NHỮNG ĐÒN NGHI BINH LỚN CỦA TRUNG QUỐC

Lê Mai
Với cái nhìn từ lịch sử, cộng với sự quan sát những nước cờ liên tục của TQ trong thời gian gần đây, nổi lên một vấn đề mà VN không thể không dè chừng, đó là TQ đang chơi những đòn nghi binh lớn.

Có nhà nghiên cứu cho rằng, lịch sử tư tưởng mấy ngàn năm của TQ nằm ở hai chữ “che dấu”. Khác với sự cởi mở của người phương Tây, người TQ luôn tìm cách che dấu suy nghĩ của mình, che dấu việc làm của mình, che dấu ý đồ của mình, tức là nói một đằng, làm một nẻo.

Nghi binh là gì? Nghi binh là “giương Đông, kích Tây”, đánh lạc hướng đối phương, đánh lừa đối phương. Nghi binh là che dấu ý đồ thực sự của mình, ru ngủ đối phương bằng những động tác giả, để rồi sau đó tung ra một cú đánh quyết định hòng giành thắng lợi. Thông thường, hoạt động nghi binh diễn ra thường xuyên trong lĩnh vực quân sự nhưng đối với TQ, có lẽ không một lĩnh vực nào mà họ không thực hiện chiến thuật ấy – thậm chí, kể cả lĩnh vực hình thái ý thức.

Quả có vậy! TQ nói TQ và VN kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng chẳng phải TQ sử dụng công thức “một nước – hai chế độ” để thu hồi Hồng Kông đó sao? Như thế, “chế độ” đâu phải là cái họ đặt lên hàng đầu? Nếu thiếu sự sáng suốt, rất dễ mắc mưu họ. Cho nên, xét cho cùng, “một nước – hai chế độ” là một đòn nghi binh lớn. TQ cho rằng, TQ có thể chung sống với mọi nước trên thế giới có chế độ chính trị – xã hội khác nhau, thế thì tại sao không thể sống chung với Hồng Kông – dù chế độ xã hội khác nhau? Sáng tạo “thiên tài” đó của Đặng đã đưa Hồng Kông trở về TQ. Ở đây, điều quan trọng nhất là chừng nào Hồng Kông trở về TQ, chừng đó TQ có quyền đóng quân đội tại đó. Đây là điều mà Đặng kiên quyết đòi bằng được khi đàm phán với “Bà đầm thép” Thatcher. Đặng lập luận, không có quyền đóng quân tại đó thì còn gì là chủ quyền của TQ? Nếu xẩy ra động loạn lớn thì làm thế nào? Như vậy, đòi quyền đóng quân (tại Hồng Kông) mới là thực, là cốt lõi của “một nước – hai chế độ”, cái khác chỉ là nghi binh. Một khi quân đội đã đóng tại Hồng Kông thì TQ hoàn toàn sẽ khống chế được cục diện. Cho nên, Đặng đã vô cùng tức giận và công khai bác bỏ phát biểu của Cảnh Tiêu khi ông này cho rằng trong tương lai TQ không đóng quân tại Hồng Kông. Tuy nhiên, rủi thay (cho TQ), công thức “một nước – hai chế độ” cho đến nay không sao áp dụng thành công đối với trường hợp Đài Loan.

Phải công nhận, TQ là bậc thầy trong những đòn nghi binh lớn. Nhớ lại thập kỷ sáu mươi, bảy mươi thế kỷ trước, mâu thuẫn Trung – Xô ngày càng tăng cao và có thể nổ ra chiến tranh lớn bất cứ lúc nào. Nhận được tin mật LX đang chuẩn bị đánh đòn hạt nhân hạn chế nhằm loại bỏ vũ khí hạt nhân của TQ đúng ngày Quốc khánh, Chu Ân Lai rất lo lắng, lập tức đến Trung Nam Hải gặp Mao Trạch Đông.

– Thưa Chủ tịch, có Thủ tướng đến, đang chờ Chủ tịch ở phòng khách. Giọng nói của một nhân viên công tác cắt ngang dòng suy tư của Mao.

– Ân Lai, ngồi xuống ta nói chuyện. Giọng Mao hồ hởi.

– Thưa Chủ tịch, báo cáo khẩn cấp Chủ tịch đã xem chưa?

– Ờ, xem rồi, cũng vẫn chuyện có thể có chiến tranh hạt nhân thôi mà. Bom nguyên tử lợi hại thật, nhưng kẻ hèn này không sợ. Mao nở nụ cười dửng dưng.

– Thưa Chủ tịch, khả năng LX đánh lén nhân ngày Quốc khánh của ta rất lớn. Ý của tôi, ta có nên nghiên cứu lại cách tổ chức mít tinh quần chúng năm nay?

– Ờ! Không tổ chức mít tinh, tôi thấy không hay lắm! Làm như vậy chẳng phải là bảo với người ta rằng, chúng tôi cũng “hốt”? Mít tinh vẫn phải làm, tôi vẫn phải có mặt ở Thiên An Môn. Với lại tôi cũng muốn mở to mắt, xem xem uy lực của bom nguyên tử rút cục lớn đến chừng nào?

Những câu hỏi dồn dập đến trong đầu Chu. Mấy chục vạn con người tập trung ở quảng trường, có chuyện gì xảy ra, sơ tán thế nào, ẩn nấp ra sao? Mao và các vị lãnh đạo khác trên lầu Thiên An Môn làm thế nào kịp an toàn rút xuống đường hầm? Năm phút, bốn phút hay ba phút sau khi có báo động? Kế sách nào vẹn toàn nhất đây?

Thế nhưng, Mao lại cười cười, bàn thêm:

– Nếu thực sự không yên tâm, xem xem có thể cho nổ thử hai quả bom nguyên tử để doạ họ? Để họ cũng rối rít lên vài ba ngày, chờ mọi việc sáng tỏ thì Quốc khánh của ta cũng xong rồi.

Cho nên, ra quân trước tiên đánh bằng mưu, sau đó đánh bằng ngoại giao, sau nữa đánh bằng quân đội, cuối cùng mới đánh thành. Mao kết luận.

Với đòn nghi binh quỷ quyệt đó, Mao và Chu đã làm phá sản kế hoạch tấn công của LX. Cho nên, chúng ta đừng quên những đòn nghi binh lớn của TQ. Trong cuộc chiến biên giới năm 1979, TQ đã thực hiện nghi binh chiến lược làm cho VN không tin là TQ sẽ đánh VN. Và thực tế là VN đã bị bất ngờ lớn vào thời điểm bị TQ tấn công – ngày 17.2.1979.

Chiến lược “thu mình dấu tài” của Đặng cũng là một đòn nghi binh lớn vậy. Đặng nói rõ, “che dấu thành tích, giữ vững trận địa, thu mình dấu tài, làm nên công tích”. Thậm chí, bấy giờ TQ không cần phải giữ thể diện, cốt để được việc mình đã. Che dấu tài năng của mình, đợi đến thời điểm thích hợp, đột ngột bung ra, chiến lược “thu mình dấu tài” đã tỏ ra thành công, làm thế giới sửng sốt và bắt đầu lo ngại.

Cái gọi là xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc TQ lại là một đòn nghi binh lớn khác. Có người hỏi, TQ xây dựng chủ nghĩa xã hội kiểu gì mà vừa bắt chước y như tư bản, lại vừa khác rất xa? Trả lời, đó thứ chủ nghĩa xã hội “đặc sắc” TQ. Như vậy, mọi thứ TQ đều có thể giải thích, chỉ cần gán cho hai chữ “đặc sắc” là xong. Quả là họ rất khôn ngoan, nói như vậy là không bị ràng buộc gì. Một sự “nghi binh lớn” – nói vậy mà không phải vậy. Nó khác với VN, xây dựng “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là một cách nói cách cứng nhắc, tự mình ràng buộc mình, không còn chỗ để xoay trở, vì cái “định hướng” ấy.

Đến đây chúng ta tự hỏi, vậy TQ nói TQ và VN cùng kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội, rằng VN và TQ “văn hóa tương thông, lý tưởng tương đồng, vận mệnh tương quan” liệu có còn đáng tin? Hay chỉ là một đòn nghi binh lớn?

Và “16 chữ vàng”, tinh thần “bốn tốt” là nghi binh, còn ru ngủ, dẫn đắt VN vào mê cung của mình mới là thực? Làm VN suy yếu toàn diện, phụ thuộc hoàn toàn vào TQ, tiến đến thôn tính VN mới là thực, còn hợp tác, giúp đỡ VN chỉ là nghi binh?

Hộ chiếu “lưỡi bò” là một bước đi có thực, còn làm ra vẻ đàm phán về COC (Quy tắc ứng xử trên biển Đông) là nghi binh; kỷ niệm Quốc khánh TQ ngày 1.10 là thực, còn tổ chức kỷ niệm tại Hoàng Sa của VN là nghi binh – đặt VN vào tình huống khó xử vì đã gửi điện chúc mừng; chiếm trọn Hoàng Sa của VN là thực, còn đang giữ nguyên trạng Trường Sa là nghi binh – TQ có thể chiếm Trường Sa bất cứ lúc nào; “gác tranh chấp” là nghi binh, còn cấp tốc khai thác biển Đông mới là thực; khuyên VN coi trọng đại cục là nghi binh, còn dập tắt mọi tiếng nói yêu nước của người VN phản đối hành động ngang ngược của TQ mới là thực.

Những đòn nghi binh lớn hiện này của TQ kết hợp một cách chặt chẽ giữa chính trị và kinh tế, giữa lịch sử và hiện thực, giữa trên biển và đất liền, giữa quân sự và dân sự, giữa trên và dưới. Đặc điểm nổi bật của nó là “hư hư thực thực” hòng đánh lừa VN và thế giới.

Song, một khi lẽ phải không thuộc về TQ thì sự thất bại của những đòn nghi binh lớn ấy là tất yếu. Tuy nhiên, trong một tương lai có thể thấy trước, còn rất nhiều những đòn nghi binh lớn của TQ đang chờ VN. Vấn đề là phải nhận ra nó và sự sáng suốt là điều kiện tiên quyết để giành chiến thắng.
Advertisements

NHỮNG ĐÒN NGHI BINH LỚN CỦA TRUNG QUỐC

Lê Mai
Với cái nhìn từ lịch sử, cộng với sự quan sát những nước cờ liên tục của TQ trong thời gian gần đây, nổi lên một vấn đề mà VN không thể không dè chừng, đó là TQ đang chơi những đòn nghi binh lớn.

Có nhà nghiên cứu cho rằng, lịch sử tư tưởng mấy ngàn năm của TQ nằm ở hai chữ “che dấu”. Khác với sự cởi mở của người phương Tây, người TQ luôn tìm cách che dấu suy nghĩ của mình, che dấu việc làm của mình, che dấu ý đồ của mình, tức là nói một đằng, làm một nẻo.

Nghi binh là gì? Nghi binh là “giương Đông, kích Tây”, đánh lạc hướng đối phương, đánh lừa đối phương. Nghi binh là che dấu ý đồ thực sự của mình, ru ngủ đối phương bằng những động tác giả, để rồi sau đó tung ra một cú đánh quyết định hòng giành thắng lợi. Thông thường, hoạt động nghi binh diễn ra thường xuyên trong lĩnh vực quân sự nhưng đối với TQ, có lẽ không một lĩnh vực nào mà họ không thực hiện chiến thuật ấy – thậm chí, kể cả lĩnh vực hình thái ý thức.

Quả có vậy! TQ nói TQ và VN kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng chẳng phải TQ sử dụng công thức “một nước – hai chế độ” để thu hồi Hồng Kông đó sao? Như thế, “chế độ” đâu phải là cái họ đặt lên hàng đầu? Nếu thiếu sự sáng suốt, rất dễ mắc mưu họ. Cho nên, xét cho cùng, “một nước – hai chế độ” là một đòn nghi binh lớn. TQ cho rằng, TQ có thể chung sống với mọi nước trên thế giới có chế độ chính trị – xã hội khác nhau, thế thì tại sao không thể sống chung với Hồng Kông – dù chế độ xã hội khác nhau? Sáng tạo “thiên tài” đó của Đặng đã đưa Hồng Kông trở về TQ. Ở đây, điều quan trọng nhất là chừng nào Hồng Kông trở về TQ, chừng đó TQ có quyền đóng quân đội tại đó. Đây là điều mà Đặng kiên quyết đòi bằng được khi đàm phán với “Bà đầm thép” Thatcher. Đặng lập luận, không có quyền đóng quân tại đó thì còn gì là chủ quyền của TQ? Nếu xẩy ra động loạn lớn thì làm thế nào? Như vậy, đòi quyền đóng quân (tại Hồng Kông) mới là thực, là cốt lõi của “một nước – hai chế độ”, cái khác chỉ là nghi binh. Một khi quân đội đã đóng tại Hồng Kông thì TQ hoàn toàn sẽ khống chế được cục diện. Cho nên, Đặng đã vô cùng tức giận và công khai bác bỏ phát biểu của Cảnh Tiêu khi ông này cho rằng trong tương lai TQ không đóng quân tại Hồng Kông. Tuy nhiên, rủi thay (cho TQ), công thức “một nước – hai chế độ” cho đến nay không sao áp dụng thành công đối với trường hợp Đài Loan.

Phải công nhận, TQ là bậc thầy trong những đòn nghi binh lớn. Nhớ lại thập kỷ sáu mươi, bảy mươi thế kỷ trước, mâu thuẫn Trung – Xô ngày càng tăng cao và có thể nổ ra chiến tranh lớn bất cứ lúc nào. Nhận được tin mật LX đang chuẩn bị đánh đòn hạt nhân hạn chế nhằm loại bỏ vũ khí hạt nhân của TQ đúng ngày Quốc khánh, Chu Ân Lai rất lo lắng, lập tức đến Trung Nam Hải gặp Mao Trạch Đông.

– Thưa Chủ tịch, có Thủ tướng đến, đang chờ Chủ tịch ở phòng khách. Giọng nói của một nhân viên công tác cắt ngang dòng suy tư của Mao.

– Ân Lai, ngồi xuống ta nói chuyện. Giọng Mao hồ hởi.

– Thưa Chủ tịch, báo cáo khẩn cấp Chủ tịch đã xem chưa?

– Ờ, xem rồi, cũng vẫn chuyện có thể có chiến tranh hạt nhân thôi mà. Bom nguyên tử lợi hại thật, nhưng kẻ hèn này không sợ. Mao nở nụ cười dửng dưng.

– Thưa Chủ tịch, khả năng LX đánh lén nhân ngày Quốc khánh của ta rất lớn. Ý của tôi, ta có nên nghiên cứu lại cách tổ chức mít tinh quần chúng năm nay?

– Ờ! Không tổ chức mít tinh, tôi thấy không hay lắm! Làm như vậy chẳng phải là bảo với người ta rằng, chúng tôi cũng “hốt”? Mít tinh vẫn phải làm, tôi vẫn phải có mặt ở Thiên An Môn. Với lại tôi cũng muốn mở to mắt, xem xem uy lực của bom nguyên tử rút cục lớn đến chừng nào?

Những câu hỏi dồn dập đến trong đầu Chu. Mấy chục vạn con người tập trung ở quảng trường, có chuyện gì xảy ra, sơ tán thế nào, ẩn nấp ra sao? Mao và các vị lãnh đạo khác trên lầu Thiên An Môn làm thế nào kịp an toàn rút xuống đường hầm? Năm phút, bốn phút hay ba phút sau khi có báo động? Kế sách nào vẹn toàn nhất đây?

Thế nhưng, Mao lại cười cười, bàn thêm:

– Nếu thực sự không yên tâm, xem xem có thể cho nổ thử hai quả bom nguyên tử để doạ họ? Để họ cũng rối rít lên vài ba ngày, chờ mọi việc sáng tỏ thì Quốc khánh của ta cũng xong rồi.

Cho nên, ra quân trước tiên đánh bằng mưu, sau đó đánh bằng ngoại giao, sau nữa đánh bằng quân đội, cuối cùng mới đánh thành. Mao kết luận.

Với đòn nghi binh quỷ quyệt đó, Mao và Chu đã làm phá sản kế hoạch tấn công của LX. Cho nên, chúng ta đừng quên những đòn nghi binh lớn của TQ. Trong cuộc chiến biên giới năm 1979, TQ đã thực hiện nghi binh chiến lược làm cho VN không tin là TQ sẽ đánh VN. Và thực tế là VN đã bị bất ngờ lớn vào thời điểm bị TQ tấn công – ngày 17.2.1979.

Chiến lược “thu mình dấu tài” của Đặng cũng là một đòn nghi binh lớn vậy. Đặng nói rõ, “che dấu thành tích, giữ vững trận địa, thu mình dấu tài, làm nên công tích”. Thậm chí, bấy giờ TQ không cần phải giữ thể diện, cốt để được việc mình đã. Che dấu tài năng của mình, đợi đến thời điểm thích hợp, đột ngột bung ra, chiến lược “thu mình dấu tài” đã tỏ ra thành công, làm thế giới sửng sốt và bắt đầu lo ngại.

Cái gọi là xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc TQ lại là một đòn nghi binh lớn khác. Có người hỏi, TQ xây dựng chủ nghĩa xã hội kiểu gì mà vừa bắt chước y như tư bản, lại vừa khác rất xa? Trả lời, đó thứ chủ nghĩa xã hội “đặc sắc” TQ. Như vậy, mọi thứ TQ đều có thể giải thích, chỉ cần gán cho hai chữ “đặc sắc” là xong. Quả là họ rất khôn ngoan, nói như vậy là không bị ràng buộc gì. Một sự “nghi binh lớn” – nói vậy mà không phải vậy. Nó khác với VN, xây dựng “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là một cách nói cách cứng nhắc, tự mình ràng buộc mình, không còn chỗ để xoay trở, vì cái “định hướng” ấy.

Đến đây chúng ta tự hỏi, vậy TQ nói TQ và VN cùng kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội, rằng VN và TQ “văn hóa tương thông, lý tưởng tương đồng, vận mệnh tương quan” liệu có còn đáng tin? Hay chỉ là một đòn nghi binh lớn?

Và “16 chữ vàng”, tinh thần “bốn tốt” là nghi binh, còn ru ngủ, dẫn đắt VN vào mê cung của mình mới là thực? Làm VN suy yếu toàn diện, phụ thuộc hoàn toàn vào TQ, tiến đến thôn tính VN mới là thực, còn hợp tác, giúp đỡ VN chỉ là nghi binh?

Hộ chiếu “lưỡi bò” là một bước đi có thực, còn làm ra vẻ đàm phán về COC (Quy tắc ứng xử trên biển Đông) là nghi binh; kỷ niệm Quốc khánh TQ ngày 1.10 là thực, còn tổ chức kỷ niệm tại Hoàng Sa của VN là nghi binh – đặt VN vào tình huống khó xử vì đã gửi điện chúc mừng; chiếm trọn Hoàng Sa của VN là thực, còn đang giữ nguyên trạng Trường Sa là nghi binh – TQ có thể chiếm Trường Sa bất cứ lúc nào; “gác tranh chấp” là nghi binh, còn cấp tốc khai thác biển Đông mới là thực; khuyên VN coi trọng đại cục là nghi binh, còn dập tắt mọi tiếng nói yêu nước của người VN phản đối hành động ngang ngược của TQ mới là thực.

Những đòn nghi binh lớn hiện này của TQ kết hợp một cách chặt chẽ giữa chính trị và kinh tế, giữa lịch sử và hiện thực, giữa trên biển và đất liền, giữa quân sự và dân sự, giữa trên và dưới. Đặc điểm nổi bật của nó là “hư hư thực thực” hòng đánh lừa VN và thế giới.

Song, một khi lẽ phải không thuộc về TQ thì sự thất bại của những đòn nghi binh lớn ấy là tất yếu. Tuy nhiên, trong một tương lai có thể thấy trước, còn rất nhiều những đòn nghi binh lớn của TQ đang chờ VN. Vấn đề là phải nhận ra nó và sự sáng suốt là điều kiện tiên quyết để giành chiến thắng.

LÁ BÀI KHỔNG TỬ TRONG CHIẾN LƯỢC NGOẠI GIAO CỦA TRUNG QUỐC

Các Viện Khổng tử là một phần của những gì được cho là một sự hiện diện mới, cởi mở của Trung Quốc ở nước ngoài – được thiết kế một phần để chống lại những gì Bắc Kinh tuyên bố là sự phê phán bất công từ báo chí quốc tế.


Trong khi không có thăm dò thường xuyên về thiện cảm chung đối với Trung Quốc ở Đông Nam Á, nhiều người, bao gồm cả những người tham gia các chương trình văn hóa Trung Quốc, có cái nhìn tích cực. Nou Maneth Athan, một người dẫn bản tin thời sự buổi sáng của Đài Truyền hình Campuchia, đã tới Trung Quốc năm 2011 như một phần của chương trình đào tạo báo chí. Trước hành trình đó, Nou không hề nghĩ nhiều về Trung Quốc nhưng cô đã rất ấn tượng bởi các thành phố và sự giàu có của đất nước này. “Sẽ tốt cho Campuchia khi có một nước phát triển như Trung Quốc ở bên cạnh”, cô quả quyết.

Những không phải ai cũng có chung suy nghĩ như vậy. Hơn 400.000 người Campuchia đã phải rời khỏi mảnh đất của họ kể từ năm 2003, nhiều vụ có liên quan đến đầu tư của Trung Quốc. Trong một trong những trường hợp đình đám nhất, một công ty Trung Quốc đã hợp tác với một hãng của Campuchia tái phát triển Hồ Boeung Kak ở trung tâm Phnom Penh, di dời 4.000 dân nghèo thành thị. Hồi tháng 3, khi Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tới Campuchia, một số người mất đất định phát thư phản đối tại đại sứ quán Trung Quốc nhưng đã bị an ninh đuổi đi. Các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc tương tự cũng xảy ra ở các nước láng giềng như Myanmar.

Ou Virak, một nhà hoạt động nổi tiếng ở Campuchia, nói rằng những trường hợp đó đã dẫn tới nhận thức ngày càng tăng của người dân đối với vai trò của Trung Quốc về vấn đề nhân quyền. Tuy nhiên, chính phủ Campuchia và báo chí đã vẽ ra một hình ảnh tươi sáng về mối quan hệ giữa hai nước. Kết quả là “vẫn có rất nhiều thiện chí đối với Trung Quốc”, ông nói.

Nhưng chừng nào các vụ vi phạm còn xảy ra, thì sẽ còn có thêm nhiều người Campuchia bắt đầu đặt câu hỏi về mối quan hệ đó, một điều mà không một ý nghĩa ngoại giao văn hóa nào có thể chống lại được. “Khi nói về nhân quyền, những chương trình đó không hoạt động. Trung Quốc không có lời biện hộ nào. Nhân quyền không phải là một nguyên tắc mà họ bảo vệ ở đất nước của chính họ, vậy nên rất khó mà họ bảo vệ ở đây”, ông nhấn mạnh.

Một số sai lầm văn hóa mới đây cũng không giúp ích cho hình ảnh của Trung Quốc ở Campuchia. Tháng trước, khi cựu Quốc vương Sihanouk qua đời, một giám sát viên của một nhà máy giày dép ở Phnom Penh đã hủy bỏ hai tấm ảnh của cố Quốc vương khi cô ta phát hiện ra công nhân sùng kính chúng. Hành động này đã được loan tải rộng rãi và dẫn tới các cuộc biểu tình. Nữ giám sát viên đó buộc phải nhận lỗi trước một bức ảnh của vị vua đã khuất rồi bị phạt và bị trục xuất.

Những vụ việc như thế đang kéo căng mối quan hệ dài và phức tạp của nước này với văn hóa Trung Quốc. Cũng giống như hầu hết các nước Đông Nam Á khác, Campuchia tiếp nhận nhiều thế hệ người nhập cư Trung Quốc trong các thế kỷ, trong quá trình đồng hóa họ và hấp thu nền văn hóa của họ. Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng các định kiến về Hoa kiều vẫn tồn tại trong khu vực…

Thật khó để biết liệu Trung Quốc có vượt qua được những vấn đề về hình ảnh đó không. Một mặt, có một khát vọng rất rõ ràng trong người dân ở Đông Nam Á muốn nắm bắt sự phát triển của Trung Quốc và hưởng lợi, điều đòi hỏi họ phải hiểu biết về ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc. Nhưng sự cảnh giác trước các ý định của Trung Quốc dường như cũng đang tăng cao. Các Viện Khổng tử, tiên phong của chiến lược ngoại giao công chúng của Trung Quốc, đã được xây dựng để chống lại những nghi ngờ đó.

Tuy nhiên, ở một vài góc cạnh, các Viện Khổng tử lại càng làm dấy lên nghi ngờ. Michel Juneau-Katsuy, một quan chức tình báo Canada về hưu, cảnh báo rằng các viện như vậy có thể là mặt trận do thám, cả trong một cuốn sách có tựa đề Nest of Spies mà ông là đồng tác giả và trong một cuộc phỏng vấn trên báo National Post của Canada.

Các bức điện tín của Bộ Ngoại giao Mỹ mà WikiLeaks thu thập được và công bố không chia sẻ những quan ngại đó, mô tả các viện này đơn thuần chỉ là công cụ của quyền lực mềm. Bộ này đã hủy visa đối với 51 giáo viên Trung Quốc tại Viện Khổng tử Mỹ hồi đầu năm nay, viện dẫn các lý do kỹ thuật – một quyết định mà sau đó họ đã đảo ngược.

Và khi Ủy ban Các vấn đề đối ngoại của Hạ viện Mỹ tổ chức một phiên điều trần hồi tháng 3 về mối đe dọa của các viện này trên đất Mỹ, một số nhân chứng đã viện lý lẽ về do thám và tuyên truyền. Tuy nhiên, những cáo buộc đó vẫn chưa được chứng minh, và các bức điện tín, thay vào đó, tập trung vào thâm hụt ngân sách và tệ quan liêu, các vấn đề cản trở tính hiệu quả của các viện đó.

Chea Munyrith, Giám đốc Viện Khổng tử Campuchia, bác bỏ những lo ngại kể trên. “Chính phủ Campuchia ủng hộ chính sách một Trung Quốc”, ông nói. “Nhưng chúng tôi không quan tâm về ngoại giao hay chính trị. Chúng tôi ở đây để dạy ngôn ngữ và văn hóa”.

Các Viện Khổng tử là một phần của những gì được cho là một sự hiện diện mới, cởi mở của Trung Quốc ở nước ngoài – được thiết kế một phần để chống lại những gì Bắc Kinh tuyên bố là sự phê phán bất công từ báo chí quốc tế.

Trong khi Trung Quốc đạt được tiến bộ lớn trong nỗ lực tranh thủ tình cảm của Đông Nam Á, nước này rõ ràng còn rất nhiều việc cần phải làm.
SẦM HOA (TUẦN VIỆT NAM) / FP

LÁ BÀI KHỔNG TỬ TRONG CHIẾN LƯỢC NGOẠI GIAO CỦA TRUNG QUỐC

Các Viện Khổng tử là một phần của những gì được cho là một sự hiện diện mới, cởi mở của Trung Quốc ở nước ngoài – được thiết kế một phần để chống lại những gì Bắc Kinh tuyên bố là sự phê phán bất công từ báo chí quốc tế.


Trong khi không có thăm dò thường xuyên về thiện cảm chung đối với Trung Quốc ở Đông Nam Á, nhiều người, bao gồm cả những người tham gia các chương trình văn hóa Trung Quốc, có cái nhìn tích cực. Nou Maneth Athan, một người dẫn bản tin thời sự buổi sáng của Đài Truyền hình Campuchia, đã tới Trung Quốc năm 2011 như một phần của chương trình đào tạo báo chí. Trước hành trình đó, Nou không hề nghĩ nhiều về Trung Quốc nhưng cô đã rất ấn tượng bởi các thành phố và sự giàu có của đất nước này. “Sẽ tốt cho Campuchia khi có một nước phát triển như Trung Quốc ở bên cạnh”, cô quả quyết.

Những không phải ai cũng có chung suy nghĩ như vậy. Hơn 400.000 người Campuchia đã phải rời khỏi mảnh đất của họ kể từ năm 2003, nhiều vụ có liên quan đến đầu tư của Trung Quốc. Trong một trong những trường hợp đình đám nhất, một công ty Trung Quốc đã hợp tác với một hãng của Campuchia tái phát triển Hồ Boeung Kak ở trung tâm Phnom Penh, di dời 4.000 dân nghèo thành thị. Hồi tháng 3, khi Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tới Campuchia, một số người mất đất định phát thư phản đối tại đại sứ quán Trung Quốc nhưng đã bị an ninh đuổi đi. Các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc tương tự cũng xảy ra ở các nước láng giềng như Myanmar.

Ou Virak, một nhà hoạt động nổi tiếng ở Campuchia, nói rằng những trường hợp đó đã dẫn tới nhận thức ngày càng tăng của người dân đối với vai trò của Trung Quốc về vấn đề nhân quyền. Tuy nhiên, chính phủ Campuchia và báo chí đã vẽ ra một hình ảnh tươi sáng về mối quan hệ giữa hai nước. Kết quả là “vẫn có rất nhiều thiện chí đối với Trung Quốc”, ông nói.

Nhưng chừng nào các vụ vi phạm còn xảy ra, thì sẽ còn có thêm nhiều người Campuchia bắt đầu đặt câu hỏi về mối quan hệ đó, một điều mà không một ý nghĩa ngoại giao văn hóa nào có thể chống lại được. “Khi nói về nhân quyền, những chương trình đó không hoạt động. Trung Quốc không có lời biện hộ nào. Nhân quyền không phải là một nguyên tắc mà họ bảo vệ ở đất nước của chính họ, vậy nên rất khó mà họ bảo vệ ở đây”, ông nhấn mạnh.

Một số sai lầm văn hóa mới đây cũng không giúp ích cho hình ảnh của Trung Quốc ở Campuchia. Tháng trước, khi cựu Quốc vương Sihanouk qua đời, một giám sát viên của một nhà máy giày dép ở Phnom Penh đã hủy bỏ hai tấm ảnh của cố Quốc vương khi cô ta phát hiện ra công nhân sùng kính chúng. Hành động này đã được loan tải rộng rãi và dẫn tới các cuộc biểu tình. Nữ giám sát viên đó buộc phải nhận lỗi trước một bức ảnh của vị vua đã khuất rồi bị phạt và bị trục xuất.

Những vụ việc như thế đang kéo căng mối quan hệ dài và phức tạp của nước này với văn hóa Trung Quốc. Cũng giống như hầu hết các nước Đông Nam Á khác, Campuchia tiếp nhận nhiều thế hệ người nhập cư Trung Quốc trong các thế kỷ, trong quá trình đồng hóa họ và hấp thu nền văn hóa của họ. Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng các định kiến về Hoa kiều vẫn tồn tại trong khu vực…

Thật khó để biết liệu Trung Quốc có vượt qua được những vấn đề về hình ảnh đó không. Một mặt, có một khát vọng rất rõ ràng trong người dân ở Đông Nam Á muốn nắm bắt sự phát triển của Trung Quốc và hưởng lợi, điều đòi hỏi họ phải hiểu biết về ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc. Nhưng sự cảnh giác trước các ý định của Trung Quốc dường như cũng đang tăng cao. Các Viện Khổng tử, tiên phong của chiến lược ngoại giao công chúng của Trung Quốc, đã được xây dựng để chống lại những nghi ngờ đó.

Tuy nhiên, ở một vài góc cạnh, các Viện Khổng tử lại càng làm dấy lên nghi ngờ. Michel Juneau-Katsuy, một quan chức tình báo Canada về hưu, cảnh báo rằng các viện như vậy có thể là mặt trận do thám, cả trong một cuốn sách có tựa đề Nest of Spies mà ông là đồng tác giả và trong một cuộc phỏng vấn trên báo National Post của Canada.

Các bức điện tín của Bộ Ngoại giao Mỹ mà WikiLeaks thu thập được và công bố không chia sẻ những quan ngại đó, mô tả các viện này đơn thuần chỉ là công cụ của quyền lực mềm. Bộ này đã hủy visa đối với 51 giáo viên Trung Quốc tại Viện Khổng tử Mỹ hồi đầu năm nay, viện dẫn các lý do kỹ thuật – một quyết định mà sau đó họ đã đảo ngược.

Và khi Ủy ban Các vấn đề đối ngoại của Hạ viện Mỹ tổ chức một phiên điều trần hồi tháng 3 về mối đe dọa của các viện này trên đất Mỹ, một số nhân chứng đã viện lý lẽ về do thám và tuyên truyền. Tuy nhiên, những cáo buộc đó vẫn chưa được chứng minh, và các bức điện tín, thay vào đó, tập trung vào thâm hụt ngân sách và tệ quan liêu, các vấn đề cản trở tính hiệu quả của các viện đó.

Chea Munyrith, Giám đốc Viện Khổng tử Campuchia, bác bỏ những lo ngại kể trên. “Chính phủ Campuchia ủng hộ chính sách một Trung Quốc”, ông nói. “Nhưng chúng tôi không quan tâm về ngoại giao hay chính trị. Chúng tôi ở đây để dạy ngôn ngữ và văn hóa”.

Các Viện Khổng tử là một phần của những gì được cho là một sự hiện diện mới, cởi mở của Trung Quốc ở nước ngoài – được thiết kế một phần để chống lại những gì Bắc Kinh tuyên bố là sự phê phán bất công từ báo chí quốc tế.

Trong khi Trung Quốc đạt được tiến bộ lớn trong nỗ lực tranh thủ tình cảm của Đông Nam Á, nước này rõ ràng còn rất nhiều việc cần phải làm.
SẦM HOA (TUẦN VIỆT NAM) / FP

TRUNG QUỐC KHÔNG THỂ DÙNG CAMPUCHIA THAO TÚNG ASEAN

Ngay cả khi có một nước “chư hầu” là Campuchia làm Chủ tịch luân phiên Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Trung Quốc cũng khó có thể kiềm chế các nước thành viên ASEAN trong vấn đề giải quyết những tranh chấp lãnh hải giữa Bắc Kinh với một số nước thành viên hiệp hội này.

Sự thất vọng và mỉa mai là điều rõ ràng, khi người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương nêu ra “bài toán” chưa có lời giải đằng sau những mối quan hệ phức tạp của Trung Quốc với ASEAN.

Đầu tiên, ông Tần Cương nói về một bài toán phải tính đến hội nghị cấp cao Đông Á của ASEAN – cơ chế “10+8” – 10 nước ASEAN và 8 cường quốc khác, trong đó có Trung Quốc và Mỹ. Sau đó, ông Tần Cương nói rằng có “một bài toán khác” bên trong bản thân ASEAN. “Đó là bài toán 10+2,” ông Tần Cương nhấn mạnh, một ám chỉ rõ ràng nhằm vào Philippines và Việt Nam, hai quốc gia ASEAN mà Bắc Kinh lo ngại đang thực hiện chiến dịch quốc tế hóa những tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc. “Và cái nào lớn hơn?” Ông Tần Cương tự đặt câu hỏi tu từ bên lề Hội nghị cấp cao Đông Á vừa diễn ra tại Phnompenh.

Thật không may, các nước ASEAN đang cảnh báo rằng những cách “cách giải toán chính trị” đang tiến hành hiện nay không đơn giản như vậy, khi khu vực Đông Nam Á phát hiện ra rằng họ bị lôi kéo vào sự đối địch chiến lược mở rộng giữa Trung Quốc và Mỹ.

Trung Quốc sẽ phải đối mặt với những thách thức đang ngày càng gia tăng từ ASEAN xung quanh tranh chấp Biển Đông khi một năm đầy tranh cãi của Campuchia trên cương vị Chủ tịch luân phiên ASEAN chấm dứt. Mặc dù đã gặp nhiều khó khăn, ít nhất thì trong ngắn hạn, thời gian 1 năm Campuchia làm Chủ tịch ASEAN là điều tốt cho Bắc Kinh.

Campuchia, một nước nhận viện trợ của Trung Quốc trong thời gian dài, đã bị cáo buộc thực hiện những mệnh lệnh của Trung Quốc trong những tháng gần đây nhằm trì hoãn sự tập trung đang được tăng cường của ASEAN trong việc giải quyết những tranh chấp lãnh hải trên Biển Đông, cần phải nhớ rằng, mục đích cuối cùng của Trung Quốc là muốn dàn xếp việc giải quyết những tranh chấp cụ thể với từng nước có tuyên bố chủ quyền lãnh hải ở Biển Đông – điều mà hầu hết các chuyên gia phân tích tin rằng sẽ có lợi rõ ràng cho Bắc Kinh.

Đầu tiên, Campuchia đã gây ra sự đổ vỡ lịch sử của Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 45 (AMM-45) hồi tháng 7 vừa qua, khi những tranh cãi về việc giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông như thế nào đã gây ra những hiềm khích chưa từng có tiền lệ giữa các nước thành viên ASEAN. Trong nhiều thập kỷ, ASEAN luôn đặt sự đồng thuận lên trên tất cả. Thế nhưng, lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm tồn tại của hiệp hội này, các Ngoại trưởng ASEAN đã không thể đưa ra được một thông cáo chung.

Sau thất bại đó, các nhà lãnh đạo đã đến Phnompenh với quyết tâm thúc đẩy tiến triển về một Bộ quy tắc ứng xử mang tính chất ràng buộc với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông nhằm quản lý tốt hơn những căng thẳng trong vấn đề này. Đến nay, tất cả vẫn dừng ở mức quyết tâm không để vấn đề này làm sa lầy các vấn đề khác như kinh tế, thương mại và hội nhập.

Hôm 17/11 vừa qua, Campuchia, nước chủ nhà Hội nghị thượng đỉnh ASEAN và Hội nghị cấp cao Đông Á lần thứ 7, đã tuyên bố rằng các nhà lãnh đạo ASEAN đã chính thức nhất trí từ nay trở đi không quốc tế hóa vấn đề Biển Đông. Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao Campuchia Kao Kim Hourn nói thêm rằng các cuộc đàm phán giữa ASEAN với Trung Quốc sẽ là diễn đàn duy nhất cho việc giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh hải trên Biển Đông. Tuy nhiên, tuyên bố mà Campuchia đưa ra đã làm dấy lên nhiều nghi vấn, và thỏa thuận mà Campuchia nói đến trên thực tế không tồn tại.

Với việc các nhà lãnh đạo, bao gồm Tổng thống Mỹ Barack Obama và các đồng minh đến từ Nhật Bản, ôxtrâylia, tập trung tại Phnompenh với quyết tâm nêu lên sự cần thiết phải giảm bớt những va chạm trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, thì đó là một thỏa thuận đáng chú ý, và là một chiến thắng dành cho nỗ lực vận động hậu trường của Bắc Kinh.

Tuy nhiên, sự đồng thuận mà Campuchia rêu rao chỉ kéo dài chưa đầy một ngày. Phái đoàn Philippines do Tổng thống Benigno Aquino dẫn đầu, đã lên tiếng phản đối, tố cáo Campuchia xuyên tạc và cảnh báo rằng không có một thỏa thuận nào như vậy, đồng thời khẳng định quyền tìm kiếm sự quốc tế hóa vấn đề Biển Đông nếu như Manila cảm thấy rằng chủ quyền quốc gia của họ bị đe dọa.

Sự đoàn kết của ASEAN lại bị phá vỡ và Biển Đông dường như đã quay trở lại chương trình nghị sự toàn cầu mở rộng, bất chấp những nỗ lực của Bắc Kinh , Các phái viên ASEAN đã xác nhận rằng không có thỏa thuận chính thức nào về việc hạn chế các cuộc thảo luận liên quan vấn đề tranh chấp Biển Đông.

Cuối cùng, một số người trong cuộc đã bị ngạc nhiên bởi sự đổi hướng của những sự kiện, Trên hết, Thủ tướng Hun Sen của Campuchia, một cựu chỉ huy Khmer Đỏ giờ đây được coi là nhân vật lãnh đạo cuối cùng thiên về bạo lực chính trị tại Đông Á – không chỉ nổi tiếng về sự xảo quyệt ngoại giao của ông ta. Khi các phái viên được đưa đến Cung điện Hòa bình của Hun Sen do Trung Quốc xây dựng, họ phát hiện trên những bức tường giăng đầy những băng rôn ca ngợi mối quan hệ “trường tồn” của Campuchia với Trung Quốc và Thủ tướng Ôn Gia Bảo. Những băng rôn đó sẽ được giữ lại cả tuần, ngay cả khi các nhà lãnh đạo 16 quốc gia khác có những phát biểu tại Cung điện Hòa Bình.

Những người quan sát kỹ hơn sẽ thấy những hàng binh sĩ vây quanh các con phố với những khẩu súng trường kiểu 097 và xe môtô do Trung Quốc sản xuất.

Báo chí địa phương thì tràn ngập thông tin trong cuộc gặp với Thủ tướng Hun Sen, Ôn Gia Bảo đã cam kết thực hiện thỏa thuận viện trợ 50 triệu USD cho Campuchia, một cam kết giá trị nhất trong số những thỏa thuận tổng trị giá 500 triệu USD mà Trung Quốc đã đưa ra hồi tháng 9 trong tất cả các lĩnh vực quan hệ giữa hai nước, từ phát triển mở rộng, đến kinh tế và thương mại. Những thỏa thuận này đã đưa Trung Quốc trở thành đối tác quốc tế quan trọng nhất của Campuchia.

Một phái viên ASEAN tuyên bố: “Chắc chắn Hun Sen đã thực hiện nhiệm vụ mà Trung Quốc giao cho trong năm nay. Tuy nhiên, điều đó chỉ giúp Bắc Kinh trì hoãn, chứ không phải là thành công hoàn toàn. Nó cũng dẫn đến một quyết tâm đã được làm mới để đưa các cuộc đàm phán quay trở lại đúng hướng và có thể tiến triển hơn. Mọi người đều muốn nhặt những mảnh vỡ lên và tiến về phía trước”.

Trong khi mối quan hệ với Campuchia vẫn mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc, các quan chức và học giả Trung Quốc cũng đã nhấn mạnh những thách thức phía trước khi chức Chủ tịch luân phiên ASEAN được chuyển cho Brunây.

Vương quốc giàu dầu mỏ này – chế độ quân chủ hoàn toàn cuối cùng ở Đông Nam Á – sẽ là một “cục than nóng” đầy khó khăn đối với Trung Quốc. Dù là một nước khá lặng lẽ trong ASEAN, nhưng Brunây là một trong 4 đối thủ tuyên bố chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông, bên cạnh Philippines, Việt Nam và Malaysia.

Singapore – nước muốn thấy tiến triển trong năm tới về Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông – và các quốc gia khác đã kín đáo giúp đỡ Brunây để nước này sẵn sàng quay trở lại ánh đèn sân khấu ngoại giao.

Một sự phức tạp tiềm tàng là việc xoay vòng chức Tổng Thư ký ASEAN – một vị trí ít quyền lực nhưng có ảnh hưởng đáng kể. Cựu Ngoại trưởng Thái Lan Surin Pitsuwan đã trao lại chức vụ này cho nhà ngoại giao Việt Nam Lê Lương Minh, người sẽ nắm giữ chức vụ này trong 5 năm.

Ông Lê Lương Minh, một người có nhiều kinh nghiệm làm việc tại Liên hợp quốc, dự kiến sẽ duy trì mạnh mẽ sự thúc đẩy của ASEAN đối với Bộ quy tắc ứng xử về vấn đề Biển Đông trong chương trình nghị sự của tổ chức này.

Cựu Tổng Thư ký Surin Pitsuwan đã có những lúc có vẻ như miễn cưỡng đi vào những chi tiết về căng thẳng Biển Đông, ngoài những lời kêu gọi nhẹ nhàng về sự đoàn kết. Khi bầu không khí “tăng nhiệt”, ông Surin đã lẩn tránh báo chí.

Tuy nhiên, tân Tổng Thư ký ASEAN Lê Lương Minh sẽ có nguy cơ bị chỉ trích nếu như ông này quá thẳng thắn trons việc thể hiện lập trường của Hà Nội chống Trung Quốc.

Vị trí Tổng Thư ký ASEAN vẫn là một điều gì đó cho thấy một công việc có tiến triển và là một cơ hội cho ông Lê Lương Minh biến điều đó trở nên quan trọng hơn. Như một số học giả đã nhấn mạnh, ASEAN cần nhiều hơn ở một vị tướng, thay vì chỉ là một thư ký.

Những vấn đề mà ông Lê Lương Minh sẽ phải đối mặt ít nhất không là gì khác ngoài một cuộc chiến vì tinh thần của ASEAN. Lại một lần nữa ASEAN thấy mình đứng ở trung tâm của các đổi thủ hùng mạnh như thời kỳ cao trào của thời Chiến tranh Lạnh. Và dĩ nhiên là không ai muốn thấy lại kỷ nguyên đẫm máu đó.

Theo cách nói khoa trương của Wasington, việc Mỹ tái can dự khắp Đông Nam Á là một phần của nỗ lực nhằm định hình sự trỗi dậycủa Trung Quốc, buộc Trung Quốc phải tuân theo các quy chuẩn quốc tế. Với sự thận trọng đáng kể, Mỹ đã củng cố những nỗ lực của các nước ASEAN trong việc phối hợp và tổ chức những phản ứng ngoại giao đối với những thách thức từ phía Trung Quốc. Ví dụ, trong khi Philippines công khai đứng ra phản đối, những nước khác đang giúp đỡ ở hậu trường.

Về phía Trung Quốc, các quan chức và học giả nước này đã cho thấy rõ ràng rằng ở hướng ngược lại, họ quyết tâm định hình sự trỗi dậy của ASEAN. Trung Quốc cần phải không bị đe dọa, kiềm chế hay thách thức tại sân sau hàng hải của riêng họ, và những tranh chấp song phương phải không trở thành chủ đề để nước ngoài can thiệp.

Như Giáo sư Tra Đạo Quýnh của Đại học Bắc Kinh (Hồng Công) đã nóigần đây, Trung Quốc không quan tâm đến một ASEAN bị chia rẽ, nhưng Trung Quốc phải cẩn thận, trong thời gian dài ASEAN không phát triển giống như một Liên đoàn Arập ngày càng quyết đoán và theo chủ nghĩa can thiệp. Giáo sư Tra Đạo Quýnh nói rằng Trung Quốc có một lợi ích chiến lược ở trong khối ASEAN vững mạnh, đoàn kết và có khả năng dẫn dắt các cuộc họp của khu vực mà không có các cường quốc bên ngoài, nhưng Trung Quốc phải duy trì được chương trình nghị sự lâu dài là kiến tạo hòa bình và tránh xung đột, thay vì làm bất kỳ điều gì quyết liệt hơn. Theo Giáo sư Tra Đạo Quýnh, Trung Quốc sẽ không bao giờ muốn thấy việc hình thành một nhóm các nước “đấu tranh bằng hành động quân sự bên trong bản thân nhóm đó hoặc chống lại các nước khác ở bên ngoài”.

Một số nước ASEAN rõ ràng muốn Trung Quốc nhận thức rõ hơn về sức mạnh của nước này, và từ bỏ những hành động gần đây vì những mối quan hệ tốt đẹp.

Theo hãng tin Bloomberg, khi Tổng thống Philippines Aquino trở về Manila sau khi đưa ra một lời kêu gọi quốc tế hành động khẩn cấp, nhà lãnh đạo này đã khẳng định rằng chính phủ của ông vẫn muốn Trung Quốc “trở thành ví dụ về sự khôn ngoan và đi đầu trong việc tìm kiếm hòa bình”. Tổng thống Aquino nói: “Khu vực của chúng ta có nhiều nơi rất khác nhau và sự hài hòa của khu vực có thể dễ dàng bị phá vỡ bởi việc làm chệch hướng chính trị, quân sự hoặc sức mạnh kinh tế”.

Chỉ cách đây 4 năm, Trung Quốc đã thành công trong việc giữ cho các nước ASEAN chính thức yên lặng trong vấn đề Biển Đông. Những sự kiện gần đây đã chứng tỏ rằng bất chấp những nồ lực đáng kể, những tính toán giờ đây đã trở nên phức tạp hơn nhiều.

Tài liệu tham khảo đặc biệt – TTXVN

TRUNG QUỐC KHÔNG THỂ DÙNG CAMPUCHIA THAO TÚNG ASEAN

Ngay cả khi có một nước “chư hầu” là Campuchia làm Chủ tịch luân phiên Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Trung Quốc cũng khó có thể kiềm chế các nước thành viên ASEAN trong vấn đề giải quyết những tranh chấp lãnh hải giữa Bắc Kinh với một số nước thành viên hiệp hội này.

Sự thất vọng và mỉa mai là điều rõ ràng, khi người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương nêu ra “bài toán” chưa có lời giải đằng sau những mối quan hệ phức tạp của Trung Quốc với ASEAN.

Đầu tiên, ông Tần Cương nói về một bài toán phải tính đến hội nghị cấp cao Đông Á của ASEAN – cơ chế “10+8” – 10 nước ASEAN và 8 cường quốc khác, trong đó có Trung Quốc và Mỹ. Sau đó, ông Tần Cương nói rằng có “một bài toán khác” bên trong bản thân ASEAN. “Đó là bài toán 10+2,” ông Tần Cương nhấn mạnh, một ám chỉ rõ ràng nhằm vào Philippines và Việt Nam, hai quốc gia ASEAN mà Bắc Kinh lo ngại đang thực hiện chiến dịch quốc tế hóa những tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc. “Và cái nào lớn hơn?” Ông Tần Cương tự đặt câu hỏi tu từ bên lề Hội nghị cấp cao Đông Á vừa diễn ra tại Phnompenh.

Thật không may, các nước ASEAN đang cảnh báo rằng những cách “cách giải toán chính trị” đang tiến hành hiện nay không đơn giản như vậy, khi khu vực Đông Nam Á phát hiện ra rằng họ bị lôi kéo vào sự đối địch chiến lược mở rộng giữa Trung Quốc và Mỹ.

Trung Quốc sẽ phải đối mặt với những thách thức đang ngày càng gia tăng từ ASEAN xung quanh tranh chấp Biển Đông khi một năm đầy tranh cãi của Campuchia trên cương vị Chủ tịch luân phiên ASEAN chấm dứt. Mặc dù đã gặp nhiều khó khăn, ít nhất thì trong ngắn hạn, thời gian 1 năm Campuchia làm Chủ tịch ASEAN là điều tốt cho Bắc Kinh.

Campuchia, một nước nhận viện trợ của Trung Quốc trong thời gian dài, đã bị cáo buộc thực hiện những mệnh lệnh của Trung Quốc trong những tháng gần đây nhằm trì hoãn sự tập trung đang được tăng cường của ASEAN trong việc giải quyết những tranh chấp lãnh hải trên Biển Đông, cần phải nhớ rằng, mục đích cuối cùng của Trung Quốc là muốn dàn xếp việc giải quyết những tranh chấp cụ thể với từng nước có tuyên bố chủ quyền lãnh hải ở Biển Đông – điều mà hầu hết các chuyên gia phân tích tin rằng sẽ có lợi rõ ràng cho Bắc Kinh.

Đầu tiên, Campuchia đã gây ra sự đổ vỡ lịch sử của Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 45 (AMM-45) hồi tháng 7 vừa qua, khi những tranh cãi về việc giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông như thế nào đã gây ra những hiềm khích chưa từng có tiền lệ giữa các nước thành viên ASEAN. Trong nhiều thập kỷ, ASEAN luôn đặt sự đồng thuận lên trên tất cả. Thế nhưng, lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm tồn tại của hiệp hội này, các Ngoại trưởng ASEAN đã không thể đưa ra được một thông cáo chung.

Sau thất bại đó, các nhà lãnh đạo đã đến Phnompenh với quyết tâm thúc đẩy tiến triển về một Bộ quy tắc ứng xử mang tính chất ràng buộc với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông nhằm quản lý tốt hơn những căng thẳng trong vấn đề này. Đến nay, tất cả vẫn dừng ở mức quyết tâm không để vấn đề này làm sa lầy các vấn đề khác như kinh tế, thương mại và hội nhập.

Hôm 17/11 vừa qua, Campuchia, nước chủ nhà Hội nghị thượng đỉnh ASEAN và Hội nghị cấp cao Đông Á lần thứ 7, đã tuyên bố rằng các nhà lãnh đạo ASEAN đã chính thức nhất trí từ nay trở đi không quốc tế hóa vấn đề Biển Đông. Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao Campuchia Kao Kim Hourn nói thêm rằng các cuộc đàm phán giữa ASEAN với Trung Quốc sẽ là diễn đàn duy nhất cho việc giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh hải trên Biển Đông. Tuy nhiên, tuyên bố mà Campuchia đưa ra đã làm dấy lên nhiều nghi vấn, và thỏa thuận mà Campuchia nói đến trên thực tế không tồn tại.

Với việc các nhà lãnh đạo, bao gồm Tổng thống Mỹ Barack Obama và các đồng minh đến từ Nhật Bản, ôxtrâylia, tập trung tại Phnompenh với quyết tâm nêu lên sự cần thiết phải giảm bớt những va chạm trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, thì đó là một thỏa thuận đáng chú ý, và là một chiến thắng dành cho nỗ lực vận động hậu trường của Bắc Kinh.

Tuy nhiên, sự đồng thuận mà Campuchia rêu rao chỉ kéo dài chưa đầy một ngày. Phái đoàn Philippines do Tổng thống Benigno Aquino dẫn đầu, đã lên tiếng phản đối, tố cáo Campuchia xuyên tạc và cảnh báo rằng không có một thỏa thuận nào như vậy, đồng thời khẳng định quyền tìm kiếm sự quốc tế hóa vấn đề Biển Đông nếu như Manila cảm thấy rằng chủ quyền quốc gia của họ bị đe dọa.

Sự đoàn kết của ASEAN lại bị phá vỡ và Biển Đông dường như đã quay trở lại chương trình nghị sự toàn cầu mở rộng, bất chấp những nỗ lực của Bắc Kinh , Các phái viên ASEAN đã xác nhận rằng không có thỏa thuận chính thức nào về việc hạn chế các cuộc thảo luận liên quan vấn đề tranh chấp Biển Đông.

Cuối cùng, một số người trong cuộc đã bị ngạc nhiên bởi sự đổi hướng của những sự kiện, Trên hết, Thủ tướng Hun Sen của Campuchia, một cựu chỉ huy Khmer Đỏ giờ đây được coi là nhân vật lãnh đạo cuối cùng thiên về bạo lực chính trị tại Đông Á – không chỉ nổi tiếng về sự xảo quyệt ngoại giao của ông ta. Khi các phái viên được đưa đến Cung điện Hòa bình của Hun Sen do Trung Quốc xây dựng, họ phát hiện trên những bức tường giăng đầy những băng rôn ca ngợi mối quan hệ “trường tồn” của Campuchia với Trung Quốc và Thủ tướng Ôn Gia Bảo. Những băng rôn đó sẽ được giữ lại cả tuần, ngay cả khi các nhà lãnh đạo 16 quốc gia khác có những phát biểu tại Cung điện Hòa Bình.

Những người quan sát kỹ hơn sẽ thấy những hàng binh sĩ vây quanh các con phố với những khẩu súng trường kiểu 097 và xe môtô do Trung Quốc sản xuất.

Báo chí địa phương thì tràn ngập thông tin trong cuộc gặp với Thủ tướng Hun Sen, Ôn Gia Bảo đã cam kết thực hiện thỏa thuận viện trợ 50 triệu USD cho Campuchia, một cam kết giá trị nhất trong số những thỏa thuận tổng trị giá 500 triệu USD mà Trung Quốc đã đưa ra hồi tháng 9 trong tất cả các lĩnh vực quan hệ giữa hai nước, từ phát triển mở rộng, đến kinh tế và thương mại. Những thỏa thuận này đã đưa Trung Quốc trở thành đối tác quốc tế quan trọng nhất của Campuchia.

Một phái viên ASEAN tuyên bố: “Chắc chắn Hun Sen đã thực hiện nhiệm vụ mà Trung Quốc giao cho trong năm nay. Tuy nhiên, điều đó chỉ giúp Bắc Kinh trì hoãn, chứ không phải là thành công hoàn toàn. Nó cũng dẫn đến một quyết tâm đã được làm mới để đưa các cuộc đàm phán quay trở lại đúng hướng và có thể tiến triển hơn. Mọi người đều muốn nhặt những mảnh vỡ lên và tiến về phía trước”.

Trong khi mối quan hệ với Campuchia vẫn mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc, các quan chức và học giả Trung Quốc cũng đã nhấn mạnh những thách thức phía trước khi chức Chủ tịch luân phiên ASEAN được chuyển cho Brunây.

Vương quốc giàu dầu mỏ này – chế độ quân chủ hoàn toàn cuối cùng ở Đông Nam Á – sẽ là một “cục than nóng” đầy khó khăn đối với Trung Quốc. Dù là một nước khá lặng lẽ trong ASEAN, nhưng Brunây là một trong 4 đối thủ tuyên bố chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông, bên cạnh Philippines, Việt Nam và Malaysia.

Singapore – nước muốn thấy tiến triển trong năm tới về Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông – và các quốc gia khác đã kín đáo giúp đỡ Brunây để nước này sẵn sàng quay trở lại ánh đèn sân khấu ngoại giao.

Một sự phức tạp tiềm tàng là việc xoay vòng chức Tổng Thư ký ASEAN – một vị trí ít quyền lực nhưng có ảnh hưởng đáng kể. Cựu Ngoại trưởng Thái Lan Surin Pitsuwan đã trao lại chức vụ này cho nhà ngoại giao Việt Nam Lê Lương Minh, người sẽ nắm giữ chức vụ này trong 5 năm.

Ông Lê Lương Minh, một người có nhiều kinh nghiệm làm việc tại Liên hợp quốc, dự kiến sẽ duy trì mạnh mẽ sự thúc đẩy của ASEAN đối với Bộ quy tắc ứng xử về vấn đề Biển Đông trong chương trình nghị sự của tổ chức này.

Cựu Tổng Thư ký Surin Pitsuwan đã có những lúc có vẻ như miễn cưỡng đi vào những chi tiết về căng thẳng Biển Đông, ngoài những lời kêu gọi nhẹ nhàng về sự đoàn kết. Khi bầu không khí “tăng nhiệt”, ông Surin đã lẩn tránh báo chí.

Tuy nhiên, tân Tổng Thư ký ASEAN Lê Lương Minh sẽ có nguy cơ bị chỉ trích nếu như ông này quá thẳng thắn trons việc thể hiện lập trường của Hà Nội chống Trung Quốc.

Vị trí Tổng Thư ký ASEAN vẫn là một điều gì đó cho thấy một công việc có tiến triển và là một cơ hội cho ông Lê Lương Minh biến điều đó trở nên quan trọng hơn. Như một số học giả đã nhấn mạnh, ASEAN cần nhiều hơn ở một vị tướng, thay vì chỉ là một thư ký.

Những vấn đề mà ông Lê Lương Minh sẽ phải đối mặt ít nhất không là gì khác ngoài một cuộc chiến vì tinh thần của ASEAN. Lại một lần nữa ASEAN thấy mình đứng ở trung tâm của các đổi thủ hùng mạnh như thời kỳ cao trào của thời Chiến tranh Lạnh. Và dĩ nhiên là không ai muốn thấy lại kỷ nguyên đẫm máu đó.

Theo cách nói khoa trương của Wasington, việc Mỹ tái can dự khắp Đông Nam Á là một phần của nỗ lực nhằm định hình sự trỗi dậycủa Trung Quốc, buộc Trung Quốc phải tuân theo các quy chuẩn quốc tế. Với sự thận trọng đáng kể, Mỹ đã củng cố những nỗ lực của các nước ASEAN trong việc phối hợp và tổ chức những phản ứng ngoại giao đối với những thách thức từ phía Trung Quốc. Ví dụ, trong khi Philippines công khai đứng ra phản đối, những nước khác đang giúp đỡ ở hậu trường.

Về phía Trung Quốc, các quan chức và học giả nước này đã cho thấy rõ ràng rằng ở hướng ngược lại, họ quyết tâm định hình sự trỗi dậy của ASEAN. Trung Quốc cần phải không bị đe dọa, kiềm chế hay thách thức tại sân sau hàng hải của riêng họ, và những tranh chấp song phương phải không trở thành chủ đề để nước ngoài can thiệp.

Như Giáo sư Tra Đạo Quýnh của Đại học Bắc Kinh (Hồng Công) đã nóigần đây, Trung Quốc không quan tâm đến một ASEAN bị chia rẽ, nhưng Trung Quốc phải cẩn thận, trong thời gian dài ASEAN không phát triển giống như một Liên đoàn Arập ngày càng quyết đoán và theo chủ nghĩa can thiệp. Giáo sư Tra Đạo Quýnh nói rằng Trung Quốc có một lợi ích chiến lược ở trong khối ASEAN vững mạnh, đoàn kết và có khả năng dẫn dắt các cuộc họp của khu vực mà không có các cường quốc bên ngoài, nhưng Trung Quốc phải duy trì được chương trình nghị sự lâu dài là kiến tạo hòa bình và tránh xung đột, thay vì làm bất kỳ điều gì quyết liệt hơn. Theo Giáo sư Tra Đạo Quýnh, Trung Quốc sẽ không bao giờ muốn thấy việc hình thành một nhóm các nước “đấu tranh bằng hành động quân sự bên trong bản thân nhóm đó hoặc chống lại các nước khác ở bên ngoài”.

Một số nước ASEAN rõ ràng muốn Trung Quốc nhận thức rõ hơn về sức mạnh của nước này, và từ bỏ những hành động gần đây vì những mối quan hệ tốt đẹp.

Theo hãng tin Bloomberg, khi Tổng thống Philippines Aquino trở về Manila sau khi đưa ra một lời kêu gọi quốc tế hành động khẩn cấp, nhà lãnh đạo này đã khẳng định rằng chính phủ của ông vẫn muốn Trung Quốc “trở thành ví dụ về sự khôn ngoan và đi đầu trong việc tìm kiếm hòa bình”. Tổng thống Aquino nói: “Khu vực của chúng ta có nhiều nơi rất khác nhau và sự hài hòa của khu vực có thể dễ dàng bị phá vỡ bởi việc làm chệch hướng chính trị, quân sự hoặc sức mạnh kinh tế”.

Chỉ cách đây 4 năm, Trung Quốc đã thành công trong việc giữ cho các nước ASEAN chính thức yên lặng trong vấn đề Biển Đông. Những sự kiện gần đây đã chứng tỏ rằng bất chấp những nồ lực đáng kể, những tính toán giờ đây đã trở nên phức tạp hơn nhiều.

Tài liệu tham khảo đặc biệt – TTXVN

"TÀU CÁ"/ TRUNG QUỐC KÉO ĐỨT CÁP TÀU BÌNH MINH 02

Ngày 30/11/2012, trên vùng biển gần đảo Cồn Cỏ của Việt Nam, tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đang làm nhiệm vụ lại bị các tàu cá Trung Quốc xâm hại, gây đứt cáp thu nổ địa chấn.

Phóng viên Petrotimes đã có cuộc phỏng vấn ông Phạm Việt Dũng, Phó trưởng ban Tìm kiếm Thăm dò – phụ trách Văn phòng Biển Đông của PVN về vụ việc nghiêm trọng này.

PV: Theo một số nguồn tin, tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 của PVN lại bị cản trở khi đang làm việc ở vùng biển Việt Nam. Xin ông cho biết thông tin cụ thể?



Cáp tàu BM02 bị cắt

Ông Phạm Việt Dũng: Vào lúc 4 giờ 5 phút ngày 30/11/2012, khi tàu Bình Minh 02 đang di chuyển từ tuyến PVN12-R009 về tuyến PVN12-R005 ở khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ để chuẩn bị khảo sát. Có rất nhiều tàu cá Trung Quốc đang hoạt động tại đây. Khi các lực lượng chức năng phát tín hiệu cảnh báo và yêu cầu các tàu cá ra khỏi khu vực làm việc của tàu Bình Minh 02, một cặp tàu kéo dã cào mang số hiệu 16025 và 16028 của Trung Quốc đã chạy qua phía sau tàu Bình Minh 02 và gây đứt cáp địa chấn của tàu Bình Minh 02 cách phao đuôi khoảng 25m.

Vị trí cáp bị đứt có tọa độ là 17º26 Bắc và 108º02 Đông, cách đảo Cồn Cỏ 43 hải lý về phía đông nam và cách đường trung tuyến Việt Nam – Trung Quốc 20 hải lý về phía tây.

PV: Xin ông cho biết đôi nét về nhiệm vụ của tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 và những khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ này?


Vị trí xảy ra sự cố và hướng di chuyển của tàu BM02

Ông Phạm Việt Dũng: Từ tháng 5/2012 đến nay, tàu Bình Minh 02 tiến hành đề án khảo sát địa chấn 2D liên kết các bể trầm tích trên thềm lục địa Việt Nam. Tàu địa chấn Bình Minh 02 bắt đầu khảo sát các tuyến liên kết ở bể Cửu Long, sau đó là bể Nam Côn Sơn, bể Phú Khánh và hiện nay đang đang khảo sát các tuyến liên kết ở bể Sông Hồng tại khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ.

Thời gian gần đây, có rất nhiều tàu cá Trung Quốc xâm phạm trái phép vùng biển Việt Nam đánh bắt hải sản, với số lượng rất lớn, tập trung ở khu vực từ Cồn Cỏ đến Nam Tri Tôn, có ngày lên tới hơn 100 lần chiếc. Các tàu chấp pháp của Việt Nam đã yêu cầu các tàu cá Trung Quốc rút ra khỏi vùng biển Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều tàu cá Trung Quốc vẫn cố tình quay trở lại xâm phạm vùng biển Việt Nam.


PV: Vậy phía PVN đã có những phản ứng như thế nào trước vụ việc này, thưa ông?

Ông Phạm Việt Dũng: Ngay sau khi xảy ra sự việc, PVN đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc và tàu Bình Minh 02 nhanh chóng khắc phục sự cố, sửa chữa cáp địa chấn để sớm tiếp tục công việc. Đến 14 giờ ngày 1/12/2012, anh em đã khắc phục xong sự cố cáp địa chấn và tàu Bình Minh 02 đã tiếp tục công tác khảo sát bình thường.

Việc tàu cá Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm vùng biển Việt Nam đánh bắt hải sản, không những vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam mà còn cản trở hoạt động bình thường của ngư dân Việt Nam và làm ảnh hưởng đến hoạt động trên biển của PVN.


Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam phản đối hành động xâm hại tàu Bình Minh 02 của tàu cá Trung Quốc và kiến nghị các cơ quan chức năng yêu cầu phía Trung Quốc giáo dục công dân Trung Quốc tôn trọng vùng biển Việt Nam, không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các tàu Việt Nam, trong đó có các tàu khảo sát của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.

PV: Xin cảm ơn ông.
TIẾN DŨNG (NĂNG LƯỢNG MỚI)