TƯỚNG PHÁP DANIEL SCHAEFFER NÓI VỀ CHIẾN LƯỢC BIỂN ĐÔNG CỦA BẮC KINH

LâmTrực@

Nhân cuộc hội thảo về Biển Đông do Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp IRIS phối hợp với Quỹ Gabriel Péri đồng tổ chức ngày 16/10/2012, Tướng Daniel Schaeffer, một chuyên gia Pháp đã phân tích mưu đồ của Trung Quốc, đang tìm cách “lãnh địa hóa” – sanctuariser – hay độc chiếm Biển Đông. Trả lời RFI, Tướng Schaeffer cho rằng Việt Nam cần phải quốc tế hóa mạnh mẽ hơn hồ sơ này để đối phó với chiến lược của Trung Quốc.
Ngày 16/10/2012, một cuộc hội thảo khoa học về tình hình Biển Đông đã mở ra tại Paris với chủ đề “Biển Đông phải chăng là một không gian khủng hoảng mới ? – Mer de Chine méridionale : nouvel espace de crise ?”. Do Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp IRIS phối hợp với Quỹ Gabriel Péri đồng tổ chức, cuộc hội thảo đã tập hợp được nhiều chuyên gia tên tuổi ở Pháp và châu Âu, cũng nhu thu hút đông đảo những người quan tâm đến dự thính và thảo luận.

Các bài thuyết trình rất đa dạng, đề cập đến các vấn đề pháp lý, chính trị, ngoại giao, kinh tế và đặc biệt là quân sự, liên quan đến tình hình căng thẳng hiện nay do tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và các láng giềng, đặc biệt là Việt Nam. Trong số các diễn giả, có ông Daniel Schaeffer, một viên tướng người Pháp đã về hưu, từng là tùy viên quân sự tại sứ quán Pháp ở Việt Nam, Thái Lan và Trung Quốc, hiện là chuyên gia nghiên cứu độc lập về Biển Đông và châu Á. Bài thuyết trình của tướng Schaeffer đã nêu bật một chiến lược mà theo ông, Trung Quốc đang áp dụng để gọi là sanctuariser, tạm dịch là lãnh địa hóa Biển Đông, tức là độc chiếm khu vực này bất chấp chủ quyền của các nước khác.

Sau buổi hội thảo, tướng Schaeffer đã đồng ý dành cho RFI một bài phỏng vấn để giải thích rõ hơn về ý muốn chiến lược của Trung Quốc, đã bộc lộ rõ ràng qua việc chính thức tung ra tấm bản đồ 9 đường gián đoạn – bị gọi là đường lưỡi bò – khoanh vùng lãnh thổ của họ hầu như chiếm trọn vùng Biển Đông, để rồi buộc các nước khác chấp nhận, cho dù đòi hỏi của Trung Quốc bị cho là phi lý.

Trước hết, tướng Schaeffer xác định là chính qua việc quan sát các động thái hoàn toàn không có cơ sở pháp lý của Bắc Kinh liên quan đến các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và thực thể mà họ gọi là quần đảo Trung Sa mà ông cho rằng Trung Quốc muốn lãnh địa hóa toàn bộ Biển Đông.

Tôi đã bảo vệ quan điểm này từ hơn một năm nay, ngay từ năm ngoái, nhân Hội nghị Quốc tế về Biển Đông lần thứ III do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia Việt Nam tổ chức ở Hà Nội. Tôi đã có quan điểm này sau khi quan sát cách thức Trung Quốc biện minh cho đường 9 đoạn tại Biển Đông, tức là đường trung tuyến giữa phần mà họ cho là lãnh thổ của họ và phần thuộc chủ quyền các nước khác.


Khi xem xét hoạt động của ngành ngoại giao Trung Quốc, và nhất là các hoạt động trong lãnh vực pháp lý liên quan đến vấn đề quyền trên biển, ta thấy rằng Trung Quốc đã vạch ra chung quanh quần đảo Hoàng Sa những đường cơ sở thẳng, cứ như là đây là một quốc gia quần đảo.

Nhưng dựa vào luật biển, thì điều đó hoàn toàn không có bất kỳ một cơ sở pháp lý nào được chấp nhận trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển… Đó là điểm thứ nhất.

Điểm thứ nhì liên quan đến Trường Sa.

Khi Trung Quốc phản ứng vào năm ngoái trước công hàm của Philippines gởi đến Liên Hiệp Quốc đề phản đối các đòi hỏi của Trung Quốc liên quan đến đường 9 đoạn, Bắc Kinh đã cho hiểu rõ ý định vạch ra những đường cơ sở thẳng tương tự chung quanh Trường Sa. Tại vì trong công hàm đưa ra để phản bác các đề nghị của Philippines, Trung Quốc cho biết là đối với họ, quần đảo Trường Sa có quyền có lãnh hải, có vùng tiếp giáp và vùng đặc quyền kinh tế.

Cho nên, khi ta tính đến các lập luận đó, cũng như lập luận về một số bãi đá như James Shoal, hay một mỏm đá khác nằm phía Nam quần đảo Trường Sa – không thuộc quần đảo này nhưng lại ở bên trong đường 9 đoạn – và khi ta nhìn những sự cố liên quan đến bãi Scarborough, thì tất cả những yếu tố đó đều nhằm mục tiêu « vật thể hóa », tức là cụ thể hóa các đòi hỏi căn cứ theo đường 9 đoạn đó

Thêm vào đó, vào hạ tuần tháng Sáu vừa qua (23/06/2012), tập đoàn Dầu khí Hải dương Trung Quốc CNOOC đã kêu gọi các tập đoàn quốc tế đấu thầu để cùng với họ thăm dò, khai thác 9 lô nằm ở ngoài khơi Việt Nam, trong vùng đặc quyền kinh tế kinh tế của Việt Nam, nhưng lại thuộc một vùng lãnh thổ mà Trung Quốc cho là của họ. Đây là một điều đáng sửng sốt vì 9 lô đó nằm ở ngoài khơi ngang tầm với Đà Nẵng.

Theo tướng Schaeffer, việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên cái mà họ gọi là « Trung Sa Quần đảo » còn phi lý hơn nữa.

Thêm vào đó, nếu đi ngược lên phiá Bắc, ta thấy cái mà Trung Quốc gọi là Trung Sa Quần đảo mà quốc tế quen gọi là bãi Macclesfield. Đây là một bãi ngầm, không bao giờ nổi lên trên mặt nước kể cả khí thủy triều thấp. Dó đó, trong mọi trường hợp, bãi này không có quyền có lãnh hải, và lại càng không có quyền hưởng khu đặc quyền kinh tế. Trung Quốc cũng có đòi hỏi tương tự đối với một bãi ngầm khác là Truro Shoal.

Do việc bãi Truro, cũng như bãi Macclesfield, đều không thể có được một vùng đặc quyền kinh tế hay lãnh hải, cho nên Trung Quốc đã gộp hai thực thể này với bãi ngầm Scarborough nằm về phía Philippines, và gọi tập hợp đó là « quần đảo Trung Sa, một loại quần đảo hoàn toàn tưởng tượng không hơn không kém.

Chung quanh đó hiện giờ họ chưa vẽ đường cơ sở thẳng nào, cũng chưa nói đến khả năng đó, nhưng ta có thể suy đoán về việc đó dựa vào những gì xẩy ra trước đây. Giữa quần đảo Hoàng Sa và cái gọi là Trung Sa rất có thể có một sự liên tục về mặt pháp lý, điều đó sẽ cho phép Trung Quốc vạch một đường cấm bược tàu chiến đi qua khu vực phải dừng lại.

Dù sao đi nữa, Trung Quốc hiện đang áp dụng ở vùng đặc khu kinh tế của họ những quy định dùng cho vùng lãnh hải trên vấn đề quyền qua lại một cách vô hại của tàu chiến, có nghĩa là tức là mỗi khi đi qua vùng lãnh hải của Trung Quốc, tàu chiến các nước khác phải xin phép. Phải nói thêm là không chỉ có Trung Quốc, mà Việt Nam, Indonesia cũng áp dụng quy tắc như vậy.

Vấn đề là Trung Quốc lại muốn áp dụng quy tắc kể trên cho vùng biển bên trong đường 9 đoạn được họ coi là vùng đặc quyền kinh tế. Điều đó có nghĩa là khi muốn thì Trung Quốc có thể cấm tất cả các tàu chiến nước ngoài vượt qua đường lưỡi bò đó.

Cho đến nay, các nhà quan sát đã nói rất nhiều về mục tiêu kinh tế của Trung Quốc trong việc tìm cách độc chiếm Biển Đông, tức là để chiếm đoạt nguồn dầu khí được cho là dồi dào trong khu vực. Tuy nhiên, như tướng Schaeffer đã phân tích ở trên, vấn đề quân sự là một nhân tố tối quan trọng. Và việc lãnh địa hóa Biển Đông sẽ cho phép Bắc Kinh triển khai hạm đội tàu ngầm của họ một cách an toàn hơn, dự phòng khi phải tấn công vào Mỹ. Ông giải thích :

Khi nhìn trên bản đồ, ta thấy ở Tam Á (phía Nam đảo Hải Nam) có căn cứ hải quân nơi Trung Quốc đặt các tàu ngầm phóng tên lửa của họ

Giữa căn cứ Tam Á này và vùng sâu đầu tiên ở Biển Đông, nơi mà các tàu ngầm nguyên tử Trung Quốc có thể tuần tra một cách yên ổn, là một khoảng cách dài 430 cây số. Bất kỳ một phi cơ trinh sát nào cũng có thể phát hiện ra tầu ngầm Trung Quốc khi các con tàu này rời cảng và đến nơi tuần tra hay đi xa hơn nữa, ra Thái Binh Dương, lúc các con tàu này đi qua eo biển giữa đảo Luzon của Philippines và vùng phía Nam Đài Loan.

Hơn nữa tàu ngầm loại Tấn (Jin), tức là tàu nguyên tứ phóng tên lửa thế hệ hai hiện nay của Trung Quốc lại rất ồn, do đó rất dễ phát hiện. Cho nên cũng dễ hiểu lý do tại sao Trung Quốc muốn biến cả vùng này thành một lãnh địa của riêng họ.

Ngoài ra, dù muốn hay không, dù có nêu rõ hay không, mục tiêu của Trung Quốc không phải tấn công Mỹ mà là tự bảo vệ mình trước Mỹ, mà muốn tự bảo vệ đối với Mỹ, thì phải làm sao để có thể đưa tàu ngầm của họ đến được nơi mà mục tiêu Mỹ nằm trong tầm bắn của tên lửa phóng đi từ tầu ngầm của họ. Hiện nay, hoả tiễn Cự Lãng (Julang) của Trung Quốc chỉ có tấm bắn 8000 cây số, chưa có khả năng bắn đến Mỹ từ Biển Đông…

Nhìn chung, đó là lý do vì sao Trung Quốc muốn lãnh địa hóa vùng Biển Đông, Trung Quốc cũng không thể chuyển dịch căn cứ tàu ngầm lên phía Bắc, vì Biển Hoa Đông có một thềm lục địa chạy dài đến tận hố Okinawa, không xa bờ biển Nhật Bản lắm, do dó tầu ngầm Trung Quốc khó có thể che giấu hành tung.

Tóm lại nơi kín đáo nhất, hay ít lộ liễu nhất, đối với tàu ngầm Trung Quốc chính là ở phiá Nam, nơi mà họ đang đặt căn cứ Tam Á.

Đấy là tất cả những lý do khiến tôi cho là Trung Quốc muốn lãnh địa hóa, tức là độc chiếm vùng Biển Đông.

Theo tướng Schaeffer, ông không phải là chuyên gia duy nhất nghĩ rằng Trung Quốc muốn lãnh địa hóa vùng Biển Đông. Hiện nay có nhà phân tích đã so sánh chiến lược Trung Quốc đang thực hiện ở Biển Đông với chủ trương Liên Xô trước đây, thiết lập “tiền đồn” tại vùng biển Okhostsk và Barents; người khác thì nói là Trung Quốc đang thực hiện học thuyết Monroe theo kiểu Trung Quốc.

Câu hỏi đặt ra là Việt Nam phải làm gì trước chiến lược đó của Trung Quốc, nhất là khi Việt Nam đang ở trên tuyến đầu. Theo tướng Schaeffer, trong lãnh vực chống lại đường lưỡi bò của Trung Quốc, Việt Nam không lẻ loi, và cần phải vận động, từ khối ASEAN cho đến các nước khác

“Theo tôi thì trước tiên hết Việt Nam không đơn độc. Giờ này thì cả Việt Nam lẫn Philippines đang ở trên tuyến đầu, sắp tới đây tôi cho rằng sẽ đến lượt Indonesia và Malaysia. Vấn đề theo tôi trước hết là giữa các nước trong Hiệp hội Đông Nam Á cần phải có một sự đoàn kết, phải thu hút sự chú ý của quốc tế trên thực tế là các đòi hỏi của Trung Quốc hoàn toàn không phù hợp chút nào với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

Cần phải thu hút sự chú ý không chỉ của Hoa Kỳ – nhưng Hoa Kỳ dư biết chuyện này rồi – mà cả của các nước khác trong vùng như Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga, Liên Hiệp Châu Âu, thậm chí cả các nước châu Mỹ La tinh nữa vì lẽ Biển Đông là một vùng có rất nhiều tuyến hàng hải cực kỳ quan trọng đi qua, và nếu bị Trung Quốc ngăn chặn thì rất phiền.

Dĩ nhiên là Trung Quốc lúc nào cũng thề thốt là họ sẽ không bao giờ ngăn cấm lưu thông hàng hải vân…vân, nhưng mà khi một nước nào có quyền thống trị trên một khu vực, thì ngay cả khi có những lời hứa ngon ngọt, một ngày nào đó mà họ không thích nữa thì họ hoàn toàn có thể cấm tàu bè nước khác qua lại.

Bản thân tôi, tôi không bao giờ tin tưởng vào các cam kết đó của Trung Quốc, cho dù suy cho cùng họ không có lợi lộc gì về mặt kinh tế khi cấm lưu thông hàng hải trên Biển Đông, nhưng điều đó không cấm cản ta đưa ra những giả thuyết, và trong một số trường hợp, giả thuyết về tình huống tệ hại nhất…

Tóm lại, cộng đồng quốc tế cần được hiểu là một ngày nào đó, nếu xảy ra sự cố trong vùng đó, thì không chỉ các nước trong vùng gặp vấn đề, mà tất cả các nước có giao thương với khu vực sẽ bị khó khăn.

Do đó cần phải thuyết phục Trung Quốc cho bằng được là họ phải chấp nhận thương thảo vấn đề chủ quyền trên Biển Đông trên cơ sở Luật biển quốc tế. Nếu cần thì phải đưa ra trước Tòa án Công lý Quốc tế, cho dù phải mất rất nhiều thời gian để chuẩn bị thủ tục hồ sơ – một số người đã nêu ra vấn đề này, nhưng theo tôi thì tranh chấp Biển Đông đã kéo dài cả 60 năm nay rồi, cho nên năm, mười năm chẳng thấm vào đâu…

Theo tướng Schaeffer, Việt Nam phải tiếp tục nỗ lực quốc tế hóa vấn đề. Cho đến nay, Bắc Kinh luôn chống lại điều này vì biết rõ rằng mình bị đuối lý trong lãnh vực pháp lý. Trong những ngày qua, học giả Trung Quốc và Đài Loan loan báo ý định hợp lực với nhau để nghiên cứu cơ sở pháp lý của tấm bản đồ lưỡi bò. Trả lời câu hỏi của RFI về điểm này, tướng Schaeffer không hề ngạc nhiên vì theo ông, trên hồ sơ Biển Đông, Trung Quốc và Đài Loan cùng chung một chiến tuyến :

Rõ ràng là khi bị tấn công trên vấn đề pháp lý của đường 9 đoạn thì họ phải tìm mọi cách để biện minh. Ở đây tôi rất tâm đắc với câu hỏi của ông vì cho đến nay, khi nói đến tranh chấp Biển Đông, báo chí quốc tế thường liệt kê Đài Loan và các nước Đông Nam Á trong phe những nước chống lại đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc.

Thế nhưng, trong trường hợp Biển Đông, Đài Loan hoàn toàn không đứng về phía các nước Đông Nam Á mà là về phía Trung Quốc, Do đó, trong vấn đề này, phải nói rõ là Đài Loan và Trung Quốc cùng đứng chung chiến tuyến trong cuộc chiến bảo vệ đường 9 điểm !

AI CHÉM CỤT ĐẦU LIỄU THĂNG?

Liễu Thăng, một danh tướng lừng lẫy của nhà Minh (Trung Quốc) kiêu dũng và dày dạn kinh nghiệm chính trường đã thảm bại trước nghĩa quân của Bình Định Vương – Lê Lợi. Bản thân Liễu Thăng bị chém rơi đầu, quân Liễu Thăng “mười phần chết chín”. Vậy ai là người chém đầu danh tướng Liễu Thăng? 


Liễu Thăng tất chết

Trong nhiều tư liệu lịch sử có ghi: sau thất bại trong trận Tốt Động – Chúc Động (5 – 7/11/1426), Vương Thông (Wang Tong) vờ xin giảng hoà để chờ viện binh chính quốc. Tháng 10/1427, viện binh từ Trung Quốc chia làm hai đạo tiến sang; đạo quân Liễu Thăng (khoảng 100 nghìn) từ Quảng Tây qua Lạng Sơn vào Đông Quan; đạo quân Mộc Thạnh (Mu Sheng) (khoảng 50 nghìn) từ Vân Nam (Yunnan) định qua Lào Cai tiến về Đông Quan. 

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, lúc này Bình Định Vương Lê Lợi và mưu thần Nguyễn Trãi đã tiên đoán viện binh quân Minh sẽ có những đường tiến quân theo các ngả cứu viện nhằm đánh thẳng vào chủ lực quân đa đang đóng tại Xương Giang, Chi Lăng. Do vậy các mũi “điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong” quân cứu viện nhà Minh đã được Bình Định Vương Lê Lợi sớm sắp đặt. Vẫn theo Đại Việt sử ký toàn thư: “Ngày 8/10, đạo quân Liễu Thăng (Liu Sheng) vượt biên giới vào Lạng Sơn; nghĩa quân Lam Sơn vừa đánh vừa rút, nhử đối phương vào trận địa mai phục ở Chi Lăng”. 


Sơ đồ trận Chi Lăng – Xương Giang.

Nguyễn Trãi …chỉ cho tướng Trần Lựu thi hành kế hoạch dụ Liễu Thăng ở Ải Chi Lăng , đánh chỉ được thua , riêng về phía chủ lực thì đã có Lê Sát , Lưu Nhân Chú, Lê Linh , Lê Thụ đương đầu , song song với các tướng Phạm văn Xảo , Lê Khả , Lê Trung …tiếp ứng và chận các lộ quân tiếp viện từ Vương Thông , Mộc Thạnh .

Trần Lựu là tướng cẩn trọng , đang giữ ải Nam Quan ( Phá Lũy ), theo mệnh lệnh bỏ ải rút dần theo đà tiến của quân địch, về Ai Lưu rồi về Chi Lăng .Tới đây thói kiêu mạn của Liễu Thăng đã tràn trề , mặc cho Lý Khánh khuyên can , kệ cho Hoàng Phúc cầu xin dẫn 100 quân kỵ vượt qua cầu , cầu đỗ , người ngựa quân Minh đều rơi cả xuống sông.
Quân dân Đại Việt trong đại thắng Chi Lăng.

Trước khi đánh trận Chi Lăng,Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã tính toán kỹ về địa đồ. Ải Chi Lăng như một thung lũng nhỏ, hình bầu dục , dài khoãng 4 cây số theo hướng Bắc Nam , rộng chỉ độ 1 cây số theohướng đông tây . Phía đông là dãy núi Thái Hoà và Bảo Đài trùng trùng điệp điệp , phía tây là vách núi đá vôi dựng đứng bên dòng sông Thương . Lòng ải đã hẹp lại thêm 5 ngọn núi đá nhỏ , hai phía Bắc Nam mạch núi khép lại tạo thành một điạ hình hết sức là hiễm trở , và phía Nam ải Chi Lăng là ngọn núi Mã Yên, dưới chân núi là cánh đồng lầy lội có cầu bắc ngang qua. Chính nơi này là nơi Liễu Thăng ngã ngựa , bị nghĩa quân bằm xác chết không còn một chút hình hài của một vị chiến tướng của vua Minh .Đoàn phục binh của Lê Sát cùng với Trần Lựu quay lại , thanh toán toàn bộ nhóm Liễu Thăng. Tuy nhiên, người chém đầu Liễu Thăng không có chính sử nào chép cả mà chỉ còn một thần phả ghi lại sự việc trên. 

Tam vị anh hùng

Người dân ở xã An Trạch, huyện Trực Định tổng Thuỵ Lũng tức xã An Bình huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình từ lâu đã biết đến tên tuổi những vị lập nên công trạng đó và hàng năm cứ đến tháng Hai đầu Xuân âm lịch, dân làng lại làm lễ tế tưởng nhớ đến các vị công thần ấy. Hiện bản thần phả này còn lưu giữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Thần tích còn ghi rõ thần tích này theo ý chỉ của đức vua đề ngày 15 tháng 3 năm Vĩnh Hựu thứ 5 (1739), đến nay đã ngót 260 năm.

Thần tích viết rằng: “Vào thời mà Lê Lợi đang tích dưỡng binh lương, chiêu dụ khắp nơi để tìm kiếm anh hùng hào kiệt cho cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược thì được biết tại xã Hương Trà, tổng Nhân Trà, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc, có người họ Bạch huý là Bảo Công, văn vũ song toàn, tài năng nổi tiếng thiên hạ. Lê Lợi bèn cấp cho “ba vạn tinh binh lập tức thẳng tiến đến xã An Cố, huyện Chân Lợi, phủ Kiến Xương, dựng đồn lớn tại trại An Trạch (còn gọi là doanh trại Đồng Làng) để đánh giặc”. 
Ải Chi Lăng: Tích xưa còn đó, đời này ai quên. Ảnh: ĐT

Tại đó có một phú ông họ Nguyễn huý là Liên Hoa có người con gái xinh đẹp vừa tròn đôi mươi tên là Lan Nương. Bảo Công xin hỏi làm vợ, rồi nàng sinh hạ một lúc ba người con trai. Cuộc hôn nhân và sinh nở 3 quý tử này tuy có khá nhiều tình tiết có vẻ hoang đường nhưng được xác định rõ tên tuổi và sau này được vua Lê phong tước rất rõ ràng:

Người thứ nhất là Thanh, mỹ tự là Thanh Kiền sau được vua phong làm Hiệp thống Thanh Kiền đại thần quan. Người thứ hai huý là Bạch, mỹ tự là Bạch Thuộc, sau được phong là Bạch Thuộc Chánh lãnh tiền phong đại tướng quân. Người thứ ba huý là Tống, sau được phong là Thống Thánh đốc lĩnh. Cả 3 ông này khôn nhớn “thân dài 7 thước, nặng đến trăm cân”… được Vua quý phong tước rồi cấp “một nghìn thuyền rồng và 50 vị tướng giỏi để đi đánh giặc”.

Ba ông cùng binh mã cùng “xông thẳng đánh giặc, gặp tướng Liễu Thăng tại đất Tiên Hoa, huyện Đông An, phủ Khoái Châu. Quân giặc bốn phía bao vây khắp nơi. Ba ông ngồi trên ngựa vung kiếm xông thẳng vào giữa đồn giặc chém đầu tên phó tướng Nguyễn Đình Khoan, treo đầu ngay dưới trướng, còn quân giặc chết nhiều không kể xiết. Ba ông thừa thắng đuổi theo giặc Minh, đuổi đến thành Lạng Sơn thì chém được tướng Liễu Thăng thành 3 mảnh. Quân tướng trong thế chiến thắng trở về uy nghiêm chấn động khắp nơị..”

Với chiến công ấy, Lê Thái Tổ đã: “Gia phong cho ông Thanh Kiền làm Đại nguyên soái đại tướng quân. Thăng cho trấn giữ đạo Tuyên Quang, Hưng Hoá. Phong cho ông Bạch Thuộc làm quan đại thần trấn thủ đất Sơn Nam. Gia phong cho ông Tống Khánh làm quan đại thần kinh lược đạo Kinh Bắc…”

Ba ông còn được nhà vua cho hưởng lộc tại quê hương, và ngụ lộc tại An Trạch, Chân Định, khi mất sẽ được phụng thờ. Ba ông còn cho dân làng tiền bạc để sửa ngôi miếu xứ Đông Làng… Ba ông cùng mất vào giờ ngọ ngày 12 tháng chạp năm Tân Hợi. Thần phả còn ghi rõ ba vị đại vương sau này được nhà vua phong làm “thượng đẳng phúc thần” kèm theo những quy định cụ thể trong việc tổ chức tế lễ những dịp trong năm… Nhân dân vùng Kiến Thụy thường gọi họ là “tam vị anh hùng”.
Đình Tú

LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA NGÀY PHỤ NỮ VIỆT NAM

Khi đao phủ bắt cô quỳ xuống, người con gái ấy quát lại bọn chúng một câu đã đi vào huyền thoại: “Tao chỉ biết đứng, không biết quỳ!”.


Nhắc đến ngày Phụ nữ Việt Nam, ai cũng biết là ngày 20-10, và nhắc đến ngày 20-10, ai cũng biết đó là ngày cả nước tôn vinh phái đẹp ở Việt Nam. Nhưng nhiều người lại không biết vì sao lại có một ngày mang ý nghĩa rất đẹp này.

Người phụ nữ Việt Nam rất đặc biệt. Họ cần cù, nhưng thông minh, sáng tạo. Họ hiền lành, nhẫn nại, nhưng kiên cường, bất khuất.

Thế giới cũng hiếm có những nữ tướng như Trưng Trắc, Trưng Nhị, Bà Triệu, chỉ huy vạn quân, cưỡi voi đánh giặc, khiến quân thù bạt vía.

Thời kỳ chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, không kể xiết những tấm gương phụ nữ dũng cảm, kiên trung.

Nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Võ Thị Sáu, dù chưa đủ 18 tuổi, nhưng đã dám quăng lựu đạn giết chết và làm bị thương 20 tên giặc. Không khai thác được gì từ người con gái ấy, giặc Pháp đã tử hình cô. Khi đao phủ bắt cô quỳ xuống, người con gái ấy quát lại bọn chúng một câu đã đi vào huyền thoại: “Tao chỉ biết đứng, không biết quỳ!”.

Rồi Nguyễn Thị Minh Khai, sau những ngón đòn tra tấn tàn bạo, bà đã lấy máu mình viết lên cánh cửa phòng giam: “Dù đánh, dù treo, càng cương quyết/ Dù kềm, dù kẹp, chẳng sai lời/ Hy sinh phấn đấu vì nhiệm vụ/ Triệt để thực hành chết mới thôi”.

Những chiến sĩ cách mạng bình thường của nước Việt cũng kiên trung, gan dạ hơn bất kỳ dân tộc nào trên thế giới. Nữ du kích Trần Thị Khang, em gái nguyên Phó thủ tướng Trần Phương, khi bị giặc Pháp bắt, đã không khuất phục trước những trận đòn thù của chúng.

Nữ sinh là hoa khôi của trường làng vẫn cười vào mặt bọn xâm lược khi chúng nhẩn nha dùng kìm rút từng móng tay cô. Quá tức giận người nữ du kích kiên trung, mà bọn giặc bẩn thỉu đã dùng khúc gỗ nhọn chọc xuyên thủng cơ thể cô, treo lên cây và đánh đấm cho đến chết.

Dưới chế độ nửa thuộc địa, nửa phong kiến, tầng lớp phụ nữ Việt bị áp bức, bóc lột, chịu nhiều bất công nhất. Khát vọng giải phóng dân tộc cũng vì thế mà sôi sục trong tâm trí phụ nữ.

Những ngày đầu chống Pháp, rất nhiều phụ nữ đã tham gia vào các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam như Nguyễn Thị Minh Khai, Thái Thị Bôi, Tôn Thị Quế…

Các tổ chức như Công hội đỏ, Nông hội đỏ thu hút rất nhiều chị em phụ nữ tham gia. Tổ chức Thanh niên Cách mạng đồng chí hội cũng có nhiều chị em là cán bộ cốt cán.

Thực ra, ngay từ năm 1927, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai đã đứng ra họp mặt các chị em có cùng chí hướng cứu nước thành nhóm phụ nữ. Tuy nhiên, nhóm này hoạt động sơ khai, chưa có chính cương và điều lệ.

Dù vậy, hàng tháng nhóm này đều tổ chức các buổi hội thảo để tìm ra con đường giải phóng phụ nữ.

Năm 1930, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh lên cao. Có tới gần 13 ngàn phụ nữ tham gia cùng nhân dân đấu tranh, thành lập chính quyền. Cũng trong năm đó, đồng chí Nguyễn Thị Thập đã tham gia lãnh đạo cuộc đấu tranh của hàng ngàn phụ nữ ở Mỹ Tho.

Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập. Trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng ghi rõ: “Nam nữ bình quyền”. Đảng đã đề cao phụ nữ và coi phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng. Đảng đề ra nhiệm vụ phải giải phóng phụ nữ gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp gắn liền với giải phóng phụ nữ.

Đảng cũng đặt nhiệm vụ quan trọng là phải thành lập tổ chức riêng để các tầng lớp phụ nữ tham gia hoạt động.

Chính vì thế, chỉ một thời gian ngắn sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, ngày 20-10-1930, Hội Phụ nữ phản đế Việt Nam cũng được thành lập.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 20-10-1946, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam được thành lập, mà tiền thân là Hội Phụ nữ phản đế Việt Nam.

Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, một đoàn thể quần chúng của phụ nữ được hoạt động hợp pháp và công khai, nhằm đoàn kết, động viên lực lượng phụ nữ đóng góp tích cực vào sự nghiệp cách mạng của đất nước.

Đây cũng là lần đầu tiên, người phụ nữ Việt Nam được cầm lá phiếu bầu cử, tham gia các công tác chính quyền và xã hội, nắm giữ nhiều trọng trách trong bộ máy Nhà nước và các đoàn thể quần chúng.

Trong suy nghĩ của nhiều người, thì ngày Phụ nữ Việt Nam là ngày 20-10-1946, tức ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, nhưng thực ra, ngày lịch sử đáng ghi nhớ đó của phụ nữ Việt Nam được bắt đầu từ ngày 20-10-1930, cách nay đã 82 năm.

Ngày nay, vị thế của phụ nữ Việt Nam đã được đề cao, tôn vinh hơn bao giờ hết. Phụ nữ đã có quyền bình đẳng như nam giới.

Tuy nhiên, ở đâu đó trên đất nước này, vẫn có những phụ nữ đang phải chịu cảnh bất công, điều đó không thể chấp nhận được ở một xã hội hiện đại.

Nhà sử học ĐẶNG HÙNG (VTC)

HUYỀN THOẠI ĐẶC CÔNG BẮC VIỆT

LâmTrực@ sưu tầm



Với cách đánh luồn sâu, đánh hiểm, đánh trúng yếu huyệt và cơ quan đầu não đối phương, hai tiếng “đặc công” nhuốm đầy màu sắc huyền thoại. 

Giày lò xo 
Chướng ngại đầu tiên người lính đặc công phải vượt qua là các loại rào kẽm gai nhiều tầng, nhiều lớp như: rào bùng nhùng, rào mái nhà, rào chống B40 và cả hàng rào điện tử. Giữ kỷ lục là căn cứ Cồn Tiên – Dốc Miếu (Quảng Trị) với hàng rào dày tới 23 lớp. Bên dưới lớp rào là bãi mìn dày đặc với các loại claymore, con cóc, mìn râu, mìn lá… nhiều tầm sát thương. Người lính phải biết vận dụng đủ giác quan, từ xúc giác của tay để sờ, khứu giác để ngửi, thính giác, thị giác để để quan sát, nghe ngóng, phán đoán và cả… giác quan thứ sáu để thoát hiểm. Đó là phương châm thuộc nằm lòng “tai nghe, mắt thấy, tay sờ, chân đến và đoán đúng”. Những chuyến đi trinh sát điều nghiên như vậy tuyệt đối không được để lại dấu vết. Khi đêm xuống, một tổ đặc công trườn người sát đất, lặng lẽ móc từng móc rào lên, đánh dấu, vô hiệu hóa các loại mìn, chui sâu vào hang ổ kẻ thù, giữa hàng rào lính địch tuần tra, canh gác dày đặc. Lúc trở ra, họ phải tái lập hiện trường như cũ để không bị phát hiện. Bước vào trận tấn công, nếu toán thọc sâu bị lộ, lực lượng nằm vòng ngoài có thể dùng kỹ thuật cá nhân nhảy qua từng vòng rào vào sâu cứu viện. Các phương tiện tuyên truyền của địch thường lu loa rằng đặc công Việt cộng được trang bị loài giày “lò xo” đặc chủng của Liên Xô có thể phóng xa và cao cả chục mét. Kỳ thực, đây là kỹ thuật hoàn toàn do tập luyện đến độ thành tuyệt kỹ, mà đối phương, theo cách nghĩ thông thường, không thể nào hiểu nổi. 
Trị thú dữ 
Vòng trong các căn cứ đóng quân, căn cứ hậu cần, kho bom đạn, kho nhiên liệu, sân bay… luôn có đám quân khuyển berger được huấn luyện để lùng sục, đánh hơi và rất hung dữ. Đây cũng là một kẻ thù đáng gờm, và như các chiến sĩ đặc công từng nói, một con berger còn đáng sợ hơn một tiểu đội lính Mỹ. Để hạ bọn thú này, có nhiều bí quyết. Cách thông thường là trước khi đột nhập, lính đặc công mặc độc một chiếc quần lót nằm phơi sương mấy đêm liền, làm mất hết hơi người, hoặc bôi vào người một loại thuốc khử mùi. Nhiều khi đặc công đang ém mình ngụy trang, chó berger đến ngửi từ đầu đến chân rồi bỏ đi. Coi như cái mũi đánh hơi nhạy bén của lũ berger không còn tác dụng. Cũng có khi phải đụng đầu trực diện, như trong trận đánh kho bom Thành Tuy Hạ, bên trong có đội quân khuyển hơn 100 con. Khi phát hiện ra trinh sát ta, một con berger to như con bê lao tới. Chỉ bằng một cú xoay người và lia ngang một đòn dao găm, cổ con berger bị cắt đứt gọn. Nào chỉ có chó, ngay cả đàn ngỗng cũng được huấn luyện thành những tên lính cảnh giới đáng sợ. Ngỗng có khả năng đánh hơi và phát hiện tiếng động dù rất nhẹ. Phản ứng của chúng là kêu toáng lên báo động và kéo cả đàn cùng tấn công. Bị vây giữa đám giặc có mỏ và có cánh này kể như phiền phức to. Tuy nhiên ngỗng lại rất sợ rắn. Lính ta chỉ cần bứt những cọng môn (dọc mùng) hay những sợi dây dài giả làm rắn. Gặp phải thứ rắn giả này, ngỗng chỉ còn biết co cổ, nằm im. Trong các đội quân chư hầu tham chiến tại chiến trường Việt Nam, quân một nước hay sử dụng nhiều cách phòng thủ “quái chiêu” nhất. Một trong những cách đó là sử dụng rắn độc làm “hàng rào”che chắn. Tại nơi đóng quân (Long Thành), ban đêm địch thả rắn ra chung quanh vòng rào, ban ngày dùng tiếng sáo gọi rắn về, giống như các thuật sĩ Ấn Độ chuyên điều khiển rắn vậy. Đây là loại rắn rất nhỏ nhưng lại cực độc, một cú mổ có thể làm chết người trong vài phút. Đối phó lại, lính đặc công có loại thuốc kỵ rắn. Mang thuốc này theo người, coi như rắn cũng… chịu phép. 
Tàng hình
Nói về tài “tàng hình” của đặc công, có rất nhiều giai thoại. Một lính địch đang phiên gác, lén che nón sắt ngồi hút thuốc. Xong, hắn ném tàn thuốc xuống lùm cỏ trước mặt và… tè luôn lên đó. Hắn nào có hiểu đám cỏ nằm im kia lại biết di động: một chiến sĩ đặc công đã áp sát, và số phận tên lính được định đoạt trong giây lát. Hoặc một đồn địch được mật báo trước có đặc công vào đánh. Tên đồn trưởng đốc thúc đám lính thuộc quyền canh gác, tuần tra cẩn mật tưởng chừng con kiến không chui lọt. Vậy mà đúng nửa đêm, đặc công đã vào trong mà kẻ địch hoàn toàn không hay biết. Đại tá Lê Bá Ước giải thích: “Đây chỉ là kỹ thuật ngụy trang đến mức tài tình. Trong bóng tối, có thể cởi trần bôi màu cho tiệp với màu đất, màu cỏ. Hoặc biết lợi dụng địa hình, địa vật để che giấu. Khi địch rọi đèn pha, lợi dụng sự phản xạ của mắt đối với ánh sáng và bóng tối, hoặc lúc hai luồng quét giao nhau, mà lính đặc công có thể nằm im hay vận động xâm nhập”. 

Chuyện người lính đặc công Hai Cà
Năm 1954, ông Hai Cà tập kết ra Bắc, nhưng chỉ bảy năm sau lại tình nguyện trở về chiến đấu ở miền Nam ruột thịt. Vừa tham chiến, ông vừa là người lập kế hoạch tác chiến, chỉ huy chiến sĩ đặc công tung “những cú đấm tử thần” vào các căn cứ tưởng chừng bất khả xâm phạm của quân đội Mỹ. Thời điểm đó miền Đông Nam bộ đã trở thành căn cứ hùng hậu của quân đội Mỹ với các sư đoàn bộ binh số 1 “Anh cả đỏ”, sư đoàn bộ binh cơ giới số 25 “Tia chớp nhiệt đới”, tổng kho liên hợp Long Bình, sân bay quân sự Biên Hòa… Để bảo vệ những trọng điểm này, quân đội Mỹ ngoài sử dụng biệt kích tinh nhuệ còn có các phương tiện điện tử hiện đại kết hợp cùng “truyền thống” như chó bẹcgiê, ngỗng, rắn và hàng chục lớp rào thép, bẫy mìn. Ban đầu chúng đã huênh hoang tuyên bố: “Con chuột nhắt mà muốn vào được những nơi này cũng phải xin phép lính Mỹ”. Tuy nhiên, ngay sau đó các “cú đấm tử thần” của bộ đội đặc công đã làm chúng phải đổi lại câu nói “những nơi này đã bị Việt cộng bỏ túi”. Ông Hai Cà kể càng về sau kỹ thuật bố phòng quân sự càng hiện đại, đặc biệt là quân đội Mỹ. Tuy nhiên, người lính đặc công không có giới hạn cuối cùng nào là không thể vượt qua, mà đôi khi những bài học xương máu này lại được nhân dân chưa bao giờ cầm súng truyền dạy. Chính đồng bào đã chỉ ông cách “làm ngỗng phải phục đầu” bằng những vốc hành giả mùi rắn hổ. Còn chó bẹcgiê thì có rất nhiều cách để qua mặt như tắm rửa thật sạch, phơi sương, xoa bùn, thậm chí tắm cả loại xà bông lính Mỹ hay dùng. Đặc biệt, đặc công còn biết nướng thịt bò tẩm bơ theo đúng kiểu Mỹ rồi nhẹ nhàng thả vào cho chó táp. Hàm răng vừa ngập vào miếng thịt thì chớp mắt một mũi dao găm đã hạ gục chúng trong khi chúng còn chưa kịp sủa tiếng nào. Lịch sử sau này có thể kể lại bao nhiêu lần tổng kho liên hợp Long Bình và sân bay Biên Hòa bị đánh cháy, nhưng chắc chắn sẽ khó ghi lại đầy đủ được bao nhiêu lượt chiến sĩ đặc công đã đột nhập vào các nơi này. Chỉ riêng ông Hai Cà đã rất nhiều lần chỉ huy các chiến sĩ đặc công đột nhập thành công. Có khi họ chỉ đi điều nghiên tình hình, như những bóng ma nhẹ nhàng vượt qua gần 20 lớp rào và bãi mìn, lính canh, đèn pha để “tai nghe, mắt thấy, tay sờ mục tiêu”, rồi lại trở ra êm ái. Nhiều lần đột nhập nửa chừng thì trời sáng, ông Hai Cà và các chiến sĩ đặc công phải nằm lại giữa trùng lớp kẻ thù. Không có một bài bản ẩn thân nào cố định. Tùy thời tiết mưa, nắng, màu sắc ánh sáng, màu sắc đất đá, cây cỏ, cống rãnh, các đặc công chỉ mặc độc quần lót, phải nhanh trí xoay xở cách “vô hình” ngay trước mũi súng kẻ thù. Nguyên tắc này gần giống con tắc kè có thể đổi màu chìm lẫn trong cảnh vật xung quanh bất cứ lúc nào. Liên tiếp ba trận trong ba tháng 10, 11, 12-1966 ông Hai Cà phôi hợp với đơn vị bạn đã chỉ huy các chiến sĩ đặc công đột nhập thành công, phá nổ hơn 400.000 tấn bom đạn Mỹ. Còn ở sân bay Biên Hòa, lực lượng của ông Hai Cà cũng đã rất nhiều lần làm kẻ địch phải kinh hoàng. Chỉ riêng trận tháng 9-1972, đơn vị ông phối hợp với lực lượng bạn bí mật vượt 20 lớp rào các loại, đột nhập tận đường băng và trong tích tắc cho nổ tung 127 máy bay các loại. Nhiều chiến sĩ đặc công đã quyết tử để quyết thắng. Trong đó, hai người con trai của ông Hai Cà đã trở thành liệt sĩ và thương binh cũng tại sân bay Biên Hòa. Rất lâu sau đó, chính lực lượng biệt kích tinh nhuệ của Mỹ vẫn chưa thể hiểu nổi làm sao đặc công VN liên tiếp đột nhập và đánh phá thành công những nơi bất khả xâm phạm này.
Thật bí ẩn phải không các bạn?

THỬ VÉN MÀN HUYỀN THOẠI AN DƯƠNG VƯƠNG


Thành Cổ Loa
1. Đền An Dương Vương ; 2. Am Mị Cháu ; 3. Ngự triều di quy ; 4. Gò Ngự xạ đài; 5. cầu vực, nơi đào được Kho mũ tên đồng ; 6. Giếng Ngọc.
Cổ Loa thành ốc khác thường
Ngàn năm dấu tích chiến trường còn đây.
KS. PHAN DUY KHA
Cổ Loa thành ốc khác thường
Ngàn năm dấu tích chiến trường còn đây.
(Ca dao cổ)
Cũng như thời đại các vua Hùng, triều đại An Dương Vương được lịch sử ghi lại chủ yếu dựa vào truyền thuyết. Khác với thời các vua Hùng, các truyền thuyết về An Dương Vương xoay quanh một “thực thể” có thật – thành Cổ Loa. Người ta có thể thêu dệt nên huyền thoại nhưng không thể “bịa” ra cả một tòa thành. Thành Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội) là chứng tích vật chất hùng hồn của triều đại An Dương Vương. Tương truyền Cổ Loa có chín vòng thành, nay còn lại dấu tích ba vòng. Thành nội hình chữ nhật, có chu vi l,6Km, cao 5m, mặt thành rộng l0m, chân thành từ 20 – 30m. Thành giữa hình đa giác, có chu vi 6,5km, cao 6 – 12m. Thành ngoại có chu vi 8km, cao trung bình 4 -5m (trải hơn 2.200 năm bị nắng mưa bào mòn và con người tàn phá mà thành còn như thế, chắc rằng khi mới xây dựng, thành rất hùng vĩ!). Nơi đây, Thục An Dương Vương và triều đình của ông trị vì quốc gia được 50 năm (257 – 208 trước Công nguyên)(1).
An Dương vương đoạt ngôi của vua Hùng?
An Dương Vương Thục Phán là thủ lĩnh một liên minh bộ lạc hùng mạnh ở phía Tây Bắc nước Văn Lang của Hùng Vương. Về đời Hùng Duệ Vương (Hùng Vương 18), triều đình suy yếu, Hùng Duệ Vương lại không có con trai nối ngôi. Chính điều đó đã kích thích Thục Phán “nhòm ngó”  ngôi báu của vua Hùng. Theo Ngọc phả Hùng Vương thì chính Hùng Duệ Vương đã nhường ngôi cho Thục Phán. Sau khi được nhường ngôi, An Dương Vương đã lập cột đá thề trên núi Nghĩa Lĩnh mà thề rằng: “Nguyện có trời cao lồng lộng chứng giám xét soi, xin đời đời giữ gìn non sông bền vững và miếu vũ họ Hùng. Nếu sai lời thề sẽ bị trăng vùi gió dập” Ngày nay, còn di tích cột đá thề ở đền Thượng trong cụm di tích đền Hùng (Vĩnh Phú).
Lần tìm trong truyền thuyết, chúng tôi cho rằng: không phải Hùng Vương nhường ngôi cho An Dương Vương, mà chính An Dương Vương đã dùng vũ lực đoạt ngôi của vua Hùng. Không phải ngẫu nhiên mà có rất nhiều truyền thuyết xoay quanh cuộc chiến tranh Hùng -Thục Các truyền thuyết đó xuất hiện và được lưu truyền trên một diện tích rất rộng. Sự tích Bảo Công ở núi Sài (Sài Sơn, Bà Vì) kể: khi Thục Phán đem quân đánh vua Hùng, Bảo Công đã đem quân theo Tản Viên Sơn Thánh (Sơn Tinh) đánh quân Thục. Quân Thục thua to phải chạy lên tận Lạng Châu. Hai tướng Trần Giới, Trần Hà theo Tản Viên lên tận Châu Mộc, đánh quân Thục dọc sông Mã, quân Thục thua to đành phải rút về. Đại Hải tướng của vua Hùng, vào chỗ quân Thục ở núi Quỳnh Nhai, đánh trống hò reo, nhử cho quân Thục đuổi theo vào chỗ phục binh của Tản Viên. Quân Tản Viên bắn tên nỏ ra như mưa, quân Thục chết nhiều, đành phải lui binh. Phan Tây Nhạc, quê ở Nghệ An, được Hùng Duệ Vương phong làm tướng. Khi Thục Phán nổi lên cướp ngôi vua Hùng, ông đã theo Tản Viên mang quân chống lại, lập được công to Tại Từ Liêm (Hà Nội) con đền thờ ông. Còn đền Bảo An (Vĩnh Bảo, Hải Phòng) thờ hai anh em Cương Nghị, Bảo An làm tướng dưới thời Hùng Duệ Vương. Hai ông đã cầm quân đánh Thục An Dương Vương và thắng nhiều trận lớn, được vua Hùng phong tước. ở Bông Điền (Vũ Thư, Thái Bình) cũng có hai anh em được Hùng Duệ Vương phong là Tinh bộ tướng quân vàTạp bộ tướng quân, đã mang quân đánh Thục An Dương Vương và thắng nhiều trận lớn… Những sự tích xung quanh cuộc chiến tranh Hùng – Thục rất nhiều, trên một diện rất rộng, phản ánh một sự thực lịch sử là An Dương Vương đã đoạt ngôi của vua Hùng bằng vũ lực. Còn chuyện ông lập cột đá để ghi trong Ngọc phả Hùng Vương theo chúng tôi chỉ là hình thức, nhằm trấn an dư luận, vỗ yên dân chúng mà thôi. Đây là biện pháp tâm lý cần thiết của một triều đại mới.
Cũng ở Vĩnh Phú, còn lưu truyền một số sự tích như An Dương Vương đánh thắng vua Hùng, giết chết con gái vua Hùng ở Bồ Sao (Vĩnh Phú). Truyền thuyết còn kể rằng An Dương Vương đã đem họ hàng tông tộc vua Hùng về giết hết ở một địa điểm gần Cổ Loa. Theo Ngọc phả An Dương Vương và Sự tích thành Cổ Loa thì khi An Dương Vương xây thành, cứ xây được bao nhiêu, hôm sau lại bị phá sạch. Thần Kim Quy hiện lên cho biết: “Các vua đời trước (tức vua Hùng) cùng bọn nhạc công bị chết đều chôn ở núi Thất Diệu, những hồn ấy từ lâu không tan, lần khuất trong khe đá, trong hang sâu. Những linh hồn ấy có thù với nhà vua, đêm thanh vắng thường họp thành từng đàn, từng lũ, phá thành của nhà vua”. Núi Thất Diệu gồm 7 ngọn nùi nhỏ, ở gần Cổ Loa. Phải chăng đây chính là nơi vua Thục đã đem giết họ hàng tông tộc của vua Hùng như truyền thuyết ở Vĩnh Phú kể lại (có bị giết thì những linh hồn ấy mới thù vua Thục như thế)? Xét từ những truyền thuyết trên, chúng tôi cho rằng An Dương Vương đã dùng vũ lực đoạt ngôi của vua Hùng. Đại Việt sử lược, cuốn sử xưa nhất của ta cũng chép: “Cuối đời nhà Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi rồi lên thay”. Tất  nhiên, lúc này triều đình vua Hùng đã suy thoái và sự thay thế của An Dương Vương là một tất yếu lịch sử. Sau khi lên làm vua, An Dương Vương đã có công lớn tập hợp lực lượng, kháng chiến chống Tần thắng lợi. Sử sách đã ghi: “Tần Thủy Hoàng sai tướng là Đồ Thư đem quân sang đánh Bách Việt và Âu Lạc… Vào Việt, Tần đóng quân ở đất vô dụng, tiến không được, thoái không xong. Trải hơn 10 năm, đàn ông phải mặc giáp, đàn bà phải chuyên chở, (quân Tần) khổ không sống nổi. Người tự tử thắt cổ trên cây dọc đường, người chết trông nhau…” (Sử ký – Tư Mã Thiên); và: “Người Việt vào rừng ở, không chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư. Quân Tần thây phơi máu chảy hàng mấy vạn người” (Hoài Nam Tử).
An DươngVương và bi kịch mất nước.
Truyền thuyết kể rằng An Dương Vương nhờ có nỏ thần mà Triệu Đà mấy lần phát binh sang đánh Âu Lạc đều bị thất bại. Đà bèn giảng hòa với An Dương Vương đồng thời cho Trọng Thủy là con trai mình lấy Mỵ Châu là con gái An Dương Vương và xin được ở rể. Trọng Thủy nhờ đó mà đánh tráo được lẫy nỏ thần mang về cho cha. Khi viết về sự kiện này, các nhà nghiên cứu đều cho rằng Trọng Thủy đã ăn cắp bí mật sản xuất vũ khí, hoặc là ăn cắp kỹ thuật quân sự của Âu Lạc (được thần thoại hóa bằng chiếc lẫy nỏ). Chúng tôi cho rằng không hẳn như thế. Truyền thuyết Cổ Loa và Ngọc phả An Dương Vương đều kể rằng trong thời gian ở Loa Thành, Trọng Thủy đã lợi dụng để đi xem xét mọi bí mật ngõ ngách tòa thành. Chính y đã làm một công việc đơn giản hơn nhiều mà lại rất hợp với vai trò của một tên gián điệp: tìm hiểu sơ đồ bố phòng của ta và vị trí kho mũi tên đồng để đánh chiếm đầu tiên, vì đây là vũ khí lợi hại nhất của An Dương Vương (Gần cửa Nam thành, tại khu Cầu Vực, vào năm 1959, chúng ta đã đào được một kho vũ khí có hàng vạn mũi tên đồng hai, ba ngạnh. Phải chăng đây chính là kho mũi tên đồng của An Dương Vương xưa bị lấp vùi?). Trọng Thủy là một tên gián điệp lợi hại được cài vào triều đình vua Thục. Y còn dùng của đút lót cho các quan để chia rẽ nội bộ triều đình Âu Lạc. Chính An Dương Vương đã nuôi ong tay áo và bi kịch mất nước không nên đổ hết cho Mỵ Châu” Ngày nay, một số nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ của ta đã lên án Mỵ Châu: “Trái tim lầm chỗ để trên đầu. Nỏ thần vô ý trao tay giặc”. Chúng tôi cho rằng Mỵ Châu đáng thương nhiều hơn đáng trách. Người chịu trách nhiệm chính trong bi kịch mất nước phải là Thục An Dương Vương bởi sự sơ xuất và chủ quan của ông: để con trai kẻ thù vào ở ngay cạnh mình, mặc dù triều đình rất nhiều người can ngăn. Thậm chí một số đại thần vì chuyện này mà đã mâu thuẫn với vua Thục, phải từ quan về quê, như trường hợp tướng quân Cao Lỗ – cánh tay phải của vua Thục.
Còn về chuyện Mỵ Châu rắc lông ngỗng dọc đường thì chỉ là chuyện huyền thoại mà thôi. Sự thật lịch sử là: sau khi mất Loa Thành, An Dương Vương cùng triều đình đã tháo chạy vào Nghệ An để lập căn cứ kháng chiến. Chúng ta biết, núi Mộ Dạ – nơi có đền thờ An Dương Vương (nay thuộc Diễn Châu – Nghệ An) hồi ấy rất rậm rạp, là chỗ có nhiều chim công (chim công chỉ sống trong rừng đại ngàn) vì vậy mới có tên đền Công. Ngày nay, nơi đây là đồi trọc, người ta mới trồng thông nhưng vào giữa thế kỷ XIX, vùng này rừng vẫn còn rậm rạp. Nhà thơ Cao Bá Quát (1808 -1855) khi qua đây còn thấy:
Loa cáp thê lương hà xứ mịch
Tà dương tước vũ Mộ Sơn tê
(Đến nay sò ốc thê lương biết tìm nơi nào
Chiều tà chỉ thấy chim công múa ở phía Tây núi Mộ Dạ).
(Cao Bá Quát – Qua miếu Mỵ Châu)
Chính vì vị trí lợi hại của nó mà vua Thục đã chọn nơi đây làm căn cứ kháng chiến chống Triệu Đà. Và khi quân Đà tấn công vào đây, thế cùng, An Dương Vương đành nhảy xuống biển tự vẫn (truyền thuyết đã thần thoại hóa bằng cách cho ông cầm sừng tê, rẽ nước đi xuống biển). Trước khi chết, không để con gái rơi vào tay giặc, ông đã giết Mỵ Châu. Còn Trọng Thủy sau này do ân hận mà chết. Về sự kiện Triệu Đà đánh chiếm Âu Lạc, Sử ký Tư Mã Thiên ghi rất sơ sài: “Đà nhân đó dùng vũ lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình”. Phải chăng chi tiết “đem đồ đạc của cải đút lót” trong Sử ký nhằm chỉ sự việc Trọng Thủy đã mua chuộc và chia rẽ nội bộ triều đình vua Thục?
Triệu Đà, sau khi thu phục được Âu Lạc, lên làm vua đóng đô ở Phiên Ngưng (Quảng Châu, Trung Quốc), đặt tên nước là Nam Việt. Lịch sử không ghi Đà có mấy con trai, nhưng khi Đà chết (137 T.C.N) thì truyền ngôi cho Triệu Hồ (tức Triệu Văn Vương) là cháu nội của mình. Có tài liệu chép Hồ chính là con Trọng Thủy (Tất nhiên không phải với Mỵ Châu!). Phải chăng Triệu Đà cũng chỉ có một con trai và Trọng Thủy đã có vợ con? Y lấy Mỵ Châu đơn thuần chỉ vì nhiệm vụ gián điệp mà cha mình giao cho? Và y đã đóng kịch rất giỏi, còn Mỵ Châu thì quá ngây thơ, cả tin nên đã yêu y hết lòng! Dù sao đây cũng là bi kịch lịch sử đầu tiên và lớn nhất của dân tộc ta. Chính nó đã dìm nước ta vào suốt hơn một ngàn năm Bắc thuộc.
Một người đã lãnh đạo kháng chiến chống Tần hiển hách như thế, cuối cùng chỉ vì chủ quan và sơ xuất để đến nỗi “cơ đồ đắm biển sâu”. Cái giá của bài học lịch sử quả là quá đắt!
(1) Có t ài liệu ghi 30 năm (208 – 179 TCN), ở đây theo Đại Việt sử ký toàn thư.
* Nguồn: NHÌN LẠI LỊCH SỬ, nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2003, Tác giả: KS. PHAN DUY KHA – TS. LÃ DUY LAN – TS. ĐINH CÔNG VĨ.

VÌ SAO AN DƯƠNG VƯƠNG GẶP KHÓ KHĂN KHI XÂY THÀNH ỐC?

KS. PHAN DUY KHA

Ai về qua huyện Đông Anh
Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương
Cổ Loa thành ốc khác thường
Ngàn năm dấu tích chiến trường còn đây.
(Cao dao)

Theo truyền thuyết, vào cuối thời Hùng Vương, Thục Phán, thủ lĩnh của bộ lạc Nam Cương mấy lần đem quân xâm lấn Văn Lang nhưng đều bị quân của Hùng Duệ Vương mà tướng tổng chỉ huy là Tản Viên Sơn Thánh đánh bại. Nhưng vì Hùng Duệ Vương không có con trai nối ngôi nên theo kế của Tản Viên, để tránh một cuộc binh đao loạn lạc cho đất nước, Hùng Duệ Vương đã nhường ngôi cho Thục Phán (ở đây truyền thuyết có sự mâu thuẫn: đã đánh thắng sao lại còn cầu hòa, nhường ngôi?). Sau đó, Thục Phán đã lập cột đá thề trên núi Nghĩa Lĩnh mà thề rằng: “Đời đời gìn giữ non sông miếu vũ của họ Hùng, nếu sai lời thề sẽ bị trăng vùi gió dập…”. Sự thật, chúng ta đã làm sáng tỏ là không có sự kiện nhường ngôi, mà chính Thục Phán đã tấn công vào kinh đô Văn Lang, bắt toàn bộ tông tộc của Hùng Duệ Vương đem về giết chết tại một địa điểm thuộc núi Sài, gần Loa Thành (sự kiện này đã được đề cập trong bài Thử vén màn huyền thoại An Dương Vương – TVMHTADV – TGM số 156).



Gần đây, theo một tài liệu khảo cứu mới được công bố của nhóm Hoài Việt, chúng ta có thể nêu tóm tất sự kiện đánh chiếm Văn Lang và niên biểu của triều đại An Dương Vương như sau:

– Năm 316 trước Công nguyên (TCN): tướng Tần là Tư Mã Thác diệt nước Thục.

– Năm 315 TCN: các quan tướng triều Thục thoát chết, lưu vong, có đem theo một thứ phi đang có mang, qua đất Sở (Hồ Nam) bị Sở đánh, lại men theo sông Tường Kha xuống phía Nam đến nước Tây Âu. Bà phi sinh con trai là Thục Chế, sử gọi là Thục Vương tử.

– Năm 313 TCN: nước Tây Âu cho triều đình “Thục lưu vong” này trú tại bộ Nam Cương miền Nam nước Tây Âu, ở vào khoảng Hòa An, Cao Bằng ngày nay.

– Năm 282 TCN: Thục Chế trở thành tù trưởng của bộ lạc Nam Cương và đã thu phục được một số bộ lạc lân cận (thành liên minh bộ lạc). Thục Chế sinh con là Thục Phán (Thục Vương Tôn).

– Năm 261 TCN: Thục Chế chết.

– Năm 259 TCN: Thục Phán đem quân chia làm ba đường đánh vào kinh đô Văn Lang, bắt được Hùng Duệ Vương đem giết.


– Năm 258 TCN: Thục Phán lên ngôi là An Dương Vương, đặt tên nước là Âu Lạc, xây thành Cổ Loa (thành ốc).

– Năm 240 TCN: sau 18 năm, hoàn thành việc xây thành Cổ Loa.

– Năm 222 – 210 TCN: Triệu Đà mở những cuộc hành quân thăm dò (đánh vào Âu Lạc) nhưng thất bại.

– Năm 210 TCN: Triệu Đà dùng kế, cho con là Trọng Thủy sang gửi rể để ly gián, mua chuộc và thăm dò các bí mật về hệ thống phòng thủ ở Cổ Loa thành.

– Năm 207 TCN: Trọng Thủy trở về báo với Triệu Đà, sau đó, cầm đầu một đạo quân tiến qua bộ Vũ Ninh đánh vào phía Bắc Cổ Loa. Cuộc chiến không kéo dài vì Trọng Thủy đã nắm được hệ thống phòng thủ và mua chuộc được quan tướng của Thục Phán làm nội ứng Thục An Dương Vương chỉ kịp đem vợ con và một số tướng thân cận xuống một chiếc thuyền nhẹ, qua cửa Nam, ra sông Hồng chạy về phía Nam….

(Ngược dòng lịch sử-Hoài Việt-NXB Văn hóa Dân tộc-1998-Trang 19-198).

Như vậy, Thục Phán không phải là người Việt, mà chính là ngoại tộc, đem quân “xâm chiếm” đất đai của Văn Lang. Đã là “xâm chiếm”, “chinh phục” tất nhiên sẽ bị dân bản địa chống lại. Các cuộc kháng chiến chống lại quân Thục của con cháu vua Hùng diễn ra trên một quy mô lớn mà chúng tôi đã phân tích, dẫn chứng trong bài TVMHTADV. Ở đây, chúng ta thử phân tích những hành động chống lại An Dương Vương của nhân dân Văn Lang, ngay trên mảnh đất mà Thục Phán chọn để đóng đô, đó là đất Cổ Loa. Nguyên xưa, đây là một khu dân cư, An Dương Vương đã đuổi dân lấy đất để xây đắp thành. Truyền thuyết kể lại rằng: khu đất chọn để đắp thành là một quả đồi rắn như đá. Hàng vạn nhân công hì hục làm việc hết ngày nọ đến ngày kia rất gian khổ. Thế nhưng, chỉ qua một đêm, cả bức tường thành quanh co đều bị sập xuống như đất bằng. Vua hỏi những người dân ở gần thì họ kể: “Đang đêm, họ nằm nghe những bước chân rầm rập từ khắp các ngả kéo đến. Những tiếng xì xào, bàn tán như có cuộc họp kín của hàng nghìn người. Họ sợ quá không dám ra xem. Được một lúc lâu, họ lại nghe những tiếng huỳnh huỵch, tiếp đến những tiếng đổ ầm ầm như sấm dậy…”. Truyền thuyết cho rằng đây là linh hồn của những người bị vua Thục giết, oan khuất không tan, nay họp lại để phá công việc xây thành của vua Thục. Thực ra, có thể hiểu đây chính là những nghĩa quân Văn Lang nổi dậy. Chính họ đã tụ họp nhau lại, tại một địa điểm cách thành không xa, đêm đêm bí mật kéo đến phá thành, quyết không cho vua Thục xây thành trên đất của mình. Tất nhiên, đã là nghĩa quân thì phải hoạt động lén lút ban đêm, rồi dân phu và dân địa phương phao lên là ma quỷ, có ý dọa vua Thục.


Truyền thuyết cũng kể về một con gà trắng thành tinh có phép biến hóa. Chính con gà trắng này chi huy đội quân phá thành. Con gà trắng thành tinh đó có thể hiểu là vị chỉ huy bộ tộc, là linh hồn của nghĩa quân chống lại vua Thục. Cũng từ hình tượng con gà trắng mà ta có thể suy luận ra đây là bộ tộc Gà (lấy gà trống làm vật tổ – tô tem, ngày nay thành nội Cổ Loa vẫn còn một xóm mang tên Xóm Gà!). Có thể, họ lấy lông gà trống cắm lên mũ để phân biệt với các bộ tộc khác. Trên những hình khắc trên các mặt trống đồng, ta thường thấy mô tả những cư dân đầu đội mũ gắn lông chim (hoặc lông gà) để nhảy múa. Như vậy thì lông chim, lông gà là một vật trang sức và mang tính tín ngưỡng của bộ lạc!


Truyền thuyết kể lại: “Con gà trắng đó có tiền duyên với con gái lão chủ quán nên hay hiện hình làm khách bộ hành, ghé vào nhà lão. Muốn đắp cho được thành, trước hết phải trừ tiệt giống yêu ma và giết đứa con gái cùng con gà trắng “của lão chủ quán”. Chi tiết này hoàn toàn hiện thực, không có gì là huyền bí cả. Chính người chỉ huy của đội quân chống lại Thục Phán có quan hệ với con gái ông chủ quán. Gia đình ông chủ quán chính là trạm liên lạc của nghĩa quân. Cô con gái ông chủ quán chính là một đầu mối nội gián quan trọng. Nếu theo cách diễn đạt của chúng ta ngày này thì chi tiết trên sẽ là: “Người chỉ huy nghĩa quân thường cải trang làm dân thường, đến gặp cô con gái chủ quán để lấy tin tức”. Chính vì thế mà khi người chỉ huy này bị giết thì cô con gái chủ quán cũng chết (có thể bị giết chết hoặc là tự tử?). Truyền thuyết cũng kể về chi tiết khi quân của An Dương Vương đuổi theo đám “yêu quái” (sau khi đã điều tra cụ thể) đến núi Thất Diệu thì “yêu khí” tan (Thực chất là đã đánh được vào bộ chỉ huy nghĩa quân và dẹp tan cuộc nổi loạn). Quân lính của An Dương Vương đào được rất nhiều hài cốt và nhạc khí cổ, đem chất thành đống đốt đi, tro than đổ xuống suối. Những hài cốt này là của Hùng Duệ Vương, các quan lại và các nhạc công triều Hùng bị An Dương Vương bắt được khi đánh vào kinh đô Văn Lang rồi đem về giết ở đây. Vua Thục đã cho thiêu những hài cốt này rồi đổ tro than xuống suối, với hai mục đích:


– Trấn yểm đối với linh hồn người chết, để cho tan mầm phản loạn (theo quan niệm xưa).

– Khủng bố và răn đe đối với người đang sống, để không ai dám nổi lên chống lại nữa. Đây là một biện pháp mà các triều đại sau này cũng có áp dụng, một khi giành được quyền lực (ví dụ như trường hợp Gia Long đối với nhà Tây Sơn!).

Thiết nghĩ, cách nhìn nhận, phân tích, soi sáng của chúng ta ngày nay đã góp phần làm sáng tỏ truyền thuyết “An Dương Vương xây thành Cổ Loa”. Ở đây chẳng có yêu tinh, ma quái nào cả mà chỉ có những người dân bất bình nổi lên chống lại triều đinh của An Dương Vương và sự trấn áp của vua Thục.

Nếu chúng ta so sánh truyền thuyết vua Hùng chọn đất đóng đô với việc An Dương Vương xây dựng kinh đô ở Cổ Loa, ta sẽ thấy thái độ của người dân đối với hai sự việc này khác hẳn nhau một trời một vực. Vua Hùng đã chọn rất nhiều địa điểm để đóng đô, đến đâu cũng được nhân dân ở đó hân hoan chào đón. Bởi vì, người dân coi vua Hùng là chủ, là vị thủ lĩnh của mình. Trái lại, An Dương Vương chỉ chọn một địa điểm là Cổ Loa mà quá trình xây thành lại bị nhân dân bản xứ ngấm ngầm chống lại, công việc kéo dài ngót 20 năm trời! Điều đó càng cho ta thấy gốc ngoại của vua Thục là có cơ sở. Rõ ràng, việc làm của vua Thục không hề được sự đồng tình của người dân địa phương, bởi người dân coi ông là ngoại tộc, không phải người chủ của mình.

Vua Thục chỉ có một người con gái là Mỵ Châu, cả hai cha con đều bị chết ở biển Mộ Dạ (Diễn Châu, Nghệ An), số quan lại, tướng tá người Thục đi theo ông sang đất Việt cũng không nhiều. Con số ít ỏi này “lọt thỏm” trong cộng đồng người Việt đông đúc. Trải hơn 2.000 năm, di duệ của họ đời sau bị đồng hóa thành người Việt. Đó là lý do vì sao trên địa bàn Cổ Loa ngày nay không còn dấu vết gì về nhân chủng, ngôn ngữ, phong tục tập quán… của người Thục. Chỉ còn lại một tòa thành kỳvỹ cho đời sau chiêm ngưỡng và câu chuyện truyền kỳ về Thành Ốc – Nỏ Rùa -Lông Ngỗng.

* Nguồn: NHÌN LẠI LỊCH SỬ, nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2003, Tác giả: KS. PHAN DUY KHA – TS. LÃ DUY LAN – TS. ĐINH CÔNG VĨ.

NHỮNG LÀNG CỔ CÓ TÊN LÀ “KẺ”

KS. PHAN DUY KHA

Kẻ là người, kẻ cũng là làng

Ngôn ngữ Việt cổ có từ kẻ mà ngày nay vẫn còn gây tranh cãi trong những người cầm bút. Thậm chí, có người từng lên án gay gắt việc dùng câu tục ngữ “Ăn qua nhớ kẻ trồng cây”. Theo quan điểm của những người này, thì kẻ là một từ chỉ người với nội dung xấu, như kẻ cắp, kẻ cướp, kẻ gian, kẻ thù. Vậy thì ta không thể dùng cụm từ “kẻ trồng cây” mà phải dùng cụm từ “người trồng cây” mới đúng chăng!
Thực ra, trong kho tàng ngôn ngữ Việt cổ, ông cha ta dùng hai từ kẻ và người không hề phân biệt. Có thể dẫn chứng hàng loạt thành ngữ, tục ngữ để minh chứng cho điều này. Ví dụ: kẻ trên người dưới; kẻ trước người sau; kẻ cười người khóc; kẻ tám lạng người nửa cân; kẻ vào người ra; kẻ ở người đi; kẻ giàu người nghèo… Trong tất cả những thành ngữ; tục ngữ đó, kẻ và người được đặt ngang nhau và nếu ta đem hoán vị giữa 2 từ kẻ và người, ý nghĩa của thành ngữ, tục ngữ đó cũng không thay đổi. Vì vậy, chúng ta có thể yên tâm đặt một dấu “bằng” giữa kẻ và người (kẻ = người) mà không hề phải phân vân gì.
Nghiên cứu địa danh các làng xã cổ xưa của người Việt, chúng ta thấy có một hiện tượng đặc biệt. Đó là có nhiều làng mà trước tên làng có từ kẻ. Ví dụ, ngay tại Hà Nội có Kẻ Noi (Cổ Nhuế), Kẻ Mọc (Nhân Mục), Kẻ Cót (Yên Quyết), Kẻ Mẩy (Mễ Trì) rồi Kẻ Bưởi, Kẻ Mơ, Kẻ Giàn, Kẻ Cáo… Có một điều chung nhất trong tất cả các làng mang tên kẻ này, đó đều là những làng cổ. Theo ý nghĩa của ngôn từ Việt cổ, có thể hiểu từ kẻ ở đây chỉ một cụm dân cư sống trên một địa bàn cụ thể. Ví dụ, Kẻ Noi = Người (ở làng) Noi; Kẻ Mọc = Người (ở làng) Mọc; Kẻ Bưởi = Người (ở làng) Bưởi… Để đơn giản, người ta hiểu: Kẻ Noi = làng Noi; Kẻ Mọc = làng Mọc; Kẻ Bưởi = làng Bưởi… Như vậy, ở đây kẻ được đồng nhất với làng.

Khi các triều đình phong kiến Trung Hoa sang xâm lược nước ta, để tiện lợi cho việc ghi chép vào giấy tờ, sách vở (theo chữ Hán), mỗi làng lại phải đặt một tên chữ (âm Hán – Việt). Khác với tên Nôm chỉ có một từ (không kể từ kẻ đứng trước), tên chữ thường có ít nhất là hai từ. Như vậy, những làng cổ ra đời trước thời Bắc thuộc, nhất thiết phải có hai tên, một tên Nôm (kèm kẻ) và một tên chữ. Những làng ra đời trong thời kỳ phong kiến thường chỉ có tên chữ, không có tên nôm và không có kẻ. Đó là tiêu chí để ta phân biệt những làng cổ ra đời trước thời Bắc thuộc và những làng mới được thành lập sau này.

Trong việc đặt tên làng xã của Việt Nam, ta lại thấy có hiện tượng đặt tên làng theo tên dòng họ, như Nguyễn Xá, Hoàng Xa, Phan Xá, Bùi Xá… Xá là một từ Hán – Việt chỉ nơi cư trú: Nguyễn Xá là nơi cư trú của những người họ Nguyễn, Hoàng Xá là nơi cư trú của những người họ Hoàng… Trong những làng mang tên Xá như vậy cũng có những dòng họ khác sinh sống. Tuy nhiên, dòng họ mà làng mang tên là dòng họ lớn nhất, có vị thế chủ đạo, có ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt vật chất và văn hóa tinh thần của cả làng. Từ nguồn gốc hình thành và tên gọi của nó, các làng mang tên Xá không thể ra đời trước thời điểm các triều đình phong kiến Trung Hoa sang đô hộ nước ta. Như vậy, trong hệ thống địa danh các làng cổ Việt Nam, những làng có Kẻ là những làng xuất hiện sớm nhất. Có thể coi đó là những địa bàn định cư, những đơn vị cơ sở đầu tiên của thời Hùng Vương dựng nước trong một cuốn địa chí văn hóa của xứ Thanh, làng có Kẻ chiếm 24%; làng không Kẻ chiếm 76% (trong đó bao gồm làng có Xá, làng do di dân lập ấp trong thời phong kiến, làng do đất phong và các trại khai hoang xưa, nay đã thành làng). Như vậy, với một vùng đất cổ như Thanh Hóa, có đến 24% số làng xuất hiện từ thời Hùng Vương dựng nước.

Sự phân bố các làng Kẻ trên bản đồ Việt Nam

Những vùng làng có tên Kẻ được tập trung vào ba trung tâm chính:

1. Trung tâm núi Hồng – sông Lam: Đây là một vùng có nhiều làng cổ có tên là Kẻ mà chúng tôi đã có dịp đề cập (xem TGM 175). Phạm vi những làng này nằm trong vùng đồng bằng và vùng ven chân núi phía Nam Nghệ An, phía Bắc Hà Tĩnh mà dầy đặc nhất là vùng ven núi Hồng – sông Lam. Ở đây có những huyện mà số làng tên Kẻ chiếm đến 2/3 (tức hơn 60%) tổng số các làng, như huyện Can Lộc (Hà Tĩnh). Các huyện Nghi Xuân Đức Thọ, Thạch Hà, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), Thanh Chương, Đô Lương, Anh Sơn, Nam Đàn, Nghi Lộc, Nghĩa Đàn, Quỳnh Lưu (Nghệ An) có nhiều làng Kẻ. Các di tích khảo cổ chủ yếu như Thạch Lạc, Làng Vạc, Quỳnh Văn nằm trong phạm vi vùng Kẻ này. Đi về phía nam, các làng Kẻ ít dần. Vùng Bình – Trị – Thiên cũng có Kẻ nhưng thưa thớt hơn. Phía nam đèo Hải Vân, các Kẻ còn thấy xuất hiện đến tận Quảng Nam, Quảng Ngãi(*).

2. Trung tâm Đông Sơn (Thanh hóa): Đây cũng là một vùng dày đặc các làng tên Kẻ. Phạm vi bao gồm các huyện nằm ven chân núi và vùng đồng bằng sông Mã, sông Chu như: Đông Sơn, Thiệu Yên, Triệu Sơn, Hậu Lộc, Hoàng Hóa, Quảng Xương, Hà Trung, Nông Cống. Các làng Kẻ làm thành một vệt liên tục từ Kẻ Don (Vĩnh Lộc) xuống Kẻ Đàng (Thiệu Yên). Các di tích khảo cổ chủ yếu của thời đại đồng thau như Đông Sơn, Thiệu Dương, Hoàng Hóa… nằm trong phạm vi khu vực này. Có một điều đặc biệt lý thú là toàn bộ huyện Nga Sơn không hề có một làng tên Kẻ nào (trong lúc đó, các huyện bên cạnh đều có làng Kẻ!). Điều này hoàn toàn phù hợp với truyền thuyết Mai An Tiêm: vào thời vua Hùng, toàn bộ vùng này đang nằm sâu dưới biển, chỉ nhô lên một vài hòn đảo (Mai An Tiêm bị đày ra đảo hoang ở Nga Sơn theo truyền thuyết).

3. Trung tâm Việt Trì – Phong Châu: Đây là trung tâm của thời kỳ các vua Hùng. Những làng mang tên Kẻ ở đây phân bố ven theo chân núi Ba Vì, Tam Đảo và dọc theo châu thổ sông Hồng từ Phong Châu, Việt Trì xuống đến phạm vi thủ đô Hà Nội. Các huyện Phong Châu, Thanh Sơn, Sông Thao, thành phố Việt Trì (Phú Thọ), Lập Thạch, Tam Đảo, Vĩnh Lạc, Mê Linh (Vĩnh Phúc), Sóc Sơn, Đông Anh, Từ Liêm, Gia Lâm (Hà Nội) đều có nhiều làng Kẻ. Những làng có đền thờ các nhân vật thời Hùng Vương, những làng lưu truyền các truyền thuyết về các tướng tá thời Hùng, thường là những làng mang tên Kẻ. Những di chỉ khảo cổ chủ yếu như Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun… nằm trong khu vực này. Đền Hùng ở cạnh một làng mang tên Kẻ: Kẻ Khống (Chu Hóa, Phong Châu); Cổ Loa là Kẻ Chủ; quê hương của người anh hùng Thánh Gióng là Kẻ Đổng (Phù Đổng, Gia Lâm). Toàn bộ vùng Kẻ ở khu vực này tạo thành một hình tam giác, lệch về góc đông nam. Ở rìa của góc đông nam đó là vùng Trâu Sơn – Phả Lại, là nơi kẻ thù thường xâm phạm. Đó chính là bối cảnh của chiến trường Thánh Gióng đánh giặc Ân trong truyền thuyết (xem TGM 297). Vùng đất thủ đô Hà Nội cũng là một vùng đất cổ, trên đó dày đặc các làng có tên Kẻ như chúng tôi đã trích dẫn ở phần đầu. Có nhiều Kẻ ở ngoại thành, có những Kẻ bây giờ thuộc nội thành như Kẻ Bưởi, Kẻ Mơ…

Ở phía Nam Hà Nội vắng hẳn các làng tên Kẻ. Theo một số tài liệu nghiên cứu thì cách đây 3.000 năm, đường bờ biển ở vào khoảng Chương Mỹ, Thường Tín, nối đến thành phố Hải Dương ngày nay (lúc ấy, vùng núi đá vôi Nho Quan – Ninh Bình có phong cảnh như vịnh Hạ Long bây giờ). Cách đây 2.000 năm, đường bờ biển lùi xuống Ninh Bình, Nam Định. Như vậy thì vào thời Hùng Vương, vùng đất phía Nam Hà Nội đang là bãi cát bồi ven biển, chưa được khai phá. Điều đó cắt nghĩa vì sao ở đây không có các làng tên Kẻ. Điều này cũng phù hợp với truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung: đây là lãnh thổ đang “tranh chấp” giữa con người và thiên nhiên, chưa có những khu vực dân cư ổn định (Chử Xá có tên nôm là Kẻ Sứa. Có thể lúc ấy vùng này đang là vùng nước lợ, có nhiều loài sứa sinh sống nên có tên như thế chăng?).

Kinh đô Văn Lang

Trong thư Hoài Nam Vương gửi Hán Vũ Đế (thế kỷ 2 trước Công nguyên) có ghi: “Nam Việt không phải là nơi ấp lý có thành quách. Họ ở trong khoảng khe suối, ở giữa rừng tre” (Hoài Nam Tư). Có thể thấy: người Việt đã ở trong các làng có lũy tre dày đặc bao bọc (người Trung Hoa nhìn từ ngoài vào, không hiểu, cho là rừng tre). Tre là lũy để bảo vệ an toàn cho các Kẻ, chứ không cần phải thành quách. Với trình độ kỹ thuật quân sự xưa, chỉ có tên tre và mũi lao, mũi giáo bằng đồng thì lũy tre dày đặc bao quanh các Kẻ quả là kiên cố bên trong các Kẻ đó lại có các lũy tre phân chia từng gia đình thành từng ô nhỏ. Vì vậy, nếu kẻ thù đột nhập vào đây sẽ như lọt vào trận đồ bát quái, khó có thể tìm được lối ra và sẽ bị tiêu diệt. Vì vậy, chúng ta có thể khẳng định: vào thời kỳ Hùng Vương, người Việt chưa có thành quách và cũng không có nhu cầu xây đắp thành. Ngay kinh đô Văn Lang của các vua Hùng có thể chỉ là một Làng Lớn (Làng Cả – Kẻ Cả) mà thôi (các nhà khảo cổ cho rằng khu di tích Làng Cả – Việt Trì chính là kinh đô Văn Lang xưa).

Tất nhiên, vào thời vua Hùng không phải chỉ có Kẻ. Kẻ chỉ ở đồng bằng và vùng đồi núi thấp. Ở những vùng cao có các bản, mường. Ngay gần kinh đô Văn Lang cũng có rất nhiều bản, mường của người Mường, người Dao. Có thể nói: những kẻ, bản, mường đó là những tập hợp cư dân, những đơn vị cơ sở đầu tiên của thời kỳ Hùng Vương dựng nước.

————————————————————————

(*) Vì vậy. chúng tôi cho rằng: trước khi xuất hiện quốc gia Lâm ấp, Hoàn Vương (sau này là Chămpa) thì vùng đất này đã là đất đai của người Việt cổ thuộc quốc gia Việt Thường (xem thêm lập luận của tác giả trên TGM 147, 158, 194 và 213).

* Nguồn: NHÌN LẠI LỊCH SỬ, nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2003, Tác giả: KS. PHAN DUY KHA – TS. LÃ DUY LAN – TS. ĐINH CÔNG VĨ.