, phát biểu ngày 30-11 cho rằng: “Hãy để các trường ĐH một sự tự chủ để họ tự xoay xở cùng với những khó khăn của đất nước. Đừng sợ họ tự chủ thì họ sẽ làm bậy trong khi chúng ta đã có biết bao cơ chế để kiểm tra, giám sát”.

Có thể nói rằng việc quản lý các cơ sở ĐH, các tổ chức khoa học của chúng ta hiện nay chẳng khác nào thời kỳ kinh tế bao cấp, nơi Nhà nước ôm lấy mọi thứ và chỉ huy mọi thứ. Trong khi nền kinh tế đã mở cửa, chấp nhận nhiều thành phần kinh tế bên cạnh kinh tế nhà nước thì nền khoa học vẫn chưa nhúc nhích khỏi vòng bao cấp được là bao. Được Nhà nước ôm ấp và nhỏ cho vài giọt ngân sách đủ để không chết đói, các nhà khoa học có kêu cũng không có gì là lạ.

Chuyện bà Tươi nói về nỗi lo ngại các nhà khoa học làm bậy là chuyện có thật. Cũng giống như ngày xưa người ta sợ kinh tế tư nhân thì sẽ sinh ra bóc lột, sinh ra bất bình đẳng thì ngày nay vì sợ nhà khoa học làm bậy, người ta vẫn không muốn trả lại cho họ quyền được tự do xoay xở cho chính bản thân mình. Đã có Nhà nước lo hộ rồi. Chẳng phải chúng ta từng chết dở với cái tư duy này trong thời bao cấp hay sao?

Mặt khác, sự tự chủ của nhà khoa học không phụ thuộc hoàn toàn vào Nhà nước. Nói nhà khoa học gặp khó vì cơ chế, chính sách chỉ là một nửa vấn đề. Nửa còn lại là nhà khoa học có muốn và có khả năng tự chủ hay không. Một nhà nghiên cứu chính sách chia sẻ với Pháp Luật TP.HCMrằng bi kịch đau đớn và trớ trêu của nền khoa học chúng ta là có những nhà khoa học không muốn rời khỏi cái chăn ấm của Nhà nước. Họ tình nguyện gò mình vào cái cơ chế nhiều bó buộc đó, ngày ngày đi xin và chờ được cho, vì lý do gì thì chỉ họ mới hiểu.

Câu chuyện nằm ở chỗ một nhà khoa học không cần thiết phải có chân trong một viện nghiên cứu công lập. Nếu họ tự nghiên cứu hoặc tìm đến các tổ chức khoa học tư nhân, thậm chí ngay cả các doanh nghiệp, tự tìm đề tài, tự xin tài trợ, tự nghiên cứu và tự công bố kết quả đó không phải là tự chủ hay sao? Ai cấm các nhà khoa học làm thế?

Vậy nên các nhà khoa học ơi, đừng than thở nữa!

HOÀNG THƯ
Advertisements

NHÀ KHOA HỌC THAN…VÌ KHÔNG ĐƯỢC TỰ CHỦ

Chuyện quản lý khoa học ở nước ta lâu giờ người ta chán chẳng buồn nói nữa.
Thế rồi nhân dịp Bộ Khoa học và Công nghệ soạn thảo lại dự luật khoa học-công nghệ cách đây một năm, câu chuyện đó lại được xới lên và xới lên một cách rầm rộ. Rằng nhà khoa học bây giờ khó sống lắm, đã thế thủ tục tiêu tiền đề tài còn khó hơn làm đề tài, rồi Nhà nước không cho tự chủ, nhà khoa học muốn tự làm cái này tự làm cái kia lại còn khó nữa. Cuối cùng là cái khó bó đủ thứ.

PGS-TS Phan Thị Tươi, nguyên Bí thư Đảng ủy – Hiệu trưởng Trường ĐH Bách khoa TP.HCM, phát biểu ngày 30-11 cho rằng: “Hãy để các trường ĐH một sự tự chủ để họ tự xoay xở cùng với những khó khăn của đất nước. Đừng sợ họ tự chủ thì họ sẽ làm bậy trong khi chúng ta đã có biết bao cơ chế để kiểm tra, giám sát”.

Có thể nói rằng việc quản lý các cơ sở ĐH, các tổ chức khoa học của chúng ta hiện nay chẳng khác nào thời kỳ kinh tế bao cấp, nơi Nhà nước ôm lấy mọi thứ và chỉ huy mọi thứ. Trong khi nền kinh tế đã mở cửa, chấp nhận nhiều thành phần kinh tế bên cạnh kinh tế nhà nước thì nền khoa học vẫn chưa nhúc nhích khỏi vòng bao cấp được là bao. Được Nhà nước ôm ấp và nhỏ cho vài giọt ngân sách đủ để không chết đói, các nhà khoa học có kêu cũng không có gì là lạ.

Chuyện bà Tươi nói về nỗi lo ngại các nhà khoa học làm bậy là chuyện có thật. Cũng giống như ngày xưa người ta sợ kinh tế tư nhân thì sẽ sinh ra bóc lột, sinh ra bất bình đẳng thì ngày nay vì sợ nhà khoa học làm bậy, người ta vẫn không muốn trả lại cho họ quyền được tự do xoay xở cho chính bản thân mình. Đã có Nhà nước lo hộ rồi. Chẳng phải chúng ta từng chết dở với cái tư duy này trong thời bao cấp hay sao?

Mặt khác, sự tự chủ của nhà khoa học không phụ thuộc hoàn toàn vào Nhà nước. Nói nhà khoa học gặp khó vì cơ chế, chính sách chỉ là một nửa vấn đề. Nửa còn lại là nhà khoa học có muốn và có khả năng tự chủ hay không. Một nhà nghiên cứu chính sách chia sẻ với Pháp Luật TP.HCMrằng bi kịch đau đớn và trớ trêu của nền khoa học chúng ta là có những nhà khoa học không muốn rời khỏi cái chăn ấm của Nhà nước. Họ tình nguyện gò mình vào cái cơ chế nhiều bó buộc đó, ngày ngày đi xin và chờ được cho, vì lý do gì thì chỉ họ mới hiểu.

Câu chuyện nằm ở chỗ một nhà khoa học không cần thiết phải có chân trong một viện nghiên cứu công lập. Nếu họ tự nghiên cứu hoặc tìm đến các tổ chức khoa học tư nhân, thậm chí ngay cả các doanh nghiệp, tự tìm đề tài, tự xin tài trợ, tự nghiên cứu và tự công bố kết quả đó không phải là tự chủ hay sao? Ai cấm các nhà khoa học làm thế?

Vậy nên các nhà khoa học ơi, đừng than thở nữa!

HOÀNG THƯ

BÀN THÊM VỀ ĐÀO TẠO TIẾN SĨ

Nguyễn Văn Tuấn
Xin giới thiệu một bài viết của Gs Pierre Darriulat về đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam. Bài báo “Đào tạo tiến sĩ : đối diện với thực tế” (bản tiếng Anh là Vietnamese PhDs : the need to face reality). Bản gốc bài báo viết bằng tiếng Anh, và báo Tia Sáng dịch sang tiếng Việt. Bản tiếng Anh có vẻ đầy đủ hơn bảng tiếng Việt (xem so sánh dưới đây). Bài viết nêu lên những bất cập trong đào tạo tiến sĩ, kể cả chuyện mua bán bằng cấp và viết hộ luận văn. Không chỉ là những vấn đề tiêu cực như thế, mà còn tồn tại nhiều vấn đề nghiêm trọng khác như qui trình đào tạo, chuyên môn của thầy cô hướng dẫn, cơ sở vật chất cho đào tạo, v.v.. Hệ quả là nhiều luận án cấp tiến sĩ nhưng không xứng đáng với học vị đó. Tôi thì nghĩ nên rà soát lại và nhận ra những trung tâm nào và cá nhân nào có thể đào tạo tiến sĩ, cũng như chấn chỉnh lại qui trình đào tạo và quản lí nghiên cứu sinh. Cách làm đại trà như hiện nay thì chỉ có thể cho ra những doctor chẳng ai công nhận. 



Trước khi gửi đăng báo, Pierre gửi cho vài bạn bè bình luận và cho ý kiến. Tôi đọc bản nháp và có góp ý (xem phần dưới). Trong lá thư góp ý, tôi muốn nhấn mạnh 3 điểm chính : mục tiêu học tiến sĩ sai lạc, qui trình đào tạo, chất lượng đào tạo, và chương trình hậu tiến sĩ. 

Mục đích học tiến sĩ có phần lệch lạc, và điều này thì báo chí cũng đã nêu lên nhiều lần. Mục đích của đào tạo tiến sĩ là đào tạo những nhà khoa học chuyên nghiệp (professional scientist) và những giảng viên, giáo sư tương lai cho đại học, qua trang bị những kĩ năng nghiên cứu khoa học và kiến thức chuyên sâu. Làm quản lí hay hành chính không cần phải học tiến sĩ. Nhưng ở Việt Nam, trong thực tế, nhiều người theo học tiến sĩ chủ yếu là để hợp thức hoá vị trí công tác hiện tại, hoặc thăng tiến trong nấc thang hành chính và quản lí. Cũng có người theo học vì mục tiêu tiến bộ khoa học nhưng số này chắc không nhiều. Do đó, mục đích đào tạo và học vị tiến sĩ đã bị làm cho lệch lạc.

Qui trình quản lí nghiên cứu sinh cũng cần phải được bàn thảo một cách nghiêm chỉnh. Ở Việt Nam, qui trình đào tạo tiến sĩ thoạt đầu nhìn vào thì khá chặt chẽ, nhưng hình như chỉ lúc ban đầu. Nghiên cứu sinh phải thi và bảo vệ đề cương, có người hướng dẫn, tức không khác gì ở nước ngoài. Nhưng những người xét duyệt đề cương có khi chẳng có chuyên môn gì liên quan. Lại còn có vấn đề mã số, rất rắc rối và hành chính hoá đến mức độ … khó tin. Ngoài ra, qui trình quản lí nghiên cứu và nghiên cứu sinh thì không thấy đề cập đến. Luận án chủ yếu thông qua bởi một hội đồng gồm 6-8 người, mà nghiên cứu sinh phải chạy đôn chạy đáo để chọn và chi tiền cho họ ngồi xét duyệt ! Có thể nói rằng qui trình như thế mang tính hành chính nhiều hơn là khoa học. Hệ quả là nhiều nghiên cứu sinh khi vào học mới thấy mình tự học là chính, và người hướng dẫn thì chẳng giúp gì mà có khi lại chính là rào cản.

Ở Úc, mỗi đại học hay viện đều có một hội đồng (thường gọi là Higher Degree Committee hay HDC) chuyên lo quản lí tiến độ của nghiên cứu sinh. Cứ mỗi 6 tháng, nghiên cứu sinh và người hướng dẫn phải đi dự phỏng vấn của HDC, để nhận ra những vấn đề đang vướng mắc và bàn biện pháp giải quyết. Có những vấn đề như nghiên cứu sinh thiếu chuyên môn phân tích, chưa biết viết bài báo khoa học, thiếu kĩ năng lab, v.v. thì HDC có nhiệm vụ giới thiệu nghiên cứu sinh đi học thêm những kĩ năng cần thiết. Những vấn đề cá nhân (như mâu thuẫn giữa thầy và trò) cũng có thể giải quyết. Ngoài làm việc với HDC, nghiên cứu sinh phải dự seminar hàng tuần, họp lab hàng tuần nghe người khác trình bày nghiên cứu, họp journal club để điểm qua những nghiên cứu của người khác, v.v. Mỗi năm, nghiên cứu sinh còn phải trình bày kết quả nghiên cứu để người khác săm soi. Với một qui trình như thế, nghiên cứu sinh cảm thấy mình không bị bỏ rơi, mà có hẳn một “bộ máy” hỗ trợ đằng sau mình, và tiến độ nghiên cứu được đảm bảo theo đúng thời gian định ra.

Vấn đề chất lượng đào tạo rất đáng quan tâm. Thật vậy, những vấn đề đào tạo tiến sĩ ở trong nước có thể tóm tắt trong 2 chữ “chất lượng”. Chất lượng người hướng dẫn, chất lượng đề tài nghiên cứu, và chất lượng môi trường.

Một nhân tố rất quan trọng trong đào tạo tiến sĩ là người hướng dẫn (tạm hiểu như là mentor). Ở Việt Nam, nơi nào có người với chức danh phó giáo sư hay giáo sư thì xem như đủ tư cách khoa học để hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ. Nhưng trong thực tế, không phải ai có bằng tiến sĩ hay chức danh giáo sư đều có thể hướng dẫn tiến sĩ. Những người có tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh không chỉ có chuyên môn cao, có tên tuổi trong chuyên ngành (qua công bố quốc tế), mà còn phải có chương trình nghiên cứu riêng. Không có chương trình nghiên cứu riêng, nghiên cứu sinh sẽ chẳng khác gì một người lang thang trong rừng, mất định hướng nghiên cứu. Nếu người hướng dẫn không có chuyên môn và kiến thức tốt, thì nghiên cứu sinh sẽ loay hoay với những đề tài tầm thường, những đề tài mang tính “me too” (bắt chước người khác một cách máy móc), không xứng đáng với luận án tiến sĩ. Khó nói ở Việt Nam có bao nhiêu người đủ khả năng hướng dẫn tiến sĩ, nhưng có lẽ con số không nhiều.

Trong thực tế, nhiều đề tài nghiên cứu cấp tiến sĩ bị giới báo chí mỉa mai là “vô bổ”. Không biết các ngành khác thì sao, nhưng trong ngành y, chỉ nhìn vào nội dung luận án và phương pháp nghiên cứu của những luận án được công bố trên mạng, tôi phải nói rằng những luận án này chưa đạt trình độ tiến sĩ. Đại đa số những luận án này chỉ có một nghiên cứu và do đó phần kết quả rất ư là nghèo nàn. Đề tài cũng chỉ quanh quẩn những vấn đề cổ điển, hoặc những vấn đề mang tính dịch vụ, chứ không mang tính khoa học hay khám phá. Ở UNSW, chúng tôi vẫn cho những đề tài như thế cho sinh viên cử nhân hạng danh dự và học viên masters làm. Do đó, có thể nói rằng không ít luận án tiến sĩ ở Việt Nam (chỉ nói trong ngành y) chưa đạt chuẩn mực của một luận án tiến sĩ thực thụ.

Chất lượng môi trường nghiên cứu cũng quan trọng. Ở Thái Lan, tuy họ có nhiều trường đại học, nhưng số trường có khả năng và điều kiện cơ sở vật chất đào tạo tiến sĩ thì rất ít. Trong các chuyên ngành như y học, đào tạo tiến sĩ rất tốn kém. Ở Úc, tính trung bình chi phí đào tạo tiến sĩ y học tốn khoảng 50 ngàn USD mỗi năm (so với các ngành khoa học tự nhiên chỉ khoảng 20 đến 30 ngàn USD). Cơ sở vật chất cho nghiên cứu sinh cần phải được đảm bảo ở mức độ tốt nhất, sao cho khi nhận nghiên cứu sinh vào là tất cả các điều kiện về thiết bị, kĩ thuật, cơ sở yểm trợ, v.v. đều đã sẵn sàng. Còn ở Việt Nam, tôi biết có nhiều nghiên cứu sinh tuy nói là học tiến sĩ nhưng chủ yếu dựa vào cơ sở vật chất nơi họ đang công tác. Ở ngoài, nghiên cứu tiến sĩ là phải tập trung toàn thời gian, còn ở Việt Nam, đại đa số chỉ làm bán thời gian. Nhiều nghiên cứu sinh “tự bơi” trong điều kiện thiếu thốn.


Một vấn đề quan trọng khác mà tôi muốn nhấn mạnh là chương trình đào tạo hậu tiến sĩ. Sau bài góp ý này, Pierre có thêm phần đào tạo hậu tiến sĩ. Ở trong nước, người ta nghĩ rằng xong chương trình tiến sĩ là đạt đỉnh cao học thuật, không cần học gì thêm nữa. Quan điểm này hết sức sai lầm. Xong tiến sĩ có thể ví von như là xong học nghề. Người học cần phải trao dồi tay nghề mới có thể trở thành độc lập. Nhưng rất tiếc là đại đa số tiến sĩ được VN gửi ra ngoài đào tạo chưa qua chương trình hậu tiến sĩ, vì theo qui định họ phải về nước. Vì thế, phần lớn chưa có cơ hội thực tập sau tiến sĩ, và trình độ có khi cũng còn hạn chế. Còn ở trong nước thì không có chương trình hậu tiến sĩ. Theo tôi, cần phải gửi nghiên cứu sinh xong tiến sĩ ra ngoài để theo đuổi chương trình hậu tiến sĩ để đào tạo những người này thành những nhà khoa học chuyên nghiệp. Điều này có thể không dễ, vì xin được một suất học hậu tiến sĩ rất khó và cạnh tranh ác liệt. Nhưng nếu nghiên cứu sinh có công bố quốc tế trên các tập san tốt thì việc xin nghiên cứu hậu tiến sĩ cũng dễ dàng hơn.


Tóm lại, đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam còn tồn tại khá nhiều vấn đề, từ qui trình đến chất lượng. Tôi nghĩ cần phải rà soát lại tất cả các đại học đang đào tạo tiến sĩ để nhận ra những người hướng dẫn có khả năng, có chương trình nghiên cứu, và cơ sở vật chất thích hợp. Ngoài ra, cũng cần có những chương trình hậu tiến sĩ cho các nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp có cơ hội rèn luyện để trở thành những nhà khoa học chuyên nghiệp. Đào tạo tiến sĩ rất quan trọng, và quan trọng nhất là phẩm chất khoa học, chứ không phải là những con số tròn trĩnh để đạt một “mục tiêu chính trị” nào đó.

N.V.T 

NHỮNG NGÔI TRƯỜNG ỌP ẸP Ở MƯỜNG LÁT

Gió rít từ trong phòng học tạm trên đỉnh núi ở Mường Lát (Thanh Hóa) khiến những đứa trẻ khi co rúm, lúc kẹp đôi tay vào nách mình để tự sưởi ấm… Cả thầy và trò ở đây đang vượt qua khó khăn khó tả.


Lớp học Mầm non ở bản Sài Khao.

Tháng 1-2008, Trường Tiểu học Mường Lý, xã Mường Lý, huyện Mường Lát tách thành hai điểm trường, trong đó Trường tiểu học Mường Lý đóng tại trung tâm xã, còn điểm Trường tiểu học Tây Tiến đóng tại bản Xì Lô (cách trung tâm xã gần 20 km đường rừng).

Từ đây đi về các khu lẻ ở các bản Trung Thắng, Sài Khao mất thêm chừng 20 km đường mòn uốn lượn trên những ngọn đồi, núi.

Trường mang tên Tây Tiến, có lẽ một phần vì lý do vùng đất này gắn bó với một thời kỳ lịch sử, với những địa danh, với những di tích năm xưa bộ đội tây tiến làm nhiệm vụ trong bài thơ Tây Tiến- Quang Dũng.

Khi mới thành lập và hoạt động cho đến năm học 2012-2013, Trường tiểu học Tây Tiến có 26 lớp (gần 450 học sinh), với 31 cán bộ, nhân viên, giáo viên ở 8 điểm trường đóng ở các bản.

Cao, xa hơn cả từ điểm chính của Trường tiểu học Tây Tiến có lẽ là các khu lẻ ở các bản Sài Khao, Trung Thắng. So với 5 năm trước, chúng tôi có dịp về Sài Khao, lối mòn đường rừng giờ đã rộng hơn.

Trong chuyến đi này, chúng tôi may mắn được thầy hiệu trưởng Trường tiểu học Tây Tiến, Lê Xuân Viên dẫn đường về Sài Khao, Trung Thắng.

Thầy Viên nói: “Dù đường khó đi, vất vả vậy nhưng chúng tôi cũng thường đến thăm các khu trường để động viên, thăm hỏi, chia sẻ, trao đổi nghiệp vụ với giáo viên, học sinh”.

Sau gần 2 giờ đồng hồ, chúng tôi về tới hai bản Trung Thắng, Sài Khao khi trời nhờ nhờ tối. Ấy vậy mà, lớp học của thầy Tăng Văn Lộ vẫn vang tiếng thầy giảng, trò đọc ở lớp học ghép 4+5 tại bản Trung Thắng.


Lớp học của thầy Tăng Văn Lộ ở bản Trung Thắng.
Ảnh: Hoàng Lam.

Khu trường ở bản Trung Thắng có 53 học sinh được phân thành 3 lớp (trong đó có 2 lớp ghép) do 2 thầy giáo phụ trách là thầy Lộ và thầy Hơ Hơ Pó. Hàng rào vào khuôn viên lớp học là những viên đá được lấy từ núi xếp từng hàng ngay ngắn.

Cổng của lớp học là 2 cây nan thanh dựng lên, bên trên nối ngang là một tấm gỗ có hàng chữ sơn đỏ “Trường tiểu học Tây Tiến, khu trường Trung Thắng”.

Lớp học của thầy trò thầy Lộ là những tấm gỗ, mái lợp xi măng được dựng lên, chẳng thể chắn gió lạnh, không thể ngăn mưa tạt. Dẫu thế, các thầy vẫn kiên trì động viên học trò, động viên mình không ngừng một buổi học nào.

“Ở đây, trời nhanh tối, phòng học đã hở khắp nơi cũng không đủ ánh sáng cho các em học bài. Nếu mở thêm mấy tấm gỗ phên bên vách lớp để lấy ánh sáng thì gió lạnh, mưa tạt sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của học sinh” – thầy Lộ tâm sự.

Năm 2006, ở cả Sài Khao và Trung Thắng đều được ngành chức năng xây dựng một phòng kiên cố với diện tích chưa đầy 10 mét vuông cho cấp tiểu học.

Hiện nay, phòng học này quá chật và đã xuống cấp, không thể sử dụng cho nhiệm vụ giảng dạy được nữa nên lớp học mầm non, tiểu học ở đây đều là những lớp học tạm được dựng lên từ gỗ, luồng, nan với mái tranh hoặc tấm lợp xi măng.

Dân cư sinh sống thưa thớt, địa hình đồi núi, độ dốc lớn khiến các lớp học tạm ở 2 bản Sài Khao, Trung Thắng trở nên chênh vênh hơn trên những sườn đồi hút gió.

Giờ tan học, nhiều học sinh vội vàng rời lớp để sang bên kia ngọn đồi về nhà mình. Giàng Thị Deo (lớp 4) nói: Những hôm trời mưa, các thầy và học sinh phải kê lại bàn ghế để tránh mưa tạt vào, sàn đất ở lớp học ướt, ẩm nhầy nhụa bùn khiến các em khi thì bẩn quần áo, khi thì bẩn cặp sách…

Mùa lạnh và những khi trời đổ mưa, các em rất khó nhìn thấy chữ, số thầy giáo viết trên bảng vì không có điện…

Ông Giàng A Tống – Trưởng bản Trung Thắng cho biết: Cả bản có 54/76 hộ (463 nhân khẩu) là hộ nghèo, học sinh đi học xa nhất cũng mất gần 2 km đường rừng.

Các em đều phải rời nhà từ rất sớm để đi bộ đến trường. Dân bản mong muốn sớm có lớp học kiên cố để việc dạy và học của thầy trò nơi đây bớt vất vả.

Cách Trung Thắng vài km là bản Sài Khao. Ở đây có ba lớp học do thầy Cút Văn Sao và Lương Văn Tặng phụ trách, các thầy chia sẻ: “Cả khu trường Sài Khao có 78 học sinh chia thành 3 lớp, trong đó có 2 lớp ghép. Đời sống đồng bào nơi này còn khó khăn lắm nên cũng ảnh hưởng đến việc học của các em”.

Hiệu trưởng Trường tiểu học Mường Lý, Lê Xuân Viên nói: “Hiện nay, toàn trường còn 2 khu có lớp học tạm, 7/8 khu chưa có nhà ở cho giáo viên. Chúng tôi mong muốn cơ quan chức năng sớm quan tâm để tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học ở những vùng này”.

Hoàng LamA

CHUYỆN KHÔNG LẠ: ĐỔ XÔ ĐI HỌC THẠC SĨ


Học sau ĐH, đặc biệt là thạc sĩ, đã trở thành trào lưu. Nhiều người đi học chủ yếu để “giữ ghế” chứ không hẳn là nghiên cứu khoa học

Hai nghiên cứu sinh (NCS) của Trường ĐH Bách khoa Hà Nội mới đây đã bị trường này cho dừng làm NCS vì không tham gia sinh hoạt học thuật ở bộ môn, không có báo cáo làm việc định kỳ, không viết báo cáo khoa học.

GS Nguyễn Trọng Giảng, Hiệu trưởng Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, cho hay quyết định này xuất phát từ đợt kiểm tra đối với các NCS và thạc sĩ khoa học trong 2 năm 2010 và 2011 của trường. Qua kiểm tra cho thấy có những trường hợp NCS không thực hiện đúng quy chế làm việc, không có báo cáo định kỳ và không tham gia sinh hoạt học thuật của bộ môn. Việc này gây khó khăn cho khâu quản lý NCS của trường cũng như chất lượng đào tạo.

“Tặc lưỡi” cho qua!

Quy mô đào tạo sau ĐH của các trường ĐH trong những năm gần đây tăng lên nhanh chóng. Năm 2011, chỉ tiêu đào tạo của ĐH Quốc gia Hà Nội lên đến 4.000 thạc sĩ (3.355 chỉ tiêu tại đơn vị, 645 chỉ tiêu liên kết), 376 chỉ tiêu đào tạo tiến sĩ, trong khi chỉ tiêu đào tạo ĐH chính quy của trường cũng chỉ dừng lại ở mức khoảng 5.500.

Chỉ riêng đợt 1 tuyển sinh đào tạo thạc sĩ năm 2012, chỉ tiêu đào đạo của Trường ĐH Giao thông Vận tải Hà Nội là 1.000 cho cả 2 cơ sở tại Hà Nội và TPHCM.

Chất lượng đào tạo thạc sĩ cần được nâng cao để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế phát triển.(Ảnh chỉ có tính minh họa). Ảnh: TRƯƠNG THÚY
PGS-TS Ngô Kim Thanh, Khoa Quản trị kinh doanh Trường ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội, cho rằng tình trạng đổ xô đi học thạc sĩ đang trở thành trào lưu của nhiều người. Tuy nhiên, trái với sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng, chất lượng đào tạo bậc học này có chiều hướng đi xuống. PGS-TS Thanh dẫn chứng một giảng viên có học vị tiến sĩ, chỉ trong vòng vài năm có thể hướng dẫn hàng chục thạc sĩ thì không thể có chất lượng cao được.

Cũng theo PGS-TS Thanh, quy trình đào tạo thạc sĩ của nhiều trường hiện vẫn theo kiểu hàm thụ vì phần lớn học viên cao học là người vừa đi học vừa đi làm. Nhiều luận văn có được nhờ công nghệ “cắt dán”, có luận văn được sao chép gần như hoàn toàn mà không hề bị phát hiện.

Nhận xét về thực trạng các luận án tiến sĩ kinh tế ở các trường ĐH khối kinh tế, PGS-TS Nguyễn Ngọc Quang, Viện Kế toán – Kiểm toán, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, cho rằng nhiều NCS chưa thực sự dành tâm huyết cho quá trình học tập, nghiên cứu viết luận án. Có người đang trong thời gian viết luận án tiến sĩ nhưng một năm vẫn giảng 1.000 tiết ở một trường ĐH hoặc tham gia kinh doanh ở một công ty nào đó với doanh thu và số ngày công cao nhất. Tuy nhiên, rất ít trường hợp NCS “đứt gánh giữa đường”, phần đông các trường vẫn “tặc lưỡi” cho qua chứ ít khi mạnh tay dừng việc làm luận án của họ.

Phó mặc cho nghiên cứu sinh

Cũng theo PGS-TS Nguyễn Ngọc Quang, trong thực tế còn nhiều bất cập đối với cán bộ hướng dẫn NCS. Có những cán bộ không am hiểu lĩnh vực nghiên cứu mà NCS đề xuất nhưng vẫn chấp nhận hướng dẫn, thậm chí có cán bộ hướng dẫn trong thời gian được hướng dẫn hoặc 5 năm gần đây chưa bao giờ công bố một công trình khoa học có liên quan đến hướng nghiên cứu của NCS, không bao giờ tham gia các đề tài khoa học các cấp, do vậy hoàn toàn phó mặc cho NCS hoặc lợi dụng sự góp ý của tập thể.

Trong khi sinh hoạt khoa học bộ môn đối với NCS ở các trường ĐH nước ngoài rất được coi trọng thì ở nhiều trường ĐH ở Việt Nam, sinh hoạt khoa học chỉ là hình thức. PGS-TS Quang cho hay quy định của Bộ GD-ĐT là NCS phải sinh hoạt khoa học ít nhất 4 lần/năm nhưng thường một NCS trong quá trình đào tạo tiến sĩ chỉ sinh hoạt khoa học bộ môn 1 hoặc 2 lần.

Với 3 vòng chấm đối với luận án tiến sĩ, 2 vòng chấm đối với luận văn thạc sĩ, nhìn bề mặt thì quy trình đánh giá chất lượng luận văn, luận án ở Việt Nam có vẻ chặt chẽ, tuy nhiên, chất lượng lại rất thấp. PGS-TS Ngô Kim Thanh cho hay sự thấp kém này một phần xuất phát từ trình độ và ý thức trách nhiệm của nhiều cán bộ hướng dẫn và sự dễ dãi đối với NCS, phần khác là do người học không nghiêm túc học tập và nghiên cứu, học không gắn với hành trong tương lai mà chỉ cần lấy bằng để củng cố vị trí hiện tại của họ.
Tưởng trượt nhưng vẫn nhận điểm cao

Trong hội đồng chấm, nhiều giám khảo nhận xét rất nghiêm khắc, rất chí lý. Người nghe có cảm tưởng luận văn, luận án đang được đánh giá có thể bị trượt nhưng cuối cùng nó lại nhận được những điểm rất cao. Tư tưởng “giám khảo nhận xét thế nào cũng được, miễn là cho điểm cao” đã giải thích cho lý do tại sao luận văn, luận án điểm rất cao, thậm chí là 10 nhưng chất lượng vẫn thấp.
YẾN ANH

LƯƠNG GIÁO VIÊN THẤP – "CÁI KHÓ BÓ CÁI KHÔN"

(Petrotimes) – Người xưa có câu: “Nhà văn, nhà giáo, nhà báo… nhà nghèo”. Cho đến tận bây giờ, khi kinh tế xã hội phát triển, trí thức được đề cao, trọng vọng nhưng câu nói ấy vẫn… không sai, đặc biệt là đối với nhà giáo, cụ thể là những người dạy học khối phổ thông.

Ở đây, tôi không muốn định nghĩa thế nào là “nghèo” nhưng rõ ràng trong giới tri thức thì nhà giáo vẫn chưa bao giờ giàu. Và khi không giàu, tiền lương lại không đủ để bảo đảm cuộc sống không những của cá nhân mà còn của con cái, gia đình thì người ta phải làm thêm. Làm thêm bằng cách dạy thêm, nghĩa là bằng chính mồ hôi nước mắt, kiến thức có được sau bao nhiêu năm “dùi mài kinh sử”, đúc kết kinh nghiệm thì có gì sai? Chúng ta sẽ dừng lại ở chừng mực nào, khi quy kết cho những giáo viên dạy thêm là không đúng, là “hạ thấp” một nghề vẫn được coi là cao quý?

Trước khi bàn sâu về vấn đề này, phải nói rằng hành động rình rập để bắt quả tang việc dạy thêm của giáo viên như bắt… tội phạm trong thời gian qua có thể nói là hành động tàn nhẫn, xúc phạm uy tín và danh dự của nhà giáo. Lạ một điều là trong đoàn thanh tra liên ngành ấy, có cả những người cũng từng đứng trên bục giảng. Phải chăng họ không thấm thía nỗi cực nhọc, ý nghĩa cao cả của nghề “tải chữ”, nên mới nhẫn tâm ứng xử như vậy với đồng nghiệp trước mắt học trò, biến giáo viên thành… kẻ phạm pháp, biến một việc làm chính đáng thành không chính đáng?

Tất nhiên ở đây, chỉ bàn đến những nhà giáo dạy thêm với một cái tâm sáng. Còn nhà giáo mà lấy số lượng học sinh học thêm làm chính, “ém” kiến thức của giờ chính khóa để làm “bí quyết” cho buổi học thêm thì những giáo viên đó đáng bị lên án và họ không đáng được bàn trong bài viết này.


Nhiều người cho rằng, khi thực hiện một biện pháp quản lý hành chính nào đó có ảnh hưởng không chỉ tới cá nhân mà tới cả một ngành nghề thì cần phải cân nhắc kỹ lưỡng, thận trọng. Phải làm sao vẫn giữ được mức rà soát nghiêm khắc nhưng vẫn nhân văn, thay vì hành động vội vã, bộc phát như đi kiểm tra, ập vào bắt quả tang việc dạy thêm của giáo viên.

Theo nghiên cứu của đề tài khoa học cấp Nhà nước: “Các giải pháp cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên phổ thông” do nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm đã cho thấy: Qua khảo sát thực tế bảng lương của những giáo viên phổ thông, thu nhập bình quân từ lương và các phụ cấp theo lương là khoảng 3-3,5 triệu đồng/tháng/người. Trong đó, nếu tính theo năm công tác thì lương giáo viên sau 13 năm sẽ từ 3-3,5 triệu đồng/tháng; sau 25 năm từ 4,1-4,7 triệu đồng/tháng.

Giáo viên mới ra trường ở cả ba cấp học nhận mức lương trên dưới 2 triệu đồng/tháng. Với số lượng giáo viên như hiện nay, chỉ có khoảng 50% số giáo viên các cấp có thâm niên dạy học từ 13 năm trở lên và được hưởng mức lương bình quân. 50% còn lại được hưởng dưới mức lương bình quân. Với mức lương như vậy theo một khảo sát của ngành giáo dục cho thấy: Lương của giáo viên còn thấp hơn cả những người không lao động trí óc như: lái xe ở cơ quan, nhân viên đánh máy tính. Vì so sánh hệ số lương của một giáo viên mầm non thì bậc 1 là 1,86; bậc 10 là 3,66 trong khi nghề lái xe tại cơ quan hoặc đánh máy hệ số lương bậc 1 là 1,87; bậc 10 là 3,67.

Nếu so sánh với những ngành nghề khác thì lương giáo viên còn thấp nữa, mặc dù cùng bậc nhưng điện tử viễn thông 5,5 triệu đồng/tháng, y dược 6 triệu/tháng… Chưa nói đến thời gian làm việc và lao động của giáo viên rất đặc thù, về nhà vẫn chưa dứt việc, phải soạn giáo án, chấm bài, quan tâm chú ý từng động thái nhỏ của giáo viên… Vậy với mức lương như vậy thì giáo viên sống làm sao nổi, nhất là trong thời kỳ lạm phát, suy thoái kinh tế như hiện nay, giá cả lúc nào cũng leo thang vùn vụt.

Bên cạnh đó, giáo viên cũng phải nuôi con, cũng phải chăm sóc cha mẹ già, lo hiếu, hỷ như bao nhiêu người khác. Cho nên phải tìm cách làm thêm là việc làm tất yếu của giáo viên cũng như tất thảy ai ở trong hoàn cảnh ấy để không những duy trì cuộc sống mà duy trì ngay nghề nghiệp họ đã lựa chọn là làm con người, xã hội tốt hơn. Nhưng điều cần nói hơn là việc làm thêm đó không phạm pháp, không làm tổn thương đến ai, lại chính bằng sức lao động, kiến thức của mình đã được trau dồi trong bao nhiêu năm kinh nghiệm ấy chính là dạy chữ thì tại sao lại lên án nó.

Và cũng cần lưu ý trong vấn đề này: không phải giáo viên nào cũng có thể đi dạy thêm, mà chỉ những giáo viên của những môn tự nhiên, một số môn khoa học xã hội và cũng chỉ ở thành phố mới dạy thêm được. Còn những môn khác và những nơi khác chỉ cần như ở ngoại thành thủ đô Hà Nội chẳng hạn, giáo viên không dạy thêm được. Ông Nguyễn Hiệp Thống, Phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, chuyên phụ trách về công tác học sinh, sinh viên đã chia sẻ: “Xã hội chỉ chú ý đến những giáo viên dạy thêm và lên án họ. Tôi chưa bàn đến chuyện dạy thêm này đúng hay sai, nhưng đó chỉ là số ít gương mặt trong toàn thể giáo viên. Còn những giáo viên không dạy thêm được, đã bao giờ các bạn nhìn thấy họ với cuộc sống thật ngoài đời chưa?

Chỉ cần cách trung tâm Hà Nội chưa đến 20 cây số, có lẽ sẽ chưa bao giờ các bạn biết, giáo viên ngoài giờ đứng trên lớp còn phải chăn nuôi gia súc, bán từng mớ rau, quả trứng để mưu sinh. Họ phải cày cuốc, ruộng vườn, phải lao động lam lũ để cuộc sống bớt cực nhọc hơn, đỡ thiếu thốn hơn và dựa chính vào nguồn thu nhập ít ỏi đó để đủ dũng khí nuôi dưỡng chính sự nghiệp trồng người mà họ theo đuổi. Là những người làm công tác quản lý giáo dục, thấy cảnh ấy mà chúng tôi vô cùng xót xa”.

Còn chị Nguyễn Kim Anh, giáo viên dạy văn Trường THPT Phan Huy Chú, Hà Nội cũng đã tâm sự một cách “ruột gan” với báo chí về việc dạy thêm học thêm. Cần phải nói thêm, chị Kim Anh cũng là tác giả quen thuộc trên các trang báo chuyên về văn hóa – giáo dục… Chị viết: “Tôi là một giáo viên cũng dạy thêm ngoài giờ. Học phí thu từ dạy thêm giúp tôi trang trải cho cuộc sống ngoài đồng lương ít ỏi. Tôi biết, để không nản lòng, để giữ được tâm huyết, để không phải một lần nghĩ tới việc ra đi, chúng tôi cũng cần chung sức để đấu tranh với những vấn đề tiêu cực nói chung và tiêu cực trong dạy thêm, học thêm nói riêng, đấu tranh với những cách nhìn phiến diện, ác ý để bảo vệ quyền được dạy học chính đáng của mình…”, “… Xã hội muốn các nhà giáo phải là tấm gương, phải mô phạm, đúng mực nên bất cứ lỗi to nhỏ nào của nhà giáo cũng bị mang ra soi xét.

Không phải ai cũng hiểu nhà giáo có thể phải từ chối một bộ cánh đẹp chỉ vì nó không đứng đắn trước mặt học trò. Nhà giáo không được tức giận khi bị oan ức, chà đạp. Nhà giáo luôn phải tươi cười, hòa nhã với học sinh và cha mẹ học sinh dù bản thân đang mệt mỏi, đau khổ. Nhà giáo ra khỏi lớp không phải hết nhiệm vụ, trách nhiệm còn theo họ về nhà khi chấm bài, khi soạn giáo án, khi giải quyết những vướng mắc của học sinh. Có rất nhiều điều nhà giáo phải làm nhưng xã hội không phải lúc nào cũng biết và chia sẻ…” Chị nhấn mạnh: “Trong khi đó, lương trung bình tính cả phụ cấp của giáo viên chỉ trên 3 triệu đồng/tháng – mức lương không đủ nuôi sống bản thân họ, chưa kể phải đảm đương công việc nuôi dạy con cái.

Họ không thể sống đàng hoàng nếu như chỉ dành trọn vẹn thời gian và tâm sức ở trường. Nhà giáo phải có nghề phụ. Có những nhà giáo phải làm thêm các công việc tầm thường khiến họ trở nên hèn đi, luộm thuộm đi, khiến họ cũng thấy khó có thể đủ tư cách và niềm tin để dạy học sinh những điều tốt đẹp ở đời. Trong bối cảnh ấy, nhà giáo dạy thêm và có khả năng để dạy thêm, xem ra đó là việc đàng hoàng nhất…”.

Sẽ không phải bàn thêm điều gì nữa, bởi những gì trên đây đã cho thấy một phần nguyên nhân hình thành việc dạy thêm và học thêm. Nếu như có những điều không hay xảy ra trong vấn đề này thì đó chỉ là sự biến tướng mà thôi. Cho nên để giải quyết “nạn” học thêm dưới góc độ tiêu cực cũng như để quản lý tốt vấn đề này, ngành giáo dục phải thực hiện những biện pháp ưu tiên như: Giảm tải nội dung chương trình giáo dục, cải thiện thu nhập của giáo viên, phân chia những người có và không có khả năng dạy thêm, học thêm để từ đó cấp phép, đồng thời quản lý hoạt động dạy thêm của họ. Tuyệt đối tránh sử dụng những biện pháp làm tổn thương hình ảnh và uy tín của nhà giáo trong công tác quản lý dạy thêm học thêm v.v…
Giáo viên Nguyễn Kim Anh, Trường THPT Phan Huy Chú, Hà Nội:
“Để chống tiêu cực nói chung, giải quyết việc dạy thêm học thêm nói riêng, hãy có những giải pháp để nhà giáo đủ sống, hãy tạo cơ chế để nhà giáo có đủ niềm tin và dũng khí đi giữa lằn ranh sáng – tối mà không phạm sai lầm. Giải pháp để kéo những nhà giáo từng đã và đang làm điều khuất tất, tiêu cực trở lại đúng chức trách nhiệm vụ và đạo đức của mình hay hơn nhiều giải pháp cấm đoán, lên án, phủ nhận những nhà giáo lỡ vì miếng cơm manh áo mà sai phạm. Chúng ta vẫn mong có một nền giáo dục nhân văn, muốn giới trẻ nhìn nhận cuộc sống bằng sự nhân văn, độ lượng và sẻ chia. Xin hãy nhìn nhận và giúp đỡ nhà giáo bằng sự nhân văn, độ lượng và sẻ chia đó”.


Tú Anh

TỪ LỄ ƠN THẦY NGẪM VỀ GIÁO DỤC

LâmTrực@

Sau ngày Tết thầy cô, cảm giác vẫn lâng lâng, khó tả. Mỗi năm  một lần, cứ đến ngày 20/11, dù là ai, làm gì và ở đâu, người ta cũng không thể không nghĩ về các thầy, các cô và những ngôi trường mình đã đi qua một thời.

Trong phút chốc, người ta mau chóng quên đi những lo toan thường nhật, thay vào đó là tấm lòng hướng về thầy cô, trước là để tri ân cuộc đời, sau là cùng lo lắng cho tương lai của nền giáo dục nước nhà.

Ai cũng nhớ lại cái ngày xưa của mình, ai cũng đầy ăm ắp những kỉ niệm vui buồn thời đi học. Nhưng hết thảy, dù vui hay buồn, dù ngoan hiền tử tế hay ngỗ nghịch… tất cả đều biến thành những ký ức đẹp đẽ, ngọt ngào. Đằng sau những hoài niệm ấy là những nụ cười sảng khoái và tất nhiên ai ai cũng xốn xang.

Ngày trước, không lâu lắm, đi học mới đầu là để học kiến thức, học làm người, sau dần xa hơn thế là học cách học và học cách tự học và rồi sau khi ra trường chúng ta đều phải tự học cả đời. Bởi chính cuộc đời mới là ngôi trường lớn nhất. 

Vì thế, ta không chỉ nên tri ân với các thầy cố chính danh mà cần thiết phải tỏ lòng biết ơn với những thầy cô chưa hoặc không chính danh. Nếu như nhà trường với ý nghĩa đầy đủ nhất của nó trang bị cho chúng ta những kiến thức  cơ bản, căn cốt nhất để làm người như một bản mẫu, thì chính cuộc đời, góp phần hoàn thiện ta, gọt giũa chúng ta, làm chúng ta bóng bẩy và có màu sắc với đời.

Tất nhiên, không có khuôn vàng thước ngọc cho việc tri ân với thầy cô. Mỗi người, tùy thuộc vào bản tính, điều kiện để gửi tới các thầy các cô những món quà cả vật chất và tinh thần thể hiện lòng biết ơn của mình mà không kể thân phận sang hèn giàu nghèo. Và các thầy, các cô không lấy kích cỡ của món quà hay những biểu hiện vật chất của nó để đánh giá tấm lòng của các trò, với họ, tất thảy đều thiêng liêng, cao quý.

Đối với các thầy các cô, chỉ một bông hoa, một thiệp chúc mừng, một chiếc áo hiệu Việt Tiến, một cây bút Thiên Long  hay một cuốn sổ tay Hồng Hà… mà các trò đem tặng cũng đã tạo nên một dấu ấn khó phai mờ. Thậm chí, đối với các thầy, chỉ một tin nhắn qua điện thoại, hay một nỗi nhớ man mác của trò về thầy, về cô thôi đã đủ làm họ ngất ngây rồi.
Trở lại với thực tại, ngày lễ ơn thầy năm nay có chuyện lắm người sẵn sàng chi cả nghìn đô mua siêu quà để cám ơn mà gây “ấn tượng”. Đua nhau thể hiện lòng thành sang hơn người. Chả biết thầy có nhận quà này không, nhưng nhiều thầy cô đến hoa cũng không muốn nhận vì sợ làm phiền trò. Lại có thầy buồn một phút vì tận tâm giúp trò, chỉ mong một tin nhắn cũng không có…

Hàng ngày, qua các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là Internet, chúng ta được biết “một bộ phận không nhỏ” thầy cô khó khăn phải dạy thêm, vẽ trò múc cháo để mong tiền trao. Nhưng vẫn có cô 12 năm đi 55km tới trường, tiếp sức cho hơn nghìn trò nghèo chỉ mong được món quà quý giá nhất là trò vươn lên, thành đạt.

Mới hôm qua thôi, Lâm Trực đã đọc và đăng lại một bài viết có tên: BÀI CA ẤY, LOÀI HOA ẤY, ĐẸP NHƯ EM… của tác giả Mai Thanh Hải mà thấy xót xa cho các thầy, các cô vùng cao. Xa hơn nữa là xót cho nền giáo dục của nước nhà. Giá như chúng ta có trách nhiệm hơn với Vinalines, Vinashin… thì số tiền đó có thể xây dựng cơ man nào là trường, là lớp cho các em học sinh vùng cao, và nếu có thể, mua cho các thầy các cô cái cặp sách tử tế thay vì phải bọc túi nilong. Hoặc có thể mua cho lớp của các em một cái bảng đàng hoàng thay vig ghép ván thô như hiện nay.
CÓ THỂ MUA CHO CÁC EM CÁI BẢNG TỬ TẾ KHÔNG?

Nền giáo dục của ta đã vài năm rồi, nghe vẫn thấy “lục bục”, xoay vần cải tiến mà vẫn chưa đâu với đâu. Hai tốt, học giỏi, dạy giỏi, được thể hiện rộng rãi bằng dạy thêm, học thêm. Học ngày không đủ, tranh thủ học đêm nay thành học trường không đủ, tranh thủ học thêm vì học thêm mới đủ cái cần, lẽ ra được học…

Không chỉ là con các quan chức, mà ngay cả những gia đình có điều kiện, đều cho con du học hết, mỗi năm cả nước chi hàng tỷ USD cho lũ trẻ du học. Đơn giản nghĩ: Kiến thức là một chuyện, chúng được học ra học, chơi ra chơi, tuổi thơ không bị đánh cắp, nhồi nhét, học từ lúc đài hô “vươn thở” đến tận “tiếng thơ”.

Tết thầy, nghĩ thầy cô vất vả quá cũng chỉ để mà dạy mà bươn chải mưu sinh , lại nghĩ học sinh khổ. Bọn nhỏ đi học cứ như cực hình, lo đuổi hình bắt bóng bài vở, ăn tranh thủ, ngủ khẩn trương để học nữa, cha mẹ như xe ôm rình rập chuyển ca từ lớp nọ sang trường kia.

Không bình cũng thấy, cả ngành giáo dục phải tự bươn chải, không phải làm kinh tế gì ghê gớm, chỉ là tạm sống. Tất cả vì học sinh thân yêu, đưa đò thêm để kiếm thêm từ học sinh thân yêu, những trò muốn vươn lên hơn, có nhu cầu, có đơn xin rõ ràng…

Một bộ phận không nhỏ thày cô vừa được tôn vinh hơn: được bầu lao động tiên tiến, xuất sắc, chiến sĩ thi đua toàn quốc, được phong danh hiệu cao quý NGND, NGƯT…Trong số đó, có nhiều con chim đầu đàn, lãnh đạo…610 thầy cô được phong tặng các danh hiệu cao quý, có 77 giáo viên THPT, THCS, tiểu học và mầm non. Còn lại là lãnh đạo các cấp, có tâm có tầm.

Thực tế có cả vạn thầy cô khác hàng chục năm tận tụy, vẫn thầm lặng xông pha nơi núi cao đảo xa, vừa dạy chữ, vừa là cột mốc sống giữ gìn lãnh thổ, lãnh hải… chưa có điều kiện toả sáng và với họ, hoa là một khái niệm xa xỉ.

ĐÂY LÀ NƠI Ở CỦA CÁC THẦY CÔ VÙNG CAO – ẢNH TỪ BLOG MAI THANH HẢI 

Xin được dẫn lời nhà báo Trần Giang Phương khi viết về ngày Tết thầy: “Lại nhớ, suy lời thầy xưa, đi dạy, không chỉ là dạy, mà là phương pháp dạy nên người. Đời thầy, tận tâm giúp trò. Không danh hiệu, không bon chen, nghèo nhưng không hèn, cứ lừng lững thanh cao… là gương sáng cho trò học mãi“.

Giáo dục trên thực tế vẫn còn có chuyện này chuyện khác, có niềm vui và cả nỗi buồn, nhưng cho dù thế nào đi chăng nữa, ngày 20/11 sẽ vẫn mãi là ngày Lễ Tạ Ơn các Thầy các Cô. Đó cũng là nét đẹp trong văn hóa của dân tộc Việt Nam.