TẠI SAO QUAN CHỨC TRUNG QUỐC THÔ LỖ XẤC LÁO

Lâm Trực nhặt của anh Tuấn Úc
Xin lỗi các bạn vì cái tựa đề hơi xúc phạm đó, nhưng tôi có lí do. Vài câu chuyện xảy ra gần đây cho chúng ta thấy một số quan chức Trung Quốc rất ư là mất lịch sự, thô lỗ, láo xược, đến độ chỉ có thể nói là mất dạy. Bài tản mạn này nhằm lí giải tại sao họ tỏ ra mất dạy như thế.

Tính thô lỗ của các quan chức Trung Quốc hình như thể hiện ở các cấp. Chẳng những thế, ngôn ngữ của họ rất thô và rất trực tiếp. Chẳng hạn như trong hội nghị về an ninh biển Đông diễn ra ở Washington vừa qua, một học giả Trung Quốc tên là Chu Hạo hỏi một diễn giả Việt Nam rằng có phải do có Mĩ mà đoàn Việt Nam ”mạnh miệng” hay không? Trước đó, một vài tướng lãnh và bình luận gia Trung Quốc xuất hiện trên đài truyền hình hăm dọa ”tát Việt Nam”, ”dạy Việt Nam” một bài học. Điều đáng ngạc nhiên là ngôn ngữ họ dùng trên đài truyền hình cực kì thô lỗ, đến nổi chúng ta ngạc nhiên không hiểu mấy người này còn bao nhiêu tế bào trí tuệ nào trong đầu.
Nhưng mới đây, ngay cả những người trong ngành ngoại giao, thậm chí cấp tổng tham mưu trưởng, mà cũng tỏ ra rất ư là thô lỗ. Chúng ta biết rằng Chính phủ Phi Luật Tân cấm một quan chức ngoại giao Trung Quốc không được tham dự vào những đàm phán về vấn đề biển Đông. Lí do chính phủ Phi đi đến quyết định mạnh như thế là vì ông quan chức ngoại giao trên tỏ ra quá mất lịch sự. Mới đây nhất, trong một cuộc họp báo ở Hàn Quốc, ông tướng họ Trần của Trung Quốc dành ra gần 15 phút trong bài diễn văn của mình để … nói xấu Mĩ. Giới báo chí Hàn Quốc và quốc tế ngỡ ngàng trước thái độ hằn học và thiếu ngoại giao của kẻ mang hàm đại tướng tổng tham mưu trưởng quân đội của một nước đông dân nhất thế giới tự xưng mình là trung tâm của vũ trụ!
Tất cả những người tôi vừa đề cập đến đều có một mẫu số chung: người Trung Quốc. Cái mẫu số chung thứ hai là họ có học, không phải những kẻ ngu dốt. Có người giữ chức bộ trưởng quốc phòng. Có kẻ là quan chức ngoại giao. Có người là bình luận gia. Còn những tên hăm dọa “dạy bài học” là tướng lãnh. Câu hỏi đặt ra là tại sao họ lại mất lịch sự, thậm chí thô lỗ như thế? Tôi nghĩ đến những nguyên nhân sau đây:
Lí do đầu tiên là mất dạy. Đối với người Việt chúng ta (và có lẽ người Trung Hoa cũng thế), nếu một đứa trẻ tỏ ra vô lễ với người chung quanh, chúng ta thường nói: đồ mất dạy. Câu này hàm ý nói cha mẹ chúng không dạy con những qui ước giao tiếp xã hội, không dạy chúng những lẽ phải điều hay, nên chúng hành xử trái với đạo đức xã hội. Cũng có thể cha mẹ chúng không biết điều sai lẽ phải. Nhưng nói chung, thô lỗ xuất phát từ sự mất dạy. Các quan chức Trung Quốc có “cha mẹ” là chính quyền và Đảng cộng sản TQ. Vì thế, “mất dạy” ở đây có thể là họ không được đảng và nhà nước TQ dạy dỗ cách hành xử với đời. Nhưng cũng có thể chính Nhà nước và Đảng cộng sản TQ cũng mất dạy.
Lí do thứ hai là do cô lập. Người thô lỗ thường cảm thấy cô lập với người chung quanh. Người ta thường tỏ thái độ vô lễ và vô giáo dục trên internet, email, hay trên điện thoại. Lí do đơn giản là người ta cảm thấy không có liên hệ gì với người khác, nhất là trong thế giới mạng người ta nghĩ rằng có thể hành xử như một kẻ vô danh. Những quan chức tỏ ra thô lỗ với Việt Nam hiện nay là một dấu hiệu cho thấy họ và đất nước họ rất cô đơn. Thật vậy, ngày nay chẳng ai còn có cảm tình với Trung Quốc. Từ Phi châu, sang Mĩ châu, đến Âu châu, Úc châu, và Á châu, chẳng ai tin vào Trung Quốc. Ai cũng thấy đây là một gã khổng lồ nói một đằng làm một nẻo. Người ta khinh gã khổng lồ chuyên nói láo và vô lễ. Gã khổng lồ này thật sự rất cô đơn, và những gì quan chức họ thể hiện chính là một triệu chứng của hội chứng cô đơn đó.

Lí do thứ ba là họ đau khổ. Người thô lỗ muốn người khác cảm thấy đau khổ vì bản thân họ đau khổ. Những kẻ thô lỗ với người khác bản thân họ có tính xấu. Đó là cái bệnh và họ đau khổ với bệnh xấu tính. Họ muốn phóng thoát căn bệnh đó cho người khác, bằng cách tỏ ra thô lỗ như là một cách giải tỏa tâm thần. Họ đang đau khổ với sự bất công ở trong nước; họ đang đối đầu với những cuộc nổi dậy ở trong nước; họ đang đau đầu với di sản Thiên An Môn. Nói chung, Trung Quốc như là một gã khổng lồ đang đau khổ. Cách hành xử thô lỗ và lưu manh của họ hiện nay chính là một cách giải tỏa nỗi đau đến nước khác.
Lí do thứ tư là muốn gây ấn tượng “người hùng”. Người thô lỗ thường muốn tỏ ra mình mạnh khi nói điều thô lỗ. Chúng ta đã thấy những kẻ lưu manh trong sân trường hay ngoài xã hội (tiếng Anh hay gọi là bully). Đây là triết lí lưu manh. Kẻ thô lỗ muốn hăm dọa và gây sợ hãi cho đối phương, với hi vọng đối phương sẽ qui phục chúng. Do đó, những kẻ thô lỗ thường có cái vỏ bọc to tướng bên ngoài nhưng trong người là một đứa bé. Đứa bé lúc nào cũng sợ hãi, thiếu tự tin, nhưng chúng không dám để lộ ra những bản tính đó. Suy luận từ lí do này, chúng ta có thể nói các quan chức, tướng lãnh Trung Quốc đã và đang hăm dọa Việt Nam, chính họ là những kẻ yếu. Cái yếu hiển nhiên là bộ não và tri thức. Vì thiếu tri thức, thiếu lí lẽ, nên ngữ vựng của họ chỉ gói gọn trong những câu chữ đe dọa của kẻ du côn, và ý tưởng của họ chỉ là đánh đấm chứ không phải lí luận. Có thể nói rằng những kẻ này là thuộc nhóm mà tiếng Anh gọi là intellectually disable people – tức những người bị tàn tật về tri thức.
Lí do thứ năm là “cái tôi” quá lớn. Người thô lỗ muốn cái tôi của mình lớn hơn thực tế. Nếu một người nổi tiếng vì tính thô lỗ như ông Trần đại tướng tổng tham mưu trưởng của Trung Quốc chẳng hạn, thì đó là dấu hiệu cho thấy ông đang muốn xây dựng cho mình một “cái tôi” (ego). Vấn đề là khi họ cố tạo cái tôi và hòa quyện nó với cá tính của họ, vấn đề trở nên một bệnh trạng. Thật vậy, thô lỗ là một căn bệnh. Họ bệnh vì cảm thấy mình cô đơn, và chỉ có cách họ liên lạc với người ngoài là bằng cách phóng đại cái tôi của mình cho thật lớn. Những quan chức Trung Quốc đang lớn tiếng hăm dọa Việt Nam chính là những kẻ bệnh hoạn.
Lí do thứ sáu là do bệnh lí. Bệnh của những người thô lỗ có thể do bẩm sinh di truyền. Thử xem qua những kẻ quen thói hống hách, du đãng, sát nhân, v.v., khi những kẻ du côn được hỏi tại sao họ hành hung người khác hay hành xử lưu manh, họ nói vì thấy nạn nhân khóc, và thấy đó là một “thành quả” của hành động lưu manh của mình. Suy ra từ tâm lí này, những kẻ thù phương Bắc đang lớn tiếng hung hãn đe dọa Việt Nam sẽ còn tiếp tục thái độ thô lỗ nếu Việt Nam mềm dẽo với chúng, hay nhường nhịn chúng (không dám nói lại). Mềm thì nắn, còn rắn thì buông. Chúng ta chỉ không nói lại khi kẻ hung hãn là một kẻ điên, nhưng nếu chúng không điên thì chúng ta cần phải dạy cho chúng biết thế nào là lịch sự và thế nào là thô lỗ.
Điều ngạc nhiên là dân tộc Trung Hoa có một nền văn minh lâu đời, một nền văn học tuyệt vời, nhưng lại sản sinh ra những quan chức quen thói lưu manh, thô lỗ. Với một cái gốc văn minh và văn hóa như thế, tại sao những người Trung Hoa hiện tại tỏ ra vô giáo dục như thế. Thật ra, câu hỏi này có lẽ không cần thiết, bởi vì trong các thế kỉ trước, các vua chúa Trung Quốc cũng đều tỏ ra cực kì vô lễ, xấc xược, và hỗn láo với vua chúa Việt Nam. Thử đọc những trao đổi giữa họ và các vua chúa ta thì biết: vua chúa họ dùng những ngôn ngữ rất ư là ngạo mạn, trịch thượng với hoàng đế nước ta. Do đó, dù họ có một nền văn minh lâu đời, nhưng cách hành xử của họ với ta đã có truyền thống … mất dạy. Chúng ta không nên ngạc nhiên khi các quan chức Trung Quốc ngày nay ăn nói rất ư là là trịch thượng và xấc láo với Việt Nam. Điều này chứng tỏ bản chất trịch thượng và mất dạy của họ đã thấm vào máu, thành gien (gien thô lỗ), và truyền từ đời này sang đời khác.

Nói tóm lại, thói ăn nói thô lỗ, xấc láo và lưu manh của các quan chức Trung Quốc (từ quan chức ngoại giao đến quan chức quốc phòng) là biểu hiện của một nền giáo dục xuống cấp và vô đạo đức. Được rèn luyện trong hệ thống đó cùng với thừa hưởng gien thô lỗ và du côn của cha ông họ, họ trở nên những kẻ đau khổ và cô đơn trên trường quốc tế. Hiểu được “căn bệnh” đó, tôi thấy rất đồng ý với nhiều người có kinh nghiệm “mềm nắn rắn buông” khi đương đầu với Trung Quốc, nhưng tôi muốn thêm rằng chúng ta tỏ ra “rắn cũng chưa đủ, mà phải tỏ ra tôn trọng dân mình. Nếu người Việt không tôn trọng người Việt thì ai tôn trọng người Việt?
NVT
Advertisements

TẠI SAO QUAN CHỨC TRUNG QUỐC THÔ LỖ XẤC LÁO

Lâm Trực nhặt của anh Tuấn Úc
Xin lỗi các bạn vì cái tựa đề hơi xúc phạm đó, nhưng tôi có lí do. Vài câu chuyện xảy ra gần đây cho chúng ta thấy một số quan chức Trung Quốc rất ư là mất lịch sự, thô lỗ, láo xược, đến độ chỉ có thể nói là mất dạy. Bài tản mạn này nhằm lí giải tại sao họ tỏ ra mất dạy như thế.

Tính thô lỗ của các quan chức Trung Quốc hình như thể hiện ở các cấp. Chẳng những thế, ngôn ngữ của họ rất thô và rất trực tiếp. Chẳng hạn như trong hội nghị về an ninh biển Đông diễn ra ở Washington vừa qua, một học giả Trung Quốc tên là Chu Hạo hỏi một diễn giả Việt Nam rằng có phải do có Mĩ mà đoàn Việt Nam ”mạnh miệng” hay không? Trước đó, một vài tướng lãnh và bình luận gia Trung Quốc xuất hiện trên đài truyền hình hăm dọa ”tát Việt Nam”, ”dạy Việt Nam” một bài học. Điều đáng ngạc nhiên là ngôn ngữ họ dùng trên đài truyền hình cực kì thô lỗ, đến nổi chúng ta ngạc nhiên không hiểu mấy người này còn bao nhiêu tế bào trí tuệ nào trong đầu.
Nhưng mới đây, ngay cả những người trong ngành ngoại giao, thậm chí cấp tổng tham mưu trưởng, mà cũng tỏ ra rất ư là thô lỗ. Chúng ta biết rằng Chính phủ Phi Luật Tân cấm một quan chức ngoại giao Trung Quốc không được tham dự vào những đàm phán về vấn đề biển Đông. Lí do chính phủ Phi đi đến quyết định mạnh như thế là vì ông quan chức ngoại giao trên tỏ ra quá mất lịch sự. Mới đây nhất, trong một cuộc họp báo ở Hàn Quốc, ông tướng họ Trần của Trung Quốc dành ra gần 15 phút trong bài diễn văn của mình để … nói xấu Mĩ. Giới báo chí Hàn Quốc và quốc tế ngỡ ngàng trước thái độ hằn học và thiếu ngoại giao của kẻ mang hàm đại tướng tổng tham mưu trưởng quân đội của một nước đông dân nhất thế giới tự xưng mình là trung tâm của vũ trụ!
Tất cả những người tôi vừa đề cập đến đều có một mẫu số chung: người Trung Quốc. Cái mẫu số chung thứ hai là họ có học, không phải những kẻ ngu dốt. Có người giữ chức bộ trưởng quốc phòng. Có kẻ là quan chức ngoại giao. Có người là bình luận gia. Còn những tên hăm dọa “dạy bài học” là tướng lãnh. Câu hỏi đặt ra là tại sao họ lại mất lịch sự, thậm chí thô lỗ như thế? Tôi nghĩ đến những nguyên nhân sau đây:
Lí do đầu tiên là mất dạy. Đối với người Việt chúng ta (và có lẽ người Trung Hoa cũng thế), nếu một đứa trẻ tỏ ra vô lễ với người chung quanh, chúng ta thường nói: đồ mất dạy. Câu này hàm ý nói cha mẹ chúng không dạy con những qui ước giao tiếp xã hội, không dạy chúng những lẽ phải điều hay, nên chúng hành xử trái với đạo đức xã hội. Cũng có thể cha mẹ chúng không biết điều sai lẽ phải. Nhưng nói chung, thô lỗ xuất phát từ sự mất dạy. Các quan chức Trung Quốc có “cha mẹ” là chính quyền và Đảng cộng sản TQ. Vì thế, “mất dạy” ở đây có thể là họ không được đảng và nhà nước TQ dạy dỗ cách hành xử với đời. Nhưng cũng có thể chính Nhà nước và Đảng cộng sản TQ cũng mất dạy.
Lí do thứ hai là do cô lập. Người thô lỗ thường cảm thấy cô lập với người chung quanh. Người ta thường tỏ thái độ vô lễ và vô giáo dục trên internet, email, hay trên điện thoại. Lí do đơn giản là người ta cảm thấy không có liên hệ gì với người khác, nhất là trong thế giới mạng người ta nghĩ rằng có thể hành xử như một kẻ vô danh. Những quan chức tỏ ra thô lỗ với Việt Nam hiện nay là một dấu hiệu cho thấy họ và đất nước họ rất cô đơn. Thật vậy, ngày nay chẳng ai còn có cảm tình với Trung Quốc. Từ Phi châu, sang Mĩ châu, đến Âu châu, Úc châu, và Á châu, chẳng ai tin vào Trung Quốc. Ai cũng thấy đây là một gã khổng lồ nói một đằng làm một nẻo. Người ta khinh gã khổng lồ chuyên nói láo và vô lễ. Gã khổng lồ này thật sự rất cô đơn, và những gì quan chức họ thể hiện chính là một triệu chứng của hội chứng cô đơn đó.

Lí do thứ ba là họ đau khổ. Người thô lỗ muốn người khác cảm thấy đau khổ vì bản thân họ đau khổ. Những kẻ thô lỗ với người khác bản thân họ có tính xấu. Đó là cái bệnh và họ đau khổ với bệnh xấu tính. Họ muốn phóng thoát căn bệnh đó cho người khác, bằng cách tỏ ra thô lỗ như là một cách giải tỏa tâm thần. Họ đang đau khổ với sự bất công ở trong nước; họ đang đối đầu với những cuộc nổi dậy ở trong nước; họ đang đau đầu với di sản Thiên An Môn. Nói chung, Trung Quốc như là một gã khổng lồ đang đau khổ. Cách hành xử thô lỗ và lưu manh của họ hiện nay chính là một cách giải tỏa nỗi đau đến nước khác.
Lí do thứ tư là muốn gây ấn tượng “người hùng”. Người thô lỗ thường muốn tỏ ra mình mạnh khi nói điều thô lỗ. Chúng ta đã thấy những kẻ lưu manh trong sân trường hay ngoài xã hội (tiếng Anh hay gọi là bully). Đây là triết lí lưu manh. Kẻ thô lỗ muốn hăm dọa và gây sợ hãi cho đối phương, với hi vọng đối phương sẽ qui phục chúng. Do đó, những kẻ thô lỗ thường có cái vỏ bọc to tướng bên ngoài nhưng trong người là một đứa bé. Đứa bé lúc nào cũng sợ hãi, thiếu tự tin, nhưng chúng không dám để lộ ra những bản tính đó. Suy luận từ lí do này, chúng ta có thể nói các quan chức, tướng lãnh Trung Quốc đã và đang hăm dọa Việt Nam, chính họ là những kẻ yếu. Cái yếu hiển nhiên là bộ não và tri thức. Vì thiếu tri thức, thiếu lí lẽ, nên ngữ vựng của họ chỉ gói gọn trong những câu chữ đe dọa của kẻ du côn, và ý tưởng của họ chỉ là đánh đấm chứ không phải lí luận. Có thể nói rằng những kẻ này là thuộc nhóm mà tiếng Anh gọi là intellectually disable people – tức những người bị tàn tật về tri thức.
Lí do thứ năm là “cái tôi” quá lớn. Người thô lỗ muốn cái tôi của mình lớn hơn thực tế. Nếu một người nổi tiếng vì tính thô lỗ như ông Trần đại tướng tổng tham mưu trưởng của Trung Quốc chẳng hạn, thì đó là dấu hiệu cho thấy ông đang muốn xây dựng cho mình một “cái tôi” (ego). Vấn đề là khi họ cố tạo cái tôi và hòa quyện nó với cá tính của họ, vấn đề trở nên một bệnh trạng. Thật vậy, thô lỗ là một căn bệnh. Họ bệnh vì cảm thấy mình cô đơn, và chỉ có cách họ liên lạc với người ngoài là bằng cách phóng đại cái tôi của mình cho thật lớn. Những quan chức Trung Quốc đang lớn tiếng hăm dọa Việt Nam chính là những kẻ bệnh hoạn.
Lí do thứ sáu là do bệnh lí. Bệnh của những người thô lỗ có thể do bẩm sinh di truyền. Thử xem qua những kẻ quen thói hống hách, du đãng, sát nhân, v.v., khi những kẻ du côn được hỏi tại sao họ hành hung người khác hay hành xử lưu manh, họ nói vì thấy nạn nhân khóc, và thấy đó là một “thành quả” của hành động lưu manh của mình. Suy ra từ tâm lí này, những kẻ thù phương Bắc đang lớn tiếng hung hãn đe dọa Việt Nam sẽ còn tiếp tục thái độ thô lỗ nếu Việt Nam mềm dẽo với chúng, hay nhường nhịn chúng (không dám nói lại). Mềm thì nắn, còn rắn thì buông. Chúng ta chỉ không nói lại khi kẻ hung hãn là một kẻ điên, nhưng nếu chúng không điên thì chúng ta cần phải dạy cho chúng biết thế nào là lịch sự và thế nào là thô lỗ.
Điều ngạc nhiên là dân tộc Trung Hoa có một nền văn minh lâu đời, một nền văn học tuyệt vời, nhưng lại sản sinh ra những quan chức quen thói lưu manh, thô lỗ. Với một cái gốc văn minh và văn hóa như thế, tại sao những người Trung Hoa hiện tại tỏ ra vô giáo dục như thế. Thật ra, câu hỏi này có lẽ không cần thiết, bởi vì trong các thế kỉ trước, các vua chúa Trung Quốc cũng đều tỏ ra cực kì vô lễ, xấc xược, và hỗn láo với vua chúa Việt Nam. Thử đọc những trao đổi giữa họ và các vua chúa ta thì biết: vua chúa họ dùng những ngôn ngữ rất ư là ngạo mạn, trịch thượng với hoàng đế nước ta. Do đó, dù họ có một nền văn minh lâu đời, nhưng cách hành xử của họ với ta đã có truyền thống … mất dạy. Chúng ta không nên ngạc nhiên khi các quan chức Trung Quốc ngày nay ăn nói rất ư là là trịch thượng và xấc láo với Việt Nam. Điều này chứng tỏ bản chất trịch thượng và mất dạy của họ đã thấm vào máu, thành gien (gien thô lỗ), và truyền từ đời này sang đời khác.

Nói tóm lại, thói ăn nói thô lỗ, xấc láo và lưu manh của các quan chức Trung Quốc (từ quan chức ngoại giao đến quan chức quốc phòng) là biểu hiện của một nền giáo dục xuống cấp và vô đạo đức. Được rèn luyện trong hệ thống đó cùng với thừa hưởng gien thô lỗ và du côn của cha ông họ, họ trở nên những kẻ đau khổ và cô đơn trên trường quốc tế. Hiểu được “căn bệnh” đó, tôi thấy rất đồng ý với nhiều người có kinh nghiệm “mềm nắn rắn buông” khi đương đầu với Trung Quốc, nhưng tôi muốn thêm rằng chúng ta tỏ ra “rắn cũng chưa đủ, mà phải tỏ ra tôn trọng dân mình. Nếu người Việt không tôn trọng người Việt thì ai tôn trọng người Việt?
NVT

"CHINOISERIE" HAY BẢN TÍNH CỦA MỘT NHÀ NƯỚC THÍCH GÂY RỐI

Cho dù ý định của Trung Quốc là gì đi nữa… Khi ngoại giao không còn hoạt động được nữa, các quan hệ sẽ tập trung ngày càng tăng vào sách lược quân sự. Đầu tiên là chạy đua vũ trang, sau đó là mưu mô giành giật lợi thế chiến lược bất chấp nguy cơ xung đột, và cuối cùng là đi đến chiến tranh.


Năm 1899, nhà văn Pháp De Vogué, xuất thân là một nhà ngoại giao, trong tác phẩm Những người chết biết nói, đã dùng chữ chinoiseries trong ý nghĩa, mà theo định nghĩa của Trung tâm quốc gia tài nguyên văn bản và từ ngữ của Pháp, được hiểu như là “điều gì nhắc đến một số đặc điểm có thực của (hoặc là gán ghép cho) “thiên triều” như sự quái đản, tính thích gây rối rắm, phiền nhiễu, mưu mô”.

Không rõ người Phú Lang Sa trong thế kỷ 19, khi giao thương với nhà Thanh, đã bực dọc như thế nào mà nặn thêm ra ý nghĩa này cũng cho danh từ chinoiserie(s) mà từ thế kỷ 18 dùng để chỉ những món vật trang trí xuất xứ từ Trung Quốc. Có lẽ do cay cú lắm, nên trong cả ngôn ngữ Pháp chỉ có mỗi từ chinoiserie(s) này để bêu xấu tính cách của “thiên triều”, chớ không có một nhà nước nào khác bị bêu như thế!

Tất nhiên, đó là chuyện “ân oán” của người Phú Lang Sa ngày trước, chẳng dính dáng gì đến quan hệ hai dân tộc Việt – Trung! Thế nhưng, nếu nhìn vào những diễn biến của “sự trỗi dậy” của nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay, không thể không hiểu ra ý nghĩa của danh từ bêu xấu trên. Quả thật là Bắc Kinh đã bày ra hết trò chinoiserie này đến trò chinoiserie khác. Từ thu gom móng trâu bò, mèo, rắn, đuôi trâu, lông đuôi voi… cho đến khoáng sản…! Tất cả nhằm làm suy yếu kinh tế lân bang trong khi đợi dịp “lấy thịt đè người” bằng vũ lực!

Song song đó, nhà cầm quyền Bắc Kinh lần hồi giương nanh vuốt bá quyền ra. Bắt đầu là khái niệm “lợi ích cốt lõi” một cách chung chung, rồi thì cụ thể hóa “lợi ích cốt lõi” đó bằng cách dán vào cụm từ đó những địa danh của thiên hạ, nào là “đường lưỡi bò”, hoặc Arunchal Pradesh… Khẳng định biên cương mới tự cấp bằng khái niệm xong bèn biểu thị sự khẳng định đó bằng bản đồ tự vẽ. Kế đến là tung ra hết tàu hải giám đến tàu ngư chính, lệnh cấm đánh cá… trên biển của thiên hạ, làm như đó là của mình. Sau đó, lùa cả bầy tàu đánh cá ra uy hiếp làm như đó là ao nhà. Gần đây là điều động tàu hải giám ra yểm trợ bầy tàu cá “thiên lôi” kia. Và giờ đây giở chiêu tự cho phép có quyền tàu biên phòng kiểm tra tàu bè các nước trong “đường lưỡi bò” đó. Đây là bước leo thang tột cùng của quá trình “tằm ăn dâu”: dùng tàu quân sự để “thực thi pháp luật” trong vùng biển tự cấp.

Henry Kissinger 40 năm trước đây đã khởi sự cho sự trỗi dậy của Bắc Kinh để đánh đổi lấy sự câu kết đối đầu với Liên Xô vào lúc Bắc Kinh và Moskva như nước với lửa, trong hồi ký On China cuối cùng cũng đã nhận chân được bộ mặt thật của những trò chinoiseries của các “hữu hảo” của mình để rồi cảnh báo rằng: “Cho dù ý định của Trung Quốc là gì đi nữa… Khi ngoại giao không còn hoạt động được nữa, các quan hệ sẽ tập trung ngày càng tăng vào sách lược quân sự. Đầu tiên là chạy đua vũ trang, sau đó là mưu mô giành giật lợi thế chiến lược bất chấp nguy cơ xung đột, và cuối cùng là đi đến chiến tranh”. (On China, tr.515)

Ít nhất cảnh báo muộn màng của Kissinger cũng hữu lý là khi ngoại giao không còn hoạt động được nữa thì… đã đến lúc quên những lời có cánh “hữu hảo”!
 DANH ĐỨC (TUỔI TRẺ ONLINE)

"CHINOISERIE" HAY BẢN TÍNH CỦA MỘT NHÀ NƯỚC THÍCH GÂY RỐI

Cho dù ý định của Trung Quốc là gì đi nữa… Khi ngoại giao không còn hoạt động được nữa, các quan hệ sẽ tập trung ngày càng tăng vào sách lược quân sự. Đầu tiên là chạy đua vũ trang, sau đó là mưu mô giành giật lợi thế chiến lược bất chấp nguy cơ xung đột, và cuối cùng là đi đến chiến tranh.


Năm 1899, nhà văn Pháp De Vogué, xuất thân là một nhà ngoại giao, trong tác phẩm Những người chết biết nói, đã dùng chữ chinoiseries trong ý nghĩa, mà theo định nghĩa của Trung tâm quốc gia tài nguyên văn bản và từ ngữ của Pháp, được hiểu như là “điều gì nhắc đến một số đặc điểm có thực của (hoặc là gán ghép cho) “thiên triều” như sự quái đản, tính thích gây rối rắm, phiền nhiễu, mưu mô”.

Không rõ người Phú Lang Sa trong thế kỷ 19, khi giao thương với nhà Thanh, đã bực dọc như thế nào mà nặn thêm ra ý nghĩa này cũng cho danh từ chinoiserie(s) mà từ thế kỷ 18 dùng để chỉ những món vật trang trí xuất xứ từ Trung Quốc. Có lẽ do cay cú lắm, nên trong cả ngôn ngữ Pháp chỉ có mỗi từ chinoiserie(s) này để bêu xấu tính cách của “thiên triều”, chớ không có một nhà nước nào khác bị bêu như thế!

Tất nhiên, đó là chuyện “ân oán” của người Phú Lang Sa ngày trước, chẳng dính dáng gì đến quan hệ hai dân tộc Việt – Trung! Thế nhưng, nếu nhìn vào những diễn biến của “sự trỗi dậy” của nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay, không thể không hiểu ra ý nghĩa của danh từ bêu xấu trên. Quả thật là Bắc Kinh đã bày ra hết trò chinoiserie này đến trò chinoiserie khác. Từ thu gom móng trâu bò, mèo, rắn, đuôi trâu, lông đuôi voi… cho đến khoáng sản…! Tất cả nhằm làm suy yếu kinh tế lân bang trong khi đợi dịp “lấy thịt đè người” bằng vũ lực!

Song song đó, nhà cầm quyền Bắc Kinh lần hồi giương nanh vuốt bá quyền ra. Bắt đầu là khái niệm “lợi ích cốt lõi” một cách chung chung, rồi thì cụ thể hóa “lợi ích cốt lõi” đó bằng cách dán vào cụm từ đó những địa danh của thiên hạ, nào là “đường lưỡi bò”, hoặc Arunchal Pradesh… Khẳng định biên cương mới tự cấp bằng khái niệm xong bèn biểu thị sự khẳng định đó bằng bản đồ tự vẽ. Kế đến là tung ra hết tàu hải giám đến tàu ngư chính, lệnh cấm đánh cá… trên biển của thiên hạ, làm như đó là của mình. Sau đó, lùa cả bầy tàu đánh cá ra uy hiếp làm như đó là ao nhà. Gần đây là điều động tàu hải giám ra yểm trợ bầy tàu cá “thiên lôi” kia. Và giờ đây giở chiêu tự cho phép có quyền tàu biên phòng kiểm tra tàu bè các nước trong “đường lưỡi bò” đó. Đây là bước leo thang tột cùng của quá trình “tằm ăn dâu”: dùng tàu quân sự để “thực thi pháp luật” trong vùng biển tự cấp.

Henry Kissinger 40 năm trước đây đã khởi sự cho sự trỗi dậy của Bắc Kinh để đánh đổi lấy sự câu kết đối đầu với Liên Xô vào lúc Bắc Kinh và Moskva như nước với lửa, trong hồi ký On China cuối cùng cũng đã nhận chân được bộ mặt thật của những trò chinoiseries của các “hữu hảo” của mình để rồi cảnh báo rằng: “Cho dù ý định của Trung Quốc là gì đi nữa… Khi ngoại giao không còn hoạt động được nữa, các quan hệ sẽ tập trung ngày càng tăng vào sách lược quân sự. Đầu tiên là chạy đua vũ trang, sau đó là mưu mô giành giật lợi thế chiến lược bất chấp nguy cơ xung đột, và cuối cùng là đi đến chiến tranh”. (On China, tr.515)

Ít nhất cảnh báo muộn màng của Kissinger cũng hữu lý là khi ngoại giao không còn hoạt động được nữa thì… đã đến lúc quên những lời có cánh “hữu hảo”!
 DANH ĐỨC (TUỔI TRẺ ONLINE)

BƯỚC ĐI CUỐI CÙNG THÔN TÍNH BIỂN ĐÔNG NGUY HIỂM CỦA TRUNG QUỐC

Lê Ngọc Thống
Nếu như trò xảo trá in bản đồ có “đường lưỡi bò” vào hộ chiếu của Trung Quốc là một tuyên bố ngang ngược, hiếu chiến, “coi biển Đông bằng ao” của nhà cầm quyền Trung Quốc trước thế giới thì hành động tiếp theo của Trung Quốc mới đây là để thực thi tuyên bố đó.

Hội đồng Nhân dân tỉnh Hải Nam (HĐNDHN) phê chuẩn quy định mới cho cảnh sát, biên phòng trên biển hôm 27.11. Theo đó, cơ quan công an biên phòng Trung Quốc có thể xử lý với các tàu thuyền được coi là “xâm nhập lãnh hải Trung Quốc bất hợp pháp” bằng các biện pháp như “lên tàu, kiểm tra, bắt giữ, trục xuất, ra lệnh dừng tàu, đổi hướng và trở về”. Quy định mới sẽ có hiệu lực kể từ ngày1/1/2013.

Đặc biệt, quy định sửa đổi cũng nhấn mạnh rằng cảnh sát phải tăng cường tuần tra vùng biển xung quanh cái gọi là “thành phố Tam Sa” và phối hợp với các cuộc tuần tra của chính phủ.

Hành động này của HĐND tỉnh HN nói lên điều gì?

Ngô Sĩ Tồn, tổng giám đốc sở Ngoại vụ Hải Nam, kiêm viện trưởng viện Nghiên cứu Nam Hải, một cơ quan tham vấn cho chính quyền Bắc Kinh về Biển Đông, vừa khẳng định lại tính chất địa phương, cục bộ, của quyết định này. (Sau khi bị thế giới lên án, phản đối quyết liệt)

Theo Reuters, ngày 5.12, ông Ngô Sĩ Tồn thừa nhận, quy định mới về chặn xét và bắt giữ tàu ngoại quốc được tỉnh này thông qua vào hạ tuần tháng 11, chỉ là một sáng kiến của cấp tỉnh.

Tuy nhiên, trước đây mấy ngày, phát biểu với đặc phái viên New York Times, Ngô Sĩ Tồn nhắc lại các quy tắc được cơ quan luật pháp Hải Nam thông qua vào tuần trước đó rằng, một phần các quy định, là để đối phó với sự gia tăng của các tàu đánh cá Việt Nam gần quần đảo Hoàng Sa, quần đảo mà ông thừa nhận là cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều đang đòi chủ quyền. Ông Ngô còn cho biết thêm, các quy định này được thảo luận từ một năm nay, nhằm bổ sung vào các quy tắc đã có từ năm 1999.

Nên nhớ là, Hải Nam không phải là địa phương duy nhất thông qua các lệnh càn rỡ liên quan đến việc hành hung ngư dân Việt Nam trên biển. Thời gian gần đây, tỉnh Chiết Giang và tỉnh Hà Bắc cũng đã thông qua các quy định ngang ngược trong cái gọi là “nỗ lực bảo vệ biển đảo” tại những vùng tranh chấp mà Trung Quốc đơn phương tuyên bố chủ quyền.

Phải chăng các địa phương này của Trung Quốc đã “ly khai” hay sao mà một quyết định gây “đại loạn” cho khu vực, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh Trung Quốc mà chính quyền trung ương lặng thinh, làm ngơ? Thậm chí việc in bản đồ có đường lưỡi bò vào hộ chiếu Trung Quốc cũng cho rằng cấp ra quyết định ấy là bộ, ngành…Vậy, Trung Quốc đại loạn hay là “tư tưởng lớn luôn gặp nhau”?

Câu trả lời chính xác: “ly khai” thì các địa phương này không dám mà đó chính là “tư tưởng lớn-bành trướng”, ngạo mạn, coi thường nước nhỏ… trùng khớp nhau giữa trung ương và địa phương. Và, Bắc Kinh đã lợi dụng chủ nghĩa dân tộc cực đoan này để trục lợi.

Như vậy, Hành động ngang ngược này của HĐND tỉnh Hải Nam, thực chất là hành động của nhà cầm quyền Trung Quốc giao cho tỉnh Hải Nam thực thi.

Các quốc gia trên thế giới đều hiểu rằng, bất kỳ một vùng lãnh thổ, lãnh hải nào mà quốc gia nào đó coi là chủ quyền thì vùng lãnh thổ, lãnh hải đó hoàn toàn được quốc gia này áp đặt luật và thực thi pháp luật của họ trên vùng đó cho bất cứ đối tượng nào.

Bởi vậy, nếu như trong vùng lãnh hải, chủ quyền của Trung Quốc thì lực lượng thực thi pháp luật của Trung Quốc có những quy định như vậy là điều có thể, không ai bàn cãi. Nhưng cái khu vực mà “Hội đồng Nhân dân tỉnh Hải Nam phê chuẩn” để cho cảnh sát của tỉnh Hải Nam thực thi chiếm hơn 80% diện tích biển Đông, đó chính là “đường lưỡi bò” phi lý mà Trung Quốc vạch ra đã làm cho thế giới phản đối dữ dội…thì đúng là ngang ngược, coi thường tất cả, là hành động phi pháp.

Thực chất cái gọi “phê chuẩn” của HĐND tỉnh Hải Nam là việc nhà cầm quyền Bắc Kinh triển khai, biến vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) thành “vùng đặc quyền quân sự” (dựa trên luật 1998 về vùng đặc quyền kinh tế mà Trung Quốc ban hành, năm 2002 Trung Quốc tiếp tục ban hành đạo luật cấm các nước khác khảo sát đo đạc trong EEZ) sau khi đã coi 80% diện tích biển Đông là của họ.

Đây là những nấc thang cuối cùng đi đến chiến tranh trong chiến lược thâu tóm biển Đông của Trung Quốc đang tiến hành thực hiện.

Nói là những nấc thang cuối cùng bởi lẽ, Trung Quốc biết rằng khu vực đó bao gồm quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam, ngoài ra còn có chủ quyền của Philipines, Malaisia, Brunay, Indonesia…trên biển Đông, đồng thời là tuyến hàng hải quan trọng của thế giới, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích quốc gia của Mỹ …Do đó, hành động của Trung Quốc mở rộng quyền thực thi cho cảnh sát của họ đã buộc tất cả các quốc gia phải lựa chọn, hoặc là tuân thủ hoặc là chống lại. Tuân thủ có nghĩa là mất chủ quyền, còn nếu chống lại thì xảy ra xung đột, chiến tranh.

Dư luận đặc biệt quan tâm là, Trung Quốc, thông qua tỉnh Hải Nam tuyên bố như vậy có nghĩa là sẵn sàng hành động đối đầu với Mỹ, Nga…trên biển Đông, thách thức tự do an toàn hàng hải mà Mỹ coi là lợi ích quốc gia chăng?

Trước sự kiện này, phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Hồng Lỗi nhấn mạnh, “tất cả các nước đều có quyền tự do hàng hải ở Biển Đông theo đúng tinh thần luật quốc tế”.

Té ra vậy, điều này có nghĩa: Mỹ, Nga…yên tâm, Trung Quốc không làm gì ảnh hưởng đến tàu các vị khi đi qua biển Đông.

Không ai nghi ngờ “thiện chí” này của ông Hồng Lỗi, bởi dẫu có 30 năm nữa Trung Quốc vẫn chưa đủ gan, đủ sức để đối đầu với Mỹ, Nga, Nhật…huống chi bây giờ dám cả gan cho cảnh sát biển (cấp tỉnh) thực thi điều họ tuyên bố mà Mỹ, Nga…coi đó như hành động cướp biển thì họ không những coi “biển Đông như ao” mà còn “coi trời bằng vung”.(Đến đây chúng ta càng hiểu rõ hơn tại sao bản đồ “đường lưỡi bò” trên hộ chiếu Trung Quốc không có Senkaku).

Cuối cùng điều đã rõ, đối tượng mà thuộc sự “điều chỉnh” của quy định này là những nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc và chính sự mập mờ không xác định cụ thể những hành vi thế nào bị coi là “xâm nhập lãnh hải Trung Quốc bất hợp pháp” của ông Hồng Lỗi đã là một sự đe dọa ngầm cho 4 nước có tranh chấp với Trung Quốc mà tâm điểm là Việt Nam và Philippines.

Sách lược tránh đối đầu với Mỹ…lợi dụng thế mạnh về kinh tế, quân sự, hăm dọa, ép các nước nhỏ phải lựa chọn hoặc là đầu hàng hoặc là chiến tranh của Trung Quốc đã khiến tình hình biển Đông càng ngày càng tiến gần đến miệng hố chiến tranh.

Ông ngoại trưởng Philippines tỏ ra bất mãn với Trung Quốc, than phiền, trách cứ, rằng “Trong khi các nước trong khu vực đang cố gắng phấn đấu cho hòa bình thì Trung Quốc lại như thế” (khiêu khích gây chiến)… Đừng vô ích, trứng vịt thì không bao giờ nở ra con gà đâu thưa ngài Bộ trưởng!

Chiến lược thôn tính Biển Đông hình thành từ trong máu, được Trung Quốc thực hiện có bài bản, từ bắt đầu đến kết thúc. Đầu tiên là biến không thành có, biến khu vực không tranh chấp thành khu vực có tranh chấp, tiếp theo là tuyên bố với thế giới khu vực tranh chấp đó là của mình “không chối cãi”, phát hành bản đồ và bước cuối bên miệng hố chiến tranh là áp đặt luật và thực thi luật của họ trên khu vực đó.

Chiến lược này đã tùy theo từng giai đoạn mạnh yếu khác nhau mà Trung Quốc triển khai thực hiện và đến đây được coi như bước cuối cùng. Trung Quốc không còn “bài” gì trên biển Đông nữa, ngoại trừ chiến tranh.

Rõ ràng là, nếu như quốc gia nào cản trở việc thực thi pháp luật của Trung Quốc trên khu vực mà họ tuyên bố chủ quyền thì sẽ xảy ra xung đột. Lúc đó họ dùng “cơ bắp”, nghĩa là chiến tranh. Nếu để Trung Quốc thực thi pháp luật trên đó mà không ai làm gì, chống đối…thì có nghĩa khu vực đó mặc nhiên sẽ là “chủ quyền toàn vẹn, tuyệt đối” của Trung Quốc.

Có thể nói, chủ nghĩa Đại Hán kết hợp với sức mạnh quân sự hiện có đã như một căn bệnh ung thư đã đến lúc phát tác chiến tranh. Trung Quốc đang rất khát khao chiến tranh, rất hý hửng cho chiến tranh.

Tổ chức Hiệp hội ĐNA (ASEAN) đã bị Trung Quốc làm nhục biến thành “thảm họa”.

Dù vậy, nhưng chắc chắn là trước hành động này của Trung Quốc thì các quốc gia “trong khu vực vùng lưỡi bò” lo ngại, buộc phải phản đối và có thể liên minh lại với nhau để chống Trung Quốc. Trung Quốc không muốn điều này xảy ra, cho nên, trong tương lại gần, một số nước như Indonesia, Malaisia…chưa phải là đối tượng để Trung Quốc thực thi (chưa ăn thì còn đó).

Kế sách của Trung Quốc là muốn họ yên tâm, im lặng, làm ngơ, mặc cho hàng xóm phải đơn độc đối phó, để tập trung cô lập, tách Việt Nam, Philippines ra khỏi những mối quan hệ còn lại cho dễ bề trấn áp.

Việt Nam, Philippines…sẽ làm gì khi tàu cá của ngư dân mình và các loại tàu khác mà Trung Quốc coi là “xâm nhập lãnh hải Trung Quốc bất hợp pháp” bị cảnh sát biển tỉnh Hải Nam hành xử như kẻ cướp biển trong vùng chủ quyền của mình bắt đầu từ ngày 01/01/2013?

Với Philippines, Trung Quốc có thể sẽ nhẹ tay hơn trong vấn đề thực thi vì Philipines còn là đồng minh với Mỹ, nhưng với Việt Nam chắc chắn sẽ rất quyết liệt.

Việt Nam muốn hòa bình, nhưng hòa bình phải gắn với độc lập tự chủ. Một nền hòa bình lệ thuộc, không bình đẳng, mất độc lập tự chủ, bị xâm phạm chủ quyền lãnh thổ thì không bao giờ chúng ta chấp nhận.

Khi Việt Nam đã làm tất cả những gì có thể để gìn giữ hòa bình mà nước khác cứ muốn xâm hại lợi ích của đất nước ta thì lúc đó chúng ta không còn con đường nào khác là “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Dân tộc Việt bao đời nay không muốn chiến tranh nhưng chưa lúc nào sợ chiến tranh.



Tác giả gửi cho viet-studies ngày 8-12-12

BƯỚC ĐI CUỐI CÙNG THÔN TÍNH BIỂN ĐÔNG NGUY HIỂM CỦA TRUNG QUỐC

Lê Ngọc Thống
Nếu như trò xảo trá in bản đồ có “đường lưỡi bò” vào hộ chiếu của Trung Quốc là một tuyên bố ngang ngược, hiếu chiến, “coi biển Đông bằng ao” của nhà cầm quyền Trung Quốc trước thế giới thì hành động tiếp theo của Trung Quốc mới đây là để thực thi tuyên bố đó.

Hội đồng Nhân dân tỉnh Hải Nam (HĐNDHN) phê chuẩn quy định mới cho cảnh sát, biên phòng trên biển hôm 27.11. Theo đó, cơ quan công an biên phòng Trung Quốc có thể xử lý với các tàu thuyền được coi là “xâm nhập lãnh hải Trung Quốc bất hợp pháp” bằng các biện pháp như “lên tàu, kiểm tra, bắt giữ, trục xuất, ra lệnh dừng tàu, đổi hướng và trở về”. Quy định mới sẽ có hiệu lực kể từ ngày1/1/2013.

Đặc biệt, quy định sửa đổi cũng nhấn mạnh rằng cảnh sát phải tăng cường tuần tra vùng biển xung quanh cái gọi là “thành phố Tam Sa” và phối hợp với các cuộc tuần tra của chính phủ.

Hành động này của HĐND tỉnh HN nói lên điều gì?

Ngô Sĩ Tồn, tổng giám đốc sở Ngoại vụ Hải Nam, kiêm viện trưởng viện Nghiên cứu Nam Hải, một cơ quan tham vấn cho chính quyền Bắc Kinh về Biển Đông, vừa khẳng định lại tính chất địa phương, cục bộ, của quyết định này. (Sau khi bị thế giới lên án, phản đối quyết liệt)

Theo Reuters, ngày 5.12, ông Ngô Sĩ Tồn thừa nhận, quy định mới về chặn xét và bắt giữ tàu ngoại quốc được tỉnh này thông qua vào hạ tuần tháng 11, chỉ là một sáng kiến của cấp tỉnh.

Tuy nhiên, trước đây mấy ngày, phát biểu với đặc phái viên New York Times, Ngô Sĩ Tồn nhắc lại các quy tắc được cơ quan luật pháp Hải Nam thông qua vào tuần trước đó rằng, một phần các quy định, là để đối phó với sự gia tăng của các tàu đánh cá Việt Nam gần quần đảo Hoàng Sa, quần đảo mà ông thừa nhận là cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều đang đòi chủ quyền. Ông Ngô còn cho biết thêm, các quy định này được thảo luận từ một năm nay, nhằm bổ sung vào các quy tắc đã có từ năm 1999.

Nên nhớ là, Hải Nam không phải là địa phương duy nhất thông qua các lệnh càn rỡ liên quan đến việc hành hung ngư dân Việt Nam trên biển. Thời gian gần đây, tỉnh Chiết Giang và tỉnh Hà Bắc cũng đã thông qua các quy định ngang ngược trong cái gọi là “nỗ lực bảo vệ biển đảo” tại những vùng tranh chấp mà Trung Quốc đơn phương tuyên bố chủ quyền.

Phải chăng các địa phương này của Trung Quốc đã “ly khai” hay sao mà một quyết định gây “đại loạn” cho khu vực, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh Trung Quốc mà chính quyền trung ương lặng thinh, làm ngơ? Thậm chí việc in bản đồ có đường lưỡi bò vào hộ chiếu Trung Quốc cũng cho rằng cấp ra quyết định ấy là bộ, ngành…Vậy, Trung Quốc đại loạn hay là “tư tưởng lớn luôn gặp nhau”?

Câu trả lời chính xác: “ly khai” thì các địa phương này không dám mà đó chính là “tư tưởng lớn-bành trướng”, ngạo mạn, coi thường nước nhỏ… trùng khớp nhau giữa trung ương và địa phương. Và, Bắc Kinh đã lợi dụng chủ nghĩa dân tộc cực đoan này để trục lợi.

Như vậy, Hành động ngang ngược này của HĐND tỉnh Hải Nam, thực chất là hành động của nhà cầm quyền Trung Quốc giao cho tỉnh Hải Nam thực thi.

Các quốc gia trên thế giới đều hiểu rằng, bất kỳ một vùng lãnh thổ, lãnh hải nào mà quốc gia nào đó coi là chủ quyền thì vùng lãnh thổ, lãnh hải đó hoàn toàn được quốc gia này áp đặt luật và thực thi pháp luật của họ trên vùng đó cho bất cứ đối tượng nào.

Bởi vậy, nếu như trong vùng lãnh hải, chủ quyền của Trung Quốc thì lực lượng thực thi pháp luật của Trung Quốc có những quy định như vậy là điều có thể, không ai bàn cãi. Nhưng cái khu vực mà “Hội đồng Nhân dân tỉnh Hải Nam phê chuẩn” để cho cảnh sát của tỉnh Hải Nam thực thi chiếm hơn 80% diện tích biển Đông, đó chính là “đường lưỡi bò” phi lý mà Trung Quốc vạch ra đã làm cho thế giới phản đối dữ dội…thì đúng là ngang ngược, coi thường tất cả, là hành động phi pháp.

Thực chất cái gọi “phê chuẩn” của HĐND tỉnh Hải Nam là việc nhà cầm quyền Bắc Kinh triển khai, biến vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) thành “vùng đặc quyền quân sự” (dựa trên luật 1998 về vùng đặc quyền kinh tế mà Trung Quốc ban hành, năm 2002 Trung Quốc tiếp tục ban hành đạo luật cấm các nước khác khảo sát đo đạc trong EEZ) sau khi đã coi 80% diện tích biển Đông là của họ.

Đây là những nấc thang cuối cùng đi đến chiến tranh trong chiến lược thâu tóm biển Đông của Trung Quốc đang tiến hành thực hiện.

Nói là những nấc thang cuối cùng bởi lẽ, Trung Quốc biết rằng khu vực đó bao gồm quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam, ngoài ra còn có chủ quyền của Philipines, Malaisia, Brunay, Indonesia…trên biển Đông, đồng thời là tuyến hàng hải quan trọng của thế giới, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích quốc gia của Mỹ …Do đó, hành động của Trung Quốc mở rộng quyền thực thi cho cảnh sát của họ đã buộc tất cả các quốc gia phải lựa chọn, hoặc là tuân thủ hoặc là chống lại. Tuân thủ có nghĩa là mất chủ quyền, còn nếu chống lại thì xảy ra xung đột, chiến tranh.

Dư luận đặc biệt quan tâm là, Trung Quốc, thông qua tỉnh Hải Nam tuyên bố như vậy có nghĩa là sẵn sàng hành động đối đầu với Mỹ, Nga…trên biển Đông, thách thức tự do an toàn hàng hải mà Mỹ coi là lợi ích quốc gia chăng?

Trước sự kiện này, phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Hồng Lỗi nhấn mạnh, “tất cả các nước đều có quyền tự do hàng hải ở Biển Đông theo đúng tinh thần luật quốc tế”.

Té ra vậy, điều này có nghĩa: Mỹ, Nga…yên tâm, Trung Quốc không làm gì ảnh hưởng đến tàu các vị khi đi qua biển Đông.

Không ai nghi ngờ “thiện chí” này của ông Hồng Lỗi, bởi dẫu có 30 năm nữa Trung Quốc vẫn chưa đủ gan, đủ sức để đối đầu với Mỹ, Nga, Nhật…huống chi bây giờ dám cả gan cho cảnh sát biển (cấp tỉnh) thực thi điều họ tuyên bố mà Mỹ, Nga…coi đó như hành động cướp biển thì họ không những coi “biển Đông như ao” mà còn “coi trời bằng vung”.(Đến đây chúng ta càng hiểu rõ hơn tại sao bản đồ “đường lưỡi bò” trên hộ chiếu Trung Quốc không có Senkaku).

Cuối cùng điều đã rõ, đối tượng mà thuộc sự “điều chỉnh” của quy định này là những nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc và chính sự mập mờ không xác định cụ thể những hành vi thế nào bị coi là “xâm nhập lãnh hải Trung Quốc bất hợp pháp” của ông Hồng Lỗi đã là một sự đe dọa ngầm cho 4 nước có tranh chấp với Trung Quốc mà tâm điểm là Việt Nam và Philippines.

Sách lược tránh đối đầu với Mỹ…lợi dụng thế mạnh về kinh tế, quân sự, hăm dọa, ép các nước nhỏ phải lựa chọn hoặc là đầu hàng hoặc là chiến tranh của Trung Quốc đã khiến tình hình biển Đông càng ngày càng tiến gần đến miệng hố chiến tranh.

Ông ngoại trưởng Philippines tỏ ra bất mãn với Trung Quốc, than phiền, trách cứ, rằng “Trong khi các nước trong khu vực đang cố gắng phấn đấu cho hòa bình thì Trung Quốc lại như thế” (khiêu khích gây chiến)… Đừng vô ích, trứng vịt thì không bao giờ nở ra con gà đâu thưa ngài Bộ trưởng!

Chiến lược thôn tính Biển Đông hình thành từ trong máu, được Trung Quốc thực hiện có bài bản, từ bắt đầu đến kết thúc. Đầu tiên là biến không thành có, biến khu vực không tranh chấp thành khu vực có tranh chấp, tiếp theo là tuyên bố với thế giới khu vực tranh chấp đó là của mình “không chối cãi”, phát hành bản đồ và bước cuối bên miệng hố chiến tranh là áp đặt luật và thực thi luật của họ trên khu vực đó.

Chiến lược này đã tùy theo từng giai đoạn mạnh yếu khác nhau mà Trung Quốc triển khai thực hiện và đến đây được coi như bước cuối cùng. Trung Quốc không còn “bài” gì trên biển Đông nữa, ngoại trừ chiến tranh.

Rõ ràng là, nếu như quốc gia nào cản trở việc thực thi pháp luật của Trung Quốc trên khu vực mà họ tuyên bố chủ quyền thì sẽ xảy ra xung đột. Lúc đó họ dùng “cơ bắp”, nghĩa là chiến tranh. Nếu để Trung Quốc thực thi pháp luật trên đó mà không ai làm gì, chống đối…thì có nghĩa khu vực đó mặc nhiên sẽ là “chủ quyền toàn vẹn, tuyệt đối” của Trung Quốc.

Có thể nói, chủ nghĩa Đại Hán kết hợp với sức mạnh quân sự hiện có đã như một căn bệnh ung thư đã đến lúc phát tác chiến tranh. Trung Quốc đang rất khát khao chiến tranh, rất hý hửng cho chiến tranh.

Tổ chức Hiệp hội ĐNA (ASEAN) đã bị Trung Quốc làm nhục biến thành “thảm họa”.

Dù vậy, nhưng chắc chắn là trước hành động này của Trung Quốc thì các quốc gia “trong khu vực vùng lưỡi bò” lo ngại, buộc phải phản đối và có thể liên minh lại với nhau để chống Trung Quốc. Trung Quốc không muốn điều này xảy ra, cho nên, trong tương lại gần, một số nước như Indonesia, Malaisia…chưa phải là đối tượng để Trung Quốc thực thi (chưa ăn thì còn đó).

Kế sách của Trung Quốc là muốn họ yên tâm, im lặng, làm ngơ, mặc cho hàng xóm phải đơn độc đối phó, để tập trung cô lập, tách Việt Nam, Philippines ra khỏi những mối quan hệ còn lại cho dễ bề trấn áp.

Việt Nam, Philippines…sẽ làm gì khi tàu cá của ngư dân mình và các loại tàu khác mà Trung Quốc coi là “xâm nhập lãnh hải Trung Quốc bất hợp pháp” bị cảnh sát biển tỉnh Hải Nam hành xử như kẻ cướp biển trong vùng chủ quyền của mình bắt đầu từ ngày 01/01/2013?

Với Philippines, Trung Quốc có thể sẽ nhẹ tay hơn trong vấn đề thực thi vì Philipines còn là đồng minh với Mỹ, nhưng với Việt Nam chắc chắn sẽ rất quyết liệt.

Việt Nam muốn hòa bình, nhưng hòa bình phải gắn với độc lập tự chủ. Một nền hòa bình lệ thuộc, không bình đẳng, mất độc lập tự chủ, bị xâm phạm chủ quyền lãnh thổ thì không bao giờ chúng ta chấp nhận.

Khi Việt Nam đã làm tất cả những gì có thể để gìn giữ hòa bình mà nước khác cứ muốn xâm hại lợi ích của đất nước ta thì lúc đó chúng ta không còn con đường nào khác là “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Dân tộc Việt bao đời nay không muốn chiến tranh nhưng chưa lúc nào sợ chiến tranh.



Tác giả gửi cho viet-studies ngày 8-12-12

SỰ NGẠO NGƯỢC CỦA BẮC KINH

Ngư Chính 311 từng yểm trợ tàu cá Trung Quốc
 phá cáp tàu Viking 2 trên biển Đông hồi năm ngoái – Ảnh: China Daily
Quấy rối, làm càn nhưng lại lớn tiếng tố cáo nạn nhân là cách ứng xử của Trung Quốc, nước tự hào đang “trỗi dậy hòa bình”.

Chiều 6.12, Tân Hoa xã dẫn lời người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc (TQ) Hồng Lỗi ngang ngược tuyên bố: “Việt Nam (VN) nên dừng việc đơn phương phát triển dầu và khí đốt ở khu vực chồng chéo giữa hai nước trên biển Đông”. Ông Hồng còn vu cáo: “VN nên dừng quấy rối các tàu cá TQ để tạo ra bầu không khí đàm phán thiện chí”. Phát biểu trên của ông được đưa ra sau khi người phát ngôn Bộ Ngoại giao VN Lương Thanh Nghị ngày 4.12 cho hay VN vừa gửi công hàm phản đối việc TQ gần đây liên tục có những hành động sai trái, xâm phạm chủ quyền VN.

Bóp méo sự thật

Chẳng hề quá lời khi khẳng định tất cả các tuyên bố vừa nêu của ông Hồng Lỗi là hoàn toàn bóp méo sự thật. Không bóp méo sự thật sao được vì chính 2 tàu cá TQ là thủ phạm phá cáp tàu Bình Minh 02 của VN đang thăm dò địa chấn bình thường trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa VN. Vụ việc xảy ra tại tọa độ 17o26,2’ vĩ tuyến bắc, 108o02’ kinh đông, thuộc vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa VN, chỉ cách đảo Cồn Cỏ (VN) khoảng 43 hải lý. Vị trí này cách 20 hải lý về phía tây so với đường trung tuyến VN – TQ. Như vậy, không hề có chuyện tàu Bình Minh 02 hoạt động tại “khu vực chồng chéo” như ông Hồng Lỗi tuyên bố. Ngược lại, tàu cá TQ xuất hiện tại khu vực này là phi pháp. Hồi năm ngoái, tàu công vụ và tàu cá TQ cũng từng có những hành động phá hoại tương tự đối với tàu Bình Minh 02 và tàu Viking 02 trên biển Đông.

Về việc thăm dò dầu khí, người phát ngôn Bộ Ngoại giao VN Lương Thanh Nghị hồi tháng 4 cũng đã khẳng định các dự án hợp tác giữa VN với đối tác nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí hiện nay đều nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN hoàn toàn thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của VN, phù hợp luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS).

Vì thế, tuyên bố trên của ông Hồng chẳng khác nào “vừa ăn cướp vừa la làng”. Thói quen xấu này của Bắc Kinh trên biển Đông là điều mà báo chí TQ từng thừa nhận. Hồi tháng 3, chuyên trang quân sự thuộc tờ Hoàn Cầu thời báo của Đảng Cộng sản TQ đăng bài nêu rõ những hành động gây rối của nước này trên biển Đông. Trong phần kết luận, bài viết khẳng định: “Bắc Kinh ngày càng thích gây rắc rối trên Nam Hải (tức biển Đông – NV). Không chỉ cố đạt được lợi ích mà TQ còn “tát” vào các nước láng giềng rồi quay sang cho rằng họ tự đập mặt vào tay Bắc Kinh”.

Thế giới phẫn nộ

Những hành động càn quấy của TQ trên biển Đông không chỉ khiến VN mà nhiều nước lẫn giới chuyên gia quốc tế phải lên tiếng phản đối. Ngày 13.6 năm ngoái, 2 thượng nghị sĩ Mỹ Jim Webb và James Inhofe trình dự thảo nghị quyết lên thượng viện để lên án việc TQ liên tục dùng vũ lực tại biển Đông. Dự thảo nghị quyết còn kêu gọi hướng đến giải pháp đa phương, hòa bình để xử lý các tranh chấp trên biển Đông. Mới đây, trả lời Thanh Niên về việc TQ tự trao quyền cho phép cảnh sát biển kiểm tra tàu bè tại khu vực Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền, TS James Holmes (Trường Chiến tranh Hải quân Mỹ) khẳng định: “TQ đang tạo ra một tiền lệ nguy hiểm”. Chuyên gia Swee Lean Collin Koh, thuộc Trường Nghiên cứu quốc tế S.Rajaratnam (RSIS) ở Singapore, thì phát biểu rằng động thái trên của TQ là “nguy hiểm”. Đồng thời, ông khẳng định: “Đến nay, VN luôn cư xử hòa bình tuân theo luật pháp quốc tế”. Tương tự, Phó đô đốc (nghỉ hưu) Hideaki Kaneda, Giám đốc Viện Okazaki của Nhật Bản, vừa trình bày tham luận trước cộng đồng chuyên gia quốc tế để chỉ ra rằng Bắc Kinh là nguy cơ gây bất ổn, đe dọa an ninh hàng hải trên biển Đông.

Thực sự, TQ đang ngày càng hiếu chiến và liên tục gây rối khiến cộng đồng quốc tế lên tiếng. Thế nhưng, Tân Hoa xã ngày 6.12 dẫn lời Tổng bí thư Đảng Cộng sản TQ Tập Cận Bình vẫn khẳng định: “TQ sẽ không bao giờ chạy theo bá quyền và bành trướng”. Tuyên bố này dường như không giống như những gì Bắc Kinh đang hành động.

Trong một diễn biến khác, AFP dẫn lời phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Philippines Raul Hernandez ngày 7.12 cho biết hội nghị 4 bên, gồm nước này, Malaysia, Brunei và VN về vấn đề biển Đông sẽ bị tạm hoãn. Ban đầu, hội nghị dự kiến diễn ra vào ngày 12.12 tại Manila. Tuy nhiên, ông khẳng định các bên vẫn đang làm việc chặt chẽ cùng nhau.

Ngô Minh Trí