Thân thế và sự nghiệp cụ Thuỷ tổ Vũ Hồn

Họ Vũ ở làng Mộ Trạch (làng Tiến sĩ nổi tiếng nhất ở xứ Đông và trong nước trước kia), nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương là một trong những dòng họ lớn ở Việt Nam có Thuỷ tổ – Thần tổ Vũ Hồn – Thành hoàng làng Mộ Trạch.
        Theo gia phả, tộc phả và thần phả ở Mộ Trạch, vào đời nhà Đường bên Trung Quốc (618 – 907), khoảng năm 800, có một quan chức tên là Vũ Huy người làng Mã Kỳ, huyện Long Khê, phủ Thường Châu, tỉnh Phúc Kiến. Vợ là Lưu Thị Phương. Hai ông bà đã nhiều tuổi, khoảng gần 60 tuổi, vẫn chưa có con cái. Ông Vũ Huy là một nhà nho, do đó thường than rằng: “Vàng núi thóc biển coi như cỏ rác, con hiếu,cháu hiền quý hơn châu ngọc”. Sau đó, ông làm sớ dâng lên vua Đường xin được nghĩ về làm trí sĩ. Vua Đường chuẩn cho, lại ban phát cho xe ngựa, vàng bạc. Ông tạ ơn về quê sống cảnh an nhàn, đi du ngoạn. Ông Vũ Huy vốn tinh thông khao địa lý phong thủy, do đó trên đường đi du ngoạn về phương nam, đến đất Giao Châu khi ấy là khu vực đất thuộc đồng bằng Bắc Bộ bây giờ.
       Một hôm đi đến ấp Mạn Nhuế thuộc huyện Thanh Lâm đất Hồng Châu sau này là tỉnh Hải Dương, Vũ Huy thấy một kiểu đất đẹp ở khu cánh đồng mênh mông có 98 gò đất nhỏ bao quanh một gò cao và lớn, tựa như 98 ngôi sao chầu về mặt trời (cưu83 thập bát tú triều dương ). Cái gò ấy tên địa phương gọi là Đống Dờm. Theo thuyết địa lý – phong thủy nếu mộ táng ở đây con cháu sẽ phát sinh khoa bảng. Công danh hiển hách. Cụ Vũ huy quay trở về Phúc Kiến đưa hài cốt thân phụ sang táng ở Đống Dờm, rồi làm nhà ở tạm để trông nom ngôi mộ
      Ở làng Mạn Nhuế khi ấy có một thôn nữ con nhà nề nếp, tính tình đoan trang phúc hậu, chăm chỉ làm ăn lại có quý tướng sinh con quyền cao chức trọng. Có lẽ do duyên trời đã định, nên gia đình cô thôn nữ đã chấp nhận lời cầu hôn của ông Vũ Huy, và ít lâu sau, hôn lễ đã được cử hành. Bà là Nguyễn Thị Đức.
       Hơn một năm sau, bà có thai. Ông đưa bà về Phúc Kiến (thuộc đất mân Việt cũ)
     Ngày 08 tháng giêng năm giáp Thân(804) bà sinh con trai. Ông bà đặt tên con là Vũ Hồn. Ngay từ thuở nhỏ, Vũ Hồn trông dáng dấp rất khôi ngô, tuấn tú, rất chịu khó học hành và rất thông minh. Năm 12 tuổi sức học đã làm cho các bậc đàn anh kính nể.
        Năm 820, Vũ Hồn đã đỗ kỳ thi Đình khi mới 16 tuổi. Vua Đường rất khen ngợi và cho là nhân tài, vì ngoài thơ văn hay, sách lược giỏi, Vũ Hồn còn tinh thông cả khoa thiên văn – Địa lý – Phong thủy. Vua ban cho mũ áo để về vinh quy. Tuy còn trẻ tuổi nhưng có tài, vì vậy ít lâu sau vau Đường xuống chiếu bổ dụng Tả Thị Lang Bộ Lễ – một chức quan khá trong triều đình – vì Bộ Lễ phụ trách lễ nghi, cúng tế và thi cử trong nước. Được 2 năm thăng chức Đô Đài Ngự Sử.
      Năm 825 ( Ất Tỵ) đời vua Đường Kính Tông, niên hiệu Bảo lịch thứ nhất, Vũ Hồn được cử sang An Nam làm Thứ Sử Giao Châu.
       Năm 841(Tân Dậu) đời Đường Vũ Tôn, niên hiệu Hội Xướng thứ nhất, Vũ Hồn được thăng chức kinh lược sứ thay Hàn Uớc. Trong thời gian ở An Nam, Kinh lược sứ Vũ Hồn đã đi kinh lý và xem xét nhiều nơi, đồng thời để tâm chủ ý việc tìm địa điểm để định cư sau này,vì ngài đã muốn chọn quê ngoại làm quê hương. Ngài đã nhiều lần về Mạn Nhuế thăm mộ ông Nội ở Đống Dờm, sau đó đã đi thăm tất cả các vùng lân cận,. Một lần Ngài đến trang Lạp Trạch huyện Đường An thấy về phía tây thôn ấy có cách đồng hoang, cỏ lau rậm rạp, rải rác có những gò đống tựa 5 con ngựa, 7 ngôi sao hoặc những ao mà dưới đáy có doi đất nổi lên như hình quả bút, nghiên mực, quyển sách… Theo kiến thức về địa lý- phong thủy là một kiểu đất đẹp, kết. Ngài đã ghi chép lại để khi cần thì sử dụng .
       Trong thời gian Ngài giữ chức Kinh lược sứ tại An Nam, thì đất An Nam thường không yên; do nhiều nguyên nhân trong đó chủ yếu là dân An Nam thường hay nỗi dậy, do quân Nam Chiếu từ vùng Vân Nam hay sang quấy nhiễu, do dân tình đói khổ sinh ra nhiều giặc cướp. Các quan đô hộ trước đó, như Lý Nguyên Gia, Hàn Ước nhiều khi bỏ chạy, do đó sau náy họ dời phủ thành từ đông quan( vùng ngoại thành Hà Nội) về bờ sông Tô Lịch (Hà Nội ngày nay). Khu phủ thành mới sẽ có đất đủ xây dựng hàng chục ngàn căn nhà với dân số có thể phát triển đến cả trăm ngàn người (thành tổng binh).
       Do công trình quá lớn, xây dựng tốn kém, mà quân lính thì phải phục dịch xây dựng rất vất vả, nên sinh ra thái độ tiêu cực, chống đối. Do đó, Phủ thành mới, xây mãi không xong.
       Đến khi Kinh lược sứ Vũ Hồn thay Hàn Ước thì Ngài lại tiếp tục xây dựng công trình dỡ dang đó, kiến quân lính ngày đêm phải lao dịch cực nhọc nên quân sĩ sinh ra bất mã, nỗi loại, đốt phá lầu thành, cướp kho phủ. Ngài phải chạy về Quảng Châu. Sau đó,Giám quân đoàn Sĩ Tắc dụ yên được binh sĩ làm loạn.
      Vì Kinh lược sứ Vũ Hồn không dẹp được hoặc không muốn dẹp cuộc nổi loạn của quân sĩ mà bỏ về Trung Quốc nên vua Đường đã bãi chức Kinh lược sứ của Vũ Hồn và cử Bùi Nguyên Dụ sang thay.
       Tuy Kinh lược sứ Vũ Hồn bị thất bại trong nhiệm vụ đô hộ bên An Nam vào năm 843, nhưng vì đã có nhiều công lao trong hơn 20 cống hiến cho vua Đường, nên vua Đường Vũ Tôn đã không có hình phạt nghiêm khắc, mà còn cho Vũ Hồn được hưởng đặc ân.
      Một phần ngài đã nản công danh, do không còn được trọng dụng, một phần nhà Đường lúc đó có 2 phe: Lý Đức Du và Ngưu Tăng Nhu tranh giành quyền lực, sát hại nhau, lấn áp cả vua, mà ngài thì không theo phe nào, nên xin với vua Đường cho hưởng đặc ân “ xin về trí sĩ”.
Năm 843, đời Đường Vũ Tôn, năm Hội Xướng thứ ba, vua Đường chuẩn y, ban cho nhiều vàng bạc, và Ngài Vũ Hồn được nghĩ việc quan từ. Năm đó Ngài mới có 39 tuổi
       Lúc đương thời làm quan ở Giao Châu. Thủy Tổ Vũ Hồn đã có ý định sau này định cư ở quê ngoại, nên đã chú ý tìm đất và đã tìm được vùng đất Lạp Trạch, sau này là thôn Khả Mộ, rồi Mộ Trạch huyện Đường An như trên đã nói
       Sau khi Ngài nghĩ việc quan, ngài liền đưa mẹ sang An Nam định cư( Theo Ngọc Phả hiện lưu giữ ở đình làng Mộ Trạch- Ngài nói: “ Người xưa được một ngày nuôi cha mẹ, dẫu làm đến tam công cũng không sướng bằng, ta nay còn có mẹ già, há nên tham giau sang mà không nghĩ đến hiếu dưỡng hay sao?”
       Ngài xây dựng nhà cửa, dinh cơ cho gia đình, rồi gọi dân cư ở rải rác các vùng xung quanh về ở, giúp đỡ họ tiền bạc đễ xây dựng nhà cửa, mở trường dạy học,lập nên một xóm nhỏ, đặt tên là Khả Mộ Trang ( có nghĩa là ấp đáng mến), sau dân cư đông đúc thêm đổi tên thành Khả Mộ thôn dần dần thành một thôn ấp có văn hoá, có lễ nghĩa và làm ăn thịnh vượng.
       Do công đức to lớn của Ngài, và do dân làng Khả Mộ tôn kính Ngài như cha mẹ, nên đã xin với Ngài rằng: “Lâu đài ngài hiện nay để ở, sau khi Ngài mất, dân làng sẽ dùng làm miếu để thờ phụng Ngài”. Ngài ưng cho, lại bảo rằng: “ Trang khu có hậu đạo với ta thí phải trọng lời di chúc của ta, mà ngàn năm thờ phụng”. Ngài lại cho thêm năm nén vàng, tậu ruộng ao để cung ứng cho việc tế tự, khỏi phiền dân đóng góp.
       Khi mẹ Ngài qua đời( Cụ bà Nguyễn Thị Đức), ngài khóc than khôn xiết rồi rước linh cữu mẹ lên táng ở xã Kiệt Đặc huyện Thanh Lâm- sau này thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, cũng là vùng lân cận với Mạn Nhuế, quê ngoại của Ngài, và cũng là nơi có mộ ông nội Ngài 6. Ngài đã ở quê ngoại, trông nôm ngôi mộ mẹ ngài ở Kiệt Đặc trong thời gian 3 năm ròng, đúng như luân lý và lễ giáo ngày xưa. Mãn tang, ngài trở về ấp khả Mộ sinh sống, dạy học cho trang làng.
       Năm 853- Quý Dậu – năm ngài vừa đúng 49 tuổi, một hôm vào ngày 03 tháng Chạp, ngài đương ngồi dạy học, thì thấy trong mình khó chịu, rồi thiếp đi, không bệnh gì mà hoá. Trang dân và gia thần bèn rước ngài lên xứ Đồng Cạn, một gò đất nhỏ trong cánh đồng phía tây Bắc thôn trang để an táng.
       Bỗng nhiên, trời đất tối sầm, mây mù vây kín. Giờ lâu, trời quang mây tạnh, thì đã kiến, mối đùn lấp thành một ngôi mộ lớn. Trang dân và gia thần đều kinh hãi phãi báo lên quan, để tâu lên vua. Vua Đường cho truy nguyên lúc bình nhật, sắc phong là một vị Phúc Thần.
       Lại Phong:
       Đương cảnh Thần Hoàng
       Lâu đài cư sĩ
       Linh Ứng Đại Vương
       Chuẩn cho khu thượng trang Khả Mộ lên kinh thành rước mĩ tự về miếu phụng thờ, cắm đất ấy là Mả Thần dựng mộ chí, địa phương phải ngàn vạn năm thờ cúng.
       Vì vậy, đến nay khu gò đất táng di hài ngài có tên Mả Thần và cánh đồng ấy cũng gọi là cánh đồng Mả Thần. Mả Thần được tôn tạo và tu bổ vào năm Quý Dậu (1993) và nay gọi là Thần Lăng. Tại Mả Thần7 chỉ có một ngôi mộ của ngài, dân ấp không một ai dám táng thân nhân vào đấy để tỏ lòng tôn kính ngài. Sau khi cụ Thuỷ Tổ qua đời, đến lược cụ Bà cũng được dân làng và con cháu táng liền kế bên, gọi là mộ song táng.
       Dân làng lại tôn ngài làm Thành Hoàng, mới đầu thì thờ Ngài tại dinh cơ Ngài để lại, vè sau làm đình, miếu thờ cũng để ghi công Ngài vừa là người khai ấp Khả Mộ, vừa là người dạy dỗ đem học vấn, lễ nghĩa đến cho họ và con cháu các họ, giữa thôn dân với Ngài có ơn nặng tình sâu
       Xét công lao to lớn của Ngài, và của các con cháu Ngài đã đóng góp các thành tích đáng kể cho đất nước, do đó các triều đại phong kiến Việt Nam đã lần lược gia phong cho Ngài làm Thần Vương tất cả 12 lần với 12 đạo sắc như sau:
        – Lần thứ nhất: Đời Lê Hoàng (980 – 1009)
        – Lần thứ hai: triều vua Trần Nhân Tông, giặc Nguyên đang cướp nước ta, Đức Trần Quốc Tuấn – Hưng Đạo Đại Vương phụng mệnh kỳ đảo bách thần. Đức thần tổ có hiển âm phù. Khi đã dẹp xong giặc Nguyên: Phàn Tiếp, Ô Mã Phi, vua Trần bèn phong:
        Thông minh tuệ trí hùng trác vĩ
        Thượng đẳng thần
       – Lần thứ ba: Đời vua Lê Thái Tổ dấy quân khởi nghĩa ở núi Lam Sơn, chống giặc Minh, dẹp được Mộc Thạch. Liễu Thăng, mười năm dẹp yên được thiên hạ lại phong
        Tế thế an dân, linh phù ngưng hữu
        Thượng đẳng thần
        Tiếp theo đến đời Lê Trịnh, lại có 5 đại sắc phong nữa.
        Lần thứ tư: Triều Tây Sơn – Nguyễn Huệ được phong 1 lần
        – Lần thứ năm: Triều Nguyễn Gia Long.
        Được phong 2 lần
       – Lần thứ sáu: Đời vua Tự Đức, sắc phong “ Tối linh phù vận Đại Vương”
       Từ hơn một năm nay, dân làng Mộ Trạch vẫn thờ đức Thần Hoàng Vũ Hồn ở miếu và đình. Miếu và đình đã được xây dựng thời thời xa xưa, và sau này đã được tu tạo và xây lại nhiều lần.
       Thời gian đầu, miếu xây ở phía sau làng. Đến đời vua Lê Thần Tôn (1658- 1662) miếu được về khu vực Long Nhãn “ Mắt Rồng” như hiện nay. Năm Quý Dậu (1993) bên cạnh miếu đã xây thêm nhà khách để đón tiếp các hậu duệ họ Vũ ở tất cả các mọi nơi về thâm đất Tổ
      Còn về đình, thì đầu tiên đình cũ xây  ở phía tây đầu thôn, và đặc hướng tây.
       Đến đời vua Lê Hy Tôn và chúa Trịnh Căn (1697) đã được xây thành đình lớn.
       Giữa đình thời thần Hoàng Vũ Hồn, hai bên tả, hữu là hai khu thờ phụng của các giáp (có 12 giáp ).
        Năm 1740 – 1741 đời vua Lê Hiển Tôn và cuối đời chúa Trịnh Giang, đình làng bị chúa Trịnh triệt hạ. Nguyên nhân, do cuộc khởi nghĩa Trác Oánh, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, năm 22 tuổi đã độ Hương cống Khoa thi hội năm Bính Thân, niên hiệu thịnh Đức 4, toàn quốc chỉ có 6 người đỗ Tiến sĩ, riêng làng Mộ Trạch đã có 3 người. Tiến sĩ Vũ Trác Lạc( Vũ Trác Lạc là vai ông của Vũ Trác Oánh ), Tiến sĩ Vũ Đăng Long và Tiến sĩ Vũ Công Lượng. Sau này, khi vua Tự Đức – nhà Nguyễn – đọ được tư liệu về Đăng Khoa lạu đã hạ bút khen :
       “ Nhất gia bán thiên hạ”
       Có nghĩa là : “Một nhà bằng nữa thiên hạ”
       Vũ Trác Lạc đã làm quan đến Tham Chính, và được vua Lê phong Tước Nam.
       Do thấu hiểu sự mục tàn của vua Lê – chúa Trịnh và sự đói khát. Thống khổ của nhân dân khắp địa phương thời bấy giờ, nên Vũ Trác Oánh đã lãnh đạo nông dân nổi dậy. Vũ Trác oánh kéo cờ khởi nghĩa với tên xưng Minh Nghĩa Công đã phối hợp cùng Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ (ở Ninh Xá – Hải Dương) chống lại triều đình. Vì sức yếu và tổ chức chưa tốt, chưa tạo được quần chúng nhân dân một sự giác ngộ bền vững, do đó sau 3 năm (1739 – 1741 ) đã bị quân đội nhà Trịnh dẹp tan. Nguyễn Tuyển tử trận. Nguyễn Cừ bị bắt rồi bị xử tử, còn Vũ Trác Oánh mất tích, không biết sau này chạy về đâu. chính vì vậy, mà đình làng Mộ Trạch bị chúa Trịnh cho triệt hạ vào năm 1741.
       16 năm sau, vào năm 1757 cũng đời vua Lê Hiển Tông chúa Trịnh Doanh, bà Nhữ Thị Thuận và chồng là Vũ Phương Đẩu đã xin phép dân làngcho được lại ngôi đình đã bị phá. Bà đã bỏ tiền riêng của gia đình, hơn ba ngàn quan tiền để xây dựng lại đình làng làm xong, bà không nhận tiền của dân làng đóng góp. Bà lại còn công đức thêm 10 mẫu ruộng để lấy hoa lợi làm lễ cúng tế hằng năm. Vì vậy, dân làng rất kính trọng Bà. Khi Bà mất, dân làng đã phong Bà làm Hậu Thần. Ở đình làng hiện nay có bia đá ghi công đức Bà, đặt ở bên cạnh Hậu Cung.
       Đình làng khi đó được xây dựng thành một quần thể kiến trúc gồm : Đình ngoài, đình trong, hậu cung và sân đình với các cột đồng trụ bao quanh.
       Đình làng lại bị giặc Pháp phá hủy trong thời gian kháng chiến chống Pháp 1946 – 1954. Giặc Pháp đã phá dỡ đình ngoài, lấy gạch để xây đồn bốt. Hiện nay chỉ còn lại d0ình trong và Hậu Cung. Đến năm 1991, Đình trong đã được dân làng tạm tu bổ lại. Hiện nay đình làng đã được nhà nước Việc Nam xếp hạng là “ di tích lịch sử văn hoá Quốc Gia”, cần được duy trì bảo tồn – ( quyết định số 154 ngày 15/01/1991 của bộ văn hoá nước  CHXHCN Việt Nam.
       Cuối năm 1993 – Tiến sĩ vật lý Vũ Ngọc Thịnh – Việt Kiều ở Nhật Bản cùng gia đình ở TP. Hồ CHí Minh (gốc quê ở làng Mộ Trạch) đã công đức xây lại Thần Lăng và khánh thành vào ngày 8 tháng giêng năm Quý Dậu (1993). Cùng ngày, cũng khánh thành nhà khách Miếu thờ thần tổ do công đức của gia đình kỹ sư Vũ Mạnh Hà ở TP. Hà Nội. Kỹ sư Vũ Mạnh Hà là hậu duệ các cụ  tổ Vũ Phong – trạng vật – và Vũ Duy Chí tể tướng đều có gốc họ Vũ làng Mộ Trạch thuộc Tiền Ngũ chi và Hậu Ngũ chi. Cụ tể tướng Vũ Duy Chí hiện còn nhà thờ Quang Chấn Đường ờ làng Mộ Trạch.

HỌ VŨ VIỆT NAM, HỌ VŨ TRÀ PHƯƠNG VÀ VIỆC XÂY NHÀ THỜ HỌ HIỆN NAY




Núi Trà Phương nhìn từ phía Tây Nam.

         Theo gia phả, tộc phả và thần phả ở làng Mộ Trạch, tỉnh Hải Dương. Ông tổ họ Vũ là Vũ Hồn (804-853) con trai một quan phủ nhà Đường (618-907) tên là Vũ Huy, người làng Mã Kỳ, huyện Long Khê, phủ Thường Châu, tỉnh Phúc Kiến. Sau khi từ quan Vũ Huy du ngoạn phương Nam đến đất Giao Châu. Ngài lấy Nguyễn Thị Đức ở làng Mạn Nhuế thuộc huyện Thanh Lâm đất Hồng Châu ( nay là tỉnh Hải Dương) sinh Vũ Hồn ngày 8 tháng Giêng năm Giáp Thân (804), húy nhựt ngày mùng 3 tháng chạp âm lịch năm 853. Hiện đền thờ tại Mộ Trạch, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (1) Nay họ Vũ ở Việt nam còn gồm họ Võ là một dòng họ lớn có nhiều danh nhân đất Việt và số nhân khẩu khá đông.

         Theo lịch sử họ Vũ đến Trà Phương trước thế kỷ XV, Thái Hoàng Thái Hậu đầu triều Mạc là người họ Vũ – Trà Phương sinh Hoàng đế Mạc Đăng Doanh vị vua anh minh đã chấn hưng và đem lại thái bình cho đất nước. Thái Hoàng Thái Hậu được người đương thời tôn là vị Bồ tát đã chấn hưng đạo Phật đầu thế kỷ XVI, Ngưòi đã cúng hơn 30 mẫu ruộng, vàng 6000 lá cùng nhiều tiền, gỗ… xây sửa nhiều chùa ở Bắc bộ, xây Bà Đanh tự nay là chùa Thiên Phúc, cúng chùa 1,9 mẫu ruộng, cúng làng 101 mẫu 2 sào, 10 thước 3 tấc 8 phân và tạo nên làng Trà vang bóng một thời.


Cánh đồng Hương nhìn từ trên núi Chè còn vết hình cái lược Trong lòng lược là gương hình tròn người nay đã phá dể tiện làm đồng. Thật đáng tiếc!


         Thế mà có ông ở Lan Liễu làng bên nhận Thái Hoàng Thái Hậu là người của làng ấy. Thật là đói rách chẳng ai nhìn, làm một tí quan tám vạn họ nhận liền của tôi?

         Nay tại Trà Phương có 3 họ Vũ không cúng một tổ là: Vũ Duy, Vũ Phú, Vũ Văn, chưa phát hiện 3 họ Vũ này có liên quan với họ Vũ đến Trà Phương từ thế kỷ XV đã di cư khoảng 1592. Họ Vũ Phú cư trú ở phía Tây Nam làng, nơi đã đào thấy 16 chum tiền cổ, bạc nén, chân đá tảng đường kính > 40 cm, nhiều phù điêu bằng đất nung, gạch ngói cổ… có dấu hiệu liên quan đến họ Vũ đến Trà Phương từ thế kỷ XV.




Miếu Bà Chúa gia đình ông Vũ Phú Khanh, Vũ Phú Lô xây lại năm 2010, cây Quyếch  tên lạ cả vùng chỉ có hai cây như rồng chầu vào Miếu vậy!


Đá tảng ở đồng Bến dấu hiệu cung điện thời Mạc liên quan đến họ Vũ



            Tổ họ Vũ Duy đến Trà Phương cách nay khoảng hơn 100 năm, nay chưa xác định di cư từ đâu tới, đã sinh 4 con trai, theo các cụ truyền lại con cả không cùng cha, nên con thứ 2 nắm quyền trưởng như một tồn nghi của họ Vũ Duy. Nay trên đất Trà Phương từ năm 2008 – 2011 họ này xây 3 nhà thờ: nhà thờ Trưởng (cụ thứ 2), thờ cụ Cả, thờ cụ thứ 3, cụ cả không làm trưởng mà là cụ thứ 2, truyện liên quan sự này nhiều người biết nhưng tôi không dám viết vì sợ phạm….

         Xây từ đường và lăng mộ là phong trào đang phát triển ở Hải Phòng, đó là tấm lòng của hậu duệ với tiền nhân. Hiện tượng một họ có nhiều nhà thờ, lăng mộ là vấn đề mà nhà nước, các họ nên nghiên cứu và có định hướng. Vì xây nhiều từ đường và lăng mộ trong một họ là tốn kém và manh mún. Nếu có quy hoặch tốt mỗi họ trong làng tập chung xây một nhà thờ hoặc một lăng mộ chắc công trình sẽ to đẹp hơn, linh thiêng hơn để quy tụ lòng người cùng một họ, tiết kiệm kinh phí và quỹ đất. Nếu các họ không làm tốt việc trên dẫn đến con cháu phải đóng góp nhiều, có người tuyên bố ra họ vì không đủ tiền để góp cho họ, đó là nguồn mất đoàn kết ngay từ trong họ.

         Nhà thờ họ nên xây dựng theo phong thuỷ: trên khu đất cao, quay hướng Nam, Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, nhà nên có từ 3 đến 5 gian, gian giữa là nơi đặt bàn thờ, đồ thờ tuỳ theo hoàn cảnh mà bày cho hài hoà với kiến trúc, tả hữu nên có nhà chứa đồ, tạo cỗ; nhà ở để người họ xa quê không còn anh em ở tại quê, về có nơi nghỉ.

Hậu nhà thờ nên trồng cây có tán xum xuê cây giữa cao hơn tạo thế cho nhà, chim đến làm tổ, ca hát cho hồn người đã khuất và tránh gió Bắc.

        Sân là tiền đường nên lát gạch đất nung, có hồ nước giáp tam quan, cổng không đối diện với gian chính để tránh sát khí đến bài vị của thượng tổ. Xung quanh nhà trồng cau, cây cảnh, cây thuốc… tạo nên phong cảnh hữu tình, thành khu văn hoá tâm linh, cho các bô lão tới vãn cảnh, tập dưỡng sinh…con cháu về giỗ Tổ thêm lòng yêu họ, yêu làng. Vậy chắc nhà thờ có nhiều công năng hơn, sẽ linh thiêng đẹp hơn hẳn khi một họ cùng làng mà xây nhiều nhà thờ.


Nhà thờ họ Vũ Duy ngành trưởng xây năm Tân Mão

      

          Ngày 10 tháng 11 năm Tân Mão họ Vũ Duy khánh thành nhà thờ tổ chính, nắng mùa Đông mà sao vàng rực rỡ, còn địa lợi, nhân hoà đến đâu chỉ người họ Vũ Duy mới thấu hiểu. Hoành tráng nhưng chưa có khuôn viên nên ….

Mỗi họ đều mong muốn có nhà thờ to đẹp để phụng thờ tổ tiên nhưng nên hợp tình, hợp lý, hợp phong thủy … sẽ hơn.

Lợi ích cốt lõi Trung Quốc sẽ mở rộng tới đâu?

Tác giả: NGUYỄN HUY THEO BANGKOKPOST
Việc không ngừng phô trương sức mạnh và đưa ra các yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh tại Biển Đông, cùng với thực tế ngân sách quốc phòng luôn tăng ở mức hai con số và hồ sơ nhân quyền không mấy “sáng sủa” của nước này đang rung lên những hồi chuông báo động trong khu vực.

Trung Quốc hiện tại có tranh chấp gay gắt với Philippines xung quanh bãi cạn Scarborough và với Nhật Bản về quần đảo Senkaku. Cả hai nơi này đều nằm xa bên ngoài vùng lãnh hải của Trung Quốc ở Biển Đông. Thực tế là, sự mở rộng quá mức trong tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ngày nay khiến rất nhiều người châu Á lo lắng rằng, điều gì có thể đáp ứng nổi mong muốn của Trung Quốc để đảm bảo “các lợi ích cốt lõi” của họ.
Nó sẽ là không có giới hạn, hay Trung Quốc ngày nay đang tự coi mình như một đại quốc phục hưng, khiến cả thế giới phải quỵ lụy?
Cho đến thời điểm này, Trung Quốc chính thức tuyên bố Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương là “những lợi ích cốt lõi” – cụm từ bao hàm sự khẳng định chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ mà không có chỗ cho việc thỏa hiệp. Giờ đây, Trung Quốc lại đang nỗ lực áp dụng cụm từ tương tự cho quần đảo Senkaku (mà họ gọi là Điếu Ngư) tại khu vực tranh chấp với Nhật Bản; và dường như với cả toàn bộ Biển Đông (mà trên thực tế một số quan chức quân sự Trung Quốc đã từng đề cập tới).
Quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư ở phía tây Okinawa thuộc biển Hoa Đông và hiện đang không có người ở, nằm dưới sự kiểm soát của Nhật Bản từ thời chính phủ Minh Trị 1895. Trong một thời gian, ở đây thường có người dân đi làm việc tại một nhà máy chế biến cá ngừ. Năm 1969, Uỷ ban Kinh tế LHQ khu vực châu Á và Viễn Đông đã hoàn thành cuộc khảo sát đáy biển tại Hoa Đông và thông báo rằng, khả năng có sự hiện diện rất lớn của các tài nguyên khoáng sản đáy biển bao gồm cả những trữ lượng dầu và khí tự nhiên phong phú ở gần Senkaku/ Điếu Ngư. Hai năm sau dù Đài Loan và Trung Quốc có đưa ra tuyên bố chủ quyền với quần đảo này, nhưng quan điểm của chính phủ Nhật Bản là luôn luôn khẳng định chủ quyền với quần đảo.
Trung Quốc tập trận bắn đạn thật trên biển. Ảnh: THX
Tháng 4 vừa qua, Thị trưởng Tokyo Shintaro Ishihara, một người yêu nước nổi tiếng và có tài ăn nói, đã tuyên bố với chính quyền thành phố rằng, ông có kế hoạch mua bốn trong số các đảo tại Senkaku/ Điếu Ngư hiện tại nằm dưới sự sở hữu tư nhân của công dân Nhật. Số tiền quyên góp lấy tiền mua đảo từ người dân Nhật giờ đây đã vượt quá 700 triệu yên.
Trung Quốc phản ứng với đề xuất của ông Ishihara bằng sự nhạy cảm thường ngày: họ từ chối lịch trình thăm viếng của con trai ông – người giờ đây là tổng thư ký đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản – đảng đối lập chính ở nước này.
Hơn thế nữa, tại một cuộc gặp ở Bắc Kinh đầu tháng này giữa Thủ tướng Nhật Yoshihiko Noda và người đồng cấp Trung Quốc Ôn Gia Bảo trong khuôn khổ hội nghị thượng đỉnh ba bên với Hàn Quốc, ông Ôn đã đề cập tới phong trào độc lập ở khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương với quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư trong cùng một “hơi thở”. Ông nhấn mạnh: ”Điều quan trọng là tôn trọng các lợi ích cốt lõi và những vấn đề quan tâm lớn của Trung Quốc”.
Cho đến thời điểm đó, chính phủ Trung Quốc chưa từng áp dụng cụm từ “lợi ích cốt lõi” với quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư. Sau tuyên bố của ông Ôn, tình hình hội nghị thượng đỉnh ba bên đã xấu đi. Trong khi Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak có các cuộc hội đàm song phương với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, thì cuộc gặp giữa ông Noda  và ông Hồ Cẩm Đào cũng như lịch trình gặp gỡ giữa Chủ tịch Keidanren (Liên đoàn doanh nghiệp Nhật Bản) Hiromasa Yonekura và Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì, đã bị hoãn lại. Tuyên bố chung về hội nghị thượng đỉnh đưa ra sau một ngày, và bỏ qua tất cả những gì liên quan tới Triều Tiên – mối quan tâm hàng đầu của cả Nhật Bản và Hàn Quốc.
Cách cư xử có phần “cộc cằn” của Trung Quốc với lãnh đạo Nhật Bản có lẽ không chỉ là sự phản ứng chỉ với vấn đề quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư mà còn là chuyện Đại hội Uyghur Thế giới diễn ra ở Tokyo hồi tháng 5. Trước đây, các cuộc gặp như vậy được tổ chức ở Đức và Mỹ, và lần này, hội nghị với ưu tiên quan tâm là bảo vệ nhân quyền, bảo tồn các giá trị truyền thống, văn hóa và ngôn ngữ của người Duy Ngô Nhĩ đã không nhận được sự phản đối hay tán thàn chính thức từ chính phủ Nhật Bản.
Nếu ngoại giao cộc cằn là biểu hiện duy nhất của yêu sách lãnh thổ đang không ngừng mở rộng của Trung Quốc, thì có lẽ các nhà ngoại giao châu Á có thể tĩnh dưỡng yên lành hơn. Nhưng thực tế là, hải quân Trung Quốc đang trở nên ngày một tích cực ở Biển Đông, ở quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư và đặc biệt là bãi cạn Scarborough, và còn cả xung quanh quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Với ngân sách quân sự luôn gia tăng ở mức hai con số, thì sự quả quyết trong khẳng định chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc đã rung những hồi chuông báo động với các quốc gia khác ở Biển Đông.
Hơn thế nữa, chuyện Trung Quốc “lấn lướt” Philippines không chỉ bao gồm việc điều hàng loạt tàu thuyền (trong đó có các tàu bán quân sự hiện đại nhất) ra bãi cạn Scarborough, mà còn là quyết định bất ngờ áp dụng hạn chế nhập khẩu các sản phẩm của Philippines. Và phản ứng của Trung Quốc với Nhật Bản thậm chí còn hoang tưởng hơn.
Vụ bê bối chính trị của cựu bí thư thành ủy Trùng Khánh Bạc Hy Lai, sự chuyển giao quyền lực sắp diễn ra dự kiến vào cuối năm nay, vụ việc nhà hoạt động khiếm thị Trần Quang Thành… đã khiến cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc khẳng định chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ hơn bình thường. Không một quan chức nào muốn thể hiện sự “mềm mại ôn hòa” về cái gọi là “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc.
Tới thời điểm này, Trung Quốc chưa có kiểu biểu tình lớn như thường diễn ra trong quá khứ với Nhật Bản và các nước khác, nhưng có lẽ nó cũng phản ánh thực tế rằng, các nhà lãnh đạo Trung Quốc khó có thể đảm bảo một cuộc biểu tình như thế sẽ không biến thành cuộc phản đối chính phủ.
Lợi ích cốt lõi thực sự của Trung Quốc không nằm ở chuyện mở rộng lãnh thổ hay áp đặt bá quyền với các nước láng giềng. Nó nằm ở nỗ lực nâng cao nhân quyền và cải thiện phúc lợi cho chính người dân của họ, đây cũng là lợi ích cốt lõi của thế giới ở Trung Quốc. Nhưng chỉ khi Trung Quốc chấp nhận rằng, tuyên bố chủ quyền của họ ở Biển Đông cần phải được thảo luận đa phương, và các nước nhỏ hơn ở Đông Nam Á sẽ không cảm thấy bị đe dọa, nếu không “các lợi ích cốt lõi” mà Trung Quốc đang không ngừng mở rộng sẽ là gốc rễ của sự bất ổn ở Đông Á.
Theo bangkokpost

EM KHÔNG MUỐN HÔN….EM MUỐN LÊN GIƯỜNG…

Nó và anh yêu nhau được gần 2 năm rồi. Thời gian vừa qua thực sự nó thấy rất tuyệt diệu. Nó cảm thấy như nó được Thượng Đế ưu ái khi ban tặng anh cho nó. Anh đẹp, tài giỏi và rất đàn ông. Anh nói anh thích ngắm nhìn nó cười, anh yêu nụ cười híp mí của nó. Vì lẽ đó nên suốt 2 năm yêu nhau dù có xảy ra chuyện gì, nó cũng không bao giờ khóc.Một lần anh rủ nó đi dự tiệc cùng. Trong bữa tiệc nó gặp một người đàn ông, bố anh ta là đối tác của anh, và anh ta cứ ngắm nhìn nó. Điều này làm nó rất khó chịu nhưng nó không nói gì.Gần đây công việc của anh gặp chút rắc rối, anh có ít thời gian để chăm sóc nó nhưng nó không giận, nó chỉ thấy thương anh hơn thôi.
Tối hôm đó nó chuẩn bị đi ngủ thì nhận được điện thoại của anh, có vẻ như anh đang rất buồn. Anh khóc, anh nói rằng công ty của anh sắp phá sản, anh nói rằng có thể anh sẽ mắc nợ cả trăm triệu. Nghe anh nói chuyện nó chỉ muốn chạy ngay đến ôm lấy anh nhưng nó không thể. Đã gần 12h, nó không thể ra khỏi nhà. Vì thế nó cảm thấy mình thật bất lực và vô dụng khi chỉ có thể an ủi anh những câu bình thường như một người bạn.
Một tuần sau đó nó hẹn anh ra gặp mặt:
-Anh này, chúng mình chia tay nhé! -Nó nói với khuôn mặt không chút cảm xúc, còn anh thì như vừa bị sét đánh, trân trân nhìn nó. Anh không nói gì, cũng không hỏi nó lý do chia tay. Anh nghĩ giờ mình chỉ là một kẻ bất tài vô dụng đang nợ nần chồng chất, có lẽ nên giải thoát cho nó.
-Cho anh hôn em lần cuối được không?
-Em không muốn hôn, em muốn lên giường!
-Không được, sau này em còn phải lấy chồng nữa.Anh buồn bã nói. Nó nhìn xoáy sâu vào đôi mắt anh. Bằng một ma lực không thể chối từ, đêm đó nó đã trở thành người đàn bà của anh.Sáng hôm sau tỉnh dậy nó đã đi.
Bên cạnh anh chỉ còn bông hoa hồng sắp héo úa đè lên những giọt máu đỏ sẫm trên nền ga trắng. Anh ngồi bần thần một lúc lâu. Bỗng điện thoại áo có tin nhắn, là số của nó. “Em yeu anh!” Anh như chết đứng, ngay lập tức anh gọi lại thì đã thành thuê bao. Anh không hiểu nổi nó đang nghĩ gì nữa, nhưng nó làm anh phát điên. Anh không đi tìm nó mà chuyên tâm vào làm ăn. Có một công ty đồng ý đầu tư để giúp công ty khỏi đà phá sản.Thời gian sau anh gặp lại nó, xinh đẹp, ăn chơi và sành điệu hơn tỉ lần. Anh được biết hiện nó đang cặp với một công tử rất giàu, giàu hơn anh. À ra vậy, anh cười thầm, hoá ra người mà anh đã từng rất rất yêu cũng chỉ vậy thôi.
Hơn một năm sau anh lấy vợ, một người phụ nữ chín chắn, điềm đạm nhưng cô ấy không có nụ cười híp mí như nó, cô ấy yếu đuối hay khóc, và cô ấy không còn trinh. Anh không trách và dằn hắt vợ. Anh nghĩ về những giọt máu trên ga giường ngày hôm đó. Có lẽ đây là cái giá anh phải trả.Giờ đây công việc của anh đang tiến triển rất tốt, gia đình rất hạnh phúc, duy chỉ có điều đứa con gái của anh khi mới sinh ra đã bị viêm võng mạc nên mất khả năng nhìn. Vợ chồng anh rất đau khổ vì điều đó, hai người luôn hi vọng có một nhà hảo tâm nào đó sẽ hiến tặng mắt cho bé.Anh tình cờ gặp lại nó sau 3 năm mất liên lạc. Giờ trông nó đẹp hơn, dịu dàng hơn và đàn bà hơn.
-Lâu lăm không gặp, em dạo này sao rồi?
-Em vẫn khoẻ, em lấy chồng và định cư luôn ở Mĩ. Thế còn anh thì sao?
-Anh cũng kết hôn rồi…Anh kể về đứa con mới 1 tuổi bị mù của mình cho nó.
Lần thứ hai nó thấy anh khóc. Lần thứ nhất khi công ty anh sắp phá sản. Ừhm, anh chưa bao giờ khóc vì nó, chưa bao giờ.Không khí trở nên nặng nề và căng thẳng.
Cuối cùng nó là người kết thúc:
-Mai em phải về Mĩ rồi, em xin phép về trước chuẩn bị hành lý. Anh đừng buồn nhé, rồi bé sẽ khoẻ mạnh lại thôi.
Anh cười, một nụ cười rất buồn.Mấy ngày sau anh nhận được tin từ bệnh viện là có người hiến mắt cho con gái anh. Không có lời nào diễn tả được niềm hạnh phúc và vui mừng của vợ chồng anh lúc này. Anh không được biết người hiến mắt là ai nhưng anh vô cùng cảm kích và thầm cảm ơn người đó rất nhiều.
Một tháng sau ca phẫu thuật, con gái anh đã có thể tự nhìn cuộc sống bằng chính đôi mắt của nó.Vào một ngày, anh nhận được một hộp quà do không rõ người tặng gửi đến, trong đó là một cuốn sổ nhật ký và một lá thư. Không biết có sự thôi thúc gì mà anh ngồi lặng lẽ trong phòng làm việc và đọc hết…
Lá thư là của một người đàn ông “Tôi không muốn gửi cuốn sổ này cho anh, cô ấy cũng không muốn, nhưng lương tâm tôi bắt ép tôi phải làm, nếu không tôi sẽ không sống nổi quãng đời còn lại. Cô ấy là một người phụ nữ tốt, anh thật may mắn khi được cô ấy yêu như vậy!”
Là nó, trang đầu tiên anh mở ra là ảnh hai người chụp nhân kỉ niệm một năm yêu nhau.
“Ngày…tháng…năm…Hôm nay em thấy anh khóc qua điện thoại, em chỉ muốn chạy ngay đến để ôm chặt lấy anh nhưng em không thể, em xin lỗi, em thật vô dụng…”
“Ngày…tháng…năm…Thật kinh khủng, có người đàn ông tìm em và nói nếu em đồng ý làm người tình của anh ta thì anh ta sẽ giúp công ty anh khỏi bị phá sản. Em rất yêu anh, em không thể phản bội anh, nhưng em càng không thể thấy anh khổ sở, khó khăn mà không giúp gì được như thế…”
“Ngày…tháng…năm…Hôm nay em quyết định chia tay, em nói muốn lên giường với anh. Anh nhìn em giống như em là 1 con điếm rẻ tiền thèm khát dục vọng vậy. Em đâu muốn thế, em chỉ muốn dành tặng cái thứ quý giá nhất cho người em yêu thôi. Nếu không em sợ em sẽ hư hỏng với bất kỳ người đàn ông xấu xa nào mất…”
“Ngày…tháng…năm…Người đàn ông đó rất quan tâm và yêu thương em nhưng không làm em quên đi hình ảnh của anh được. Dù không yêu, em vẫn đồng ý kết hôn với người ấy như để trả nợ. Anh ơi, cuộc đời sao mà bất công thế, tạo hoá đang trêu ngươi em. Ngày em đi mua nhẫn cưới cũng là ngày em biết mình bị ung thư cổ tử cung. Nếu phẫu thuật em sẽ không chết nhưng sẽ mất đi khả năng làm mẹ. Còn gì đau khổ hơn với người phụ nữ không thể sinh con? Và sau ca phẫu thuật, em đã rời bỏ anh ấy, để anh ấy có thể cưới một cô vợ theo đúng nghĩa…”
“Ngày…tháng…năm…Em đã trở thành một con điếm cao cấp anh ạ! Em sẵn sàng lên giường với bất cứ người đàn ông nào cho em tiền. Em cặp với rất nhiều đại gia, cuộc sống của em trở nên buông thả và sa đoạ đến không ngờ. Những lúc mệt mỏi và tuyệt vọng, em luôn nhớ đến anh, em thực sự rất nhớ anh…”
“Ngày…tháng…năm…Hôm nay em được biết mình chẳng còn sống được bao nữa anh à. Vết mổ lần trước bị nhiễm trùng, di căn lên cả vùng bụng. Buồn thật, cuộc đời đúng là đang rẻ rúng em mà. Mà thôi, dù sao em sống thế này đủ rồi, em không muốn tiếp tục nữa, nhưng trước khi chết em muốn gặp lại anh, một lần thôi…”
“Ngày…tháng…năm…Đây là lần thứ 2 em thấy anh khóc. Đứa con gái bé bỏng tội nghiệp của anh bị mù, có lẽ anh đau lòng lắm! Thấy anh buồn như vậy trái tim em như muốn vỡ tan ra vậy…”
“Ngày…tháng…năm….Hôm nay tròn 5 năm chúng ta yêu nhau, và cũng sẽ là ngày em kết thúc cuộc đời đau khổ này. Dù sao em cũng không cần đến đôi mắt này nữa, em sẽ tặng nó cho con gái anh, để em mãi mãi được ngắm nhìn anh. Lời cuối em muốn nói rằng em rất rất yêu anh. Vĩnh biệt anh!”
Đọc xong quyển nhật kí gần 3 năm đầy đau khổ và nước mắt của nó, anh dường như chết ngay tại lúc đó. Anh không ngờ nó lại yêu anh nhiều như thế, anh mắc nợ nó quá nhiều. Trong vô thức, nước mắt anh rơi, lần này là vì nó nhưng nó mãi mãi không bao giờ thấy được nữa.Anh vào phòng, vợ anh đang ngủ, anh đến gần cái nôi của con gái. Đứa con của anh vẫn đang mở to đôi mắt để nhìn mọi thứ xung quanh. Thấy bố, con bé khẽ cười, nụ cười híp mí vô cùng đáng yêu. Anh cúi xuống hôn nhẹ lên trán con một cái, nước mắt anh rơi ướt cả gối của con. Anh lại gần giường kéo chăn lên cho vợ rồi ra khỏi phòng.
Sáng hôm sau vợ anh tìm thấy trong phòng làm việc của anh 2 tờ giấy. Một là đơn từ chức, hai là đơn ly hôn. Tất cả tài sản và căn nhà anh để lại hết cho vợ con, nhưng anh đi đâu thì không một ai biết….

EM KHÔNG MUỐN HÔN….EM MUỐN LÊN GIƯỜNG…

Nó và anh yêu nhau được gần 2 năm rồi. Thời gian vừa qua thực sự nó thấy rất tuyệt diệu. Nó cảm thấy như nó được Thượng Đế ưu ái khi ban tặng anh cho nó. Anh đẹp, tài giỏi và rất đàn ông. Anh nói anh thích ngắm nhìn nó cười, anh yêu nụ cười híp mí của nó. Vì lẽ đó nên suốt 2 năm yêu nhau dù có xảy ra chuyện gì, nó cũng không bao giờ khóc.Một lần anh rủ nó đi dự tiệc cùng. Trong bữa tiệc nó gặp một người đàn ông, bố anh ta là đối tác của anh, và anh ta cứ ngắm nhìn nó. Điều này làm nó rất khó chịu nhưng nó không nói gì.Gần đây công việc của anh gặp chút rắc rối, anh có ít thời gian để chăm sóc nó nhưng nó không giận, nó chỉ thấy thương anh hơn thôi.
Tối hôm đó nó chuẩn bị đi ngủ thì nhận được điện thoại của anh, có vẻ như anh đang rất buồn. Anh khóc, anh nói rằng công ty của anh sắp phá sản, anh nói rằng có thể anh sẽ mắc nợ cả trăm triệu. Nghe anh nói chuyện nó chỉ muốn chạy ngay đến ôm lấy anh nhưng nó không thể. Đã gần 12h, nó không thể ra khỏi nhà. Vì thế nó cảm thấy mình thật bất lực và vô dụng khi chỉ có thể an ủi anh những câu bình thường như một người bạn.
Một tuần sau đó nó hẹn anh ra gặp mặt:
-Anh này, chúng mình chia tay nhé! -Nó nói với khuôn mặt không chút cảm xúc, còn anh thì như vừa bị sét đánh, trân trân nhìn nó. Anh không nói gì, cũng không hỏi nó lý do chia tay. Anh nghĩ giờ mình chỉ là một kẻ bất tài vô dụng đang nợ nần chồng chất, có lẽ nên giải thoát cho nó.
-Cho anh hôn em lần cuối được không?
-Em không muốn hôn, em muốn lên giường!
-Không được, sau này em còn phải lấy chồng nữa.Anh buồn bã nói. Nó nhìn xoáy sâu vào đôi mắt anh. Bằng một ma lực không thể chối từ, đêm đó nó đã trở thành người đàn bà của anh.Sáng hôm sau tỉnh dậy nó đã đi.
Bên cạnh anh chỉ còn bông hoa hồng sắp héo úa đè lên những giọt máu đỏ sẫm trên nền ga trắng. Anh ngồi bần thần một lúc lâu. Bỗng điện thoại áo có tin nhắn, là số của nó. “Em yeu anh!” Anh như chết đứng, ngay lập tức anh gọi lại thì đã thành thuê bao. Anh không hiểu nổi nó đang nghĩ gì nữa, nhưng nó làm anh phát điên. Anh không đi tìm nó mà chuyên tâm vào làm ăn. Có một công ty đồng ý đầu tư để giúp công ty khỏi đà phá sản.Thời gian sau anh gặp lại nó, xinh đẹp, ăn chơi và sành điệu hơn tỉ lần. Anh được biết hiện nó đang cặp với một công tử rất giàu, giàu hơn anh. À ra vậy, anh cười thầm, hoá ra người mà anh đã từng rất rất yêu cũng chỉ vậy thôi.
Hơn một năm sau anh lấy vợ, một người phụ nữ chín chắn, điềm đạm nhưng cô ấy không có nụ cười híp mí như nó, cô ấy yếu đuối hay khóc, và cô ấy không còn trinh. Anh không trách và dằn hắt vợ. Anh nghĩ về những giọt máu trên ga giường ngày hôm đó. Có lẽ đây là cái giá anh phải trả.Giờ đây công việc của anh đang tiến triển rất tốt, gia đình rất hạnh phúc, duy chỉ có điều đứa con gái của anh khi mới sinh ra đã bị viêm võng mạc nên mất khả năng nhìn. Vợ chồng anh rất đau khổ vì điều đó, hai người luôn hi vọng có một nhà hảo tâm nào đó sẽ hiến tặng mắt cho bé.Anh tình cờ gặp lại nó sau 3 năm mất liên lạc. Giờ trông nó đẹp hơn, dịu dàng hơn và đàn bà hơn.
-Lâu lăm không gặp, em dạo này sao rồi?
-Em vẫn khoẻ, em lấy chồng và định cư luôn ở Mĩ. Thế còn anh thì sao?
-Anh cũng kết hôn rồi…Anh kể về đứa con mới 1 tuổi bị mù của mình cho nó.
Lần thứ hai nó thấy anh khóc. Lần thứ nhất khi công ty anh sắp phá sản. Ừhm, anh chưa bao giờ khóc vì nó, chưa bao giờ.Không khí trở nên nặng nề và căng thẳng.
Cuối cùng nó là người kết thúc:
-Mai em phải về Mĩ rồi, em xin phép về trước chuẩn bị hành lý. Anh đừng buồn nhé, rồi bé sẽ khoẻ mạnh lại thôi.
Anh cười, một nụ cười rất buồn.Mấy ngày sau anh nhận được tin từ bệnh viện là có người hiến mắt cho con gái anh. Không có lời nào diễn tả được niềm hạnh phúc và vui mừng của vợ chồng anh lúc này. Anh không được biết người hiến mắt là ai nhưng anh vô cùng cảm kích và thầm cảm ơn người đó rất nhiều.
Một tháng sau ca phẫu thuật, con gái anh đã có thể tự nhìn cuộc sống bằng chính đôi mắt của nó.Vào một ngày, anh nhận được một hộp quà do không rõ người tặng gửi đến, trong đó là một cuốn sổ nhật ký và một lá thư. Không biết có sự thôi thúc gì mà anh ngồi lặng lẽ trong phòng làm việc và đọc hết…
Lá thư là của một người đàn ông “Tôi không muốn gửi cuốn sổ này cho anh, cô ấy cũng không muốn, nhưng lương tâm tôi bắt ép tôi phải làm, nếu không tôi sẽ không sống nổi quãng đời còn lại. Cô ấy là một người phụ nữ tốt, anh thật may mắn khi được cô ấy yêu như vậy!”
Là nó, trang đầu tiên anh mở ra là ảnh hai người chụp nhân kỉ niệm một năm yêu nhau.
“Ngày…tháng…năm…Hôm nay em thấy anh khóc qua điện thoại, em chỉ muốn chạy ngay đến để ôm chặt lấy anh nhưng em không thể, em xin lỗi, em thật vô dụng…”
“Ngày…tháng…năm…Thật kinh khủng, có người đàn ông tìm em và nói nếu em đồng ý làm người tình của anh ta thì anh ta sẽ giúp công ty anh khỏi bị phá sản. Em rất yêu anh, em không thể phản bội anh, nhưng em càng không thể thấy anh khổ sở, khó khăn mà không giúp gì được như thế…”
“Ngày…tháng…năm…Hôm nay em quyết định chia tay, em nói muốn lên giường với anh. Anh nhìn em giống như em là 1 con điếm rẻ tiền thèm khát dục vọng vậy. Em đâu muốn thế, em chỉ muốn dành tặng cái thứ quý giá nhất cho người em yêu thôi. Nếu không em sợ em sẽ hư hỏng với bất kỳ người đàn ông xấu xa nào mất…”
“Ngày…tháng…năm…Người đàn ông đó rất quan tâm và yêu thương em nhưng không làm em quên đi hình ảnh của anh được. Dù không yêu, em vẫn đồng ý kết hôn với người ấy như để trả nợ. Anh ơi, cuộc đời sao mà bất công thế, tạo hoá đang trêu ngươi em. Ngày em đi mua nhẫn cưới cũng là ngày em biết mình bị ung thư cổ tử cung. Nếu phẫu thuật em sẽ không chết nhưng sẽ mất đi khả năng làm mẹ. Còn gì đau khổ hơn với người phụ nữ không thể sinh con? Và sau ca phẫu thuật, em đã rời bỏ anh ấy, để anh ấy có thể cưới một cô vợ theo đúng nghĩa…”
“Ngày…tháng…năm…Em đã trở thành một con điếm cao cấp anh ạ! Em sẵn sàng lên giường với bất cứ người đàn ông nào cho em tiền. Em cặp với rất nhiều đại gia, cuộc sống của em trở nên buông thả và sa đoạ đến không ngờ. Những lúc mệt mỏi và tuyệt vọng, em luôn nhớ đến anh, em thực sự rất nhớ anh…”
“Ngày…tháng…năm…Hôm nay em được biết mình chẳng còn sống được bao nữa anh à. Vết mổ lần trước bị nhiễm trùng, di căn lên cả vùng bụng. Buồn thật, cuộc đời đúng là đang rẻ rúng em mà. Mà thôi, dù sao em sống thế này đủ rồi, em không muốn tiếp tục nữa, nhưng trước khi chết em muốn gặp lại anh, một lần thôi…”
“Ngày…tháng…năm…Đây là lần thứ 2 em thấy anh khóc. Đứa con gái bé bỏng tội nghiệp của anh bị mù, có lẽ anh đau lòng lắm! Thấy anh buồn như vậy trái tim em như muốn vỡ tan ra vậy…”
“Ngày…tháng…năm….Hôm nay tròn 5 năm chúng ta yêu nhau, và cũng sẽ là ngày em kết thúc cuộc đời đau khổ này. Dù sao em cũng không cần đến đôi mắt này nữa, em sẽ tặng nó cho con gái anh, để em mãi mãi được ngắm nhìn anh. Lời cuối em muốn nói rằng em rất rất yêu anh. Vĩnh biệt anh!”
Đọc xong quyển nhật kí gần 3 năm đầy đau khổ và nước mắt của nó, anh dường như chết ngay tại lúc đó. Anh không ngờ nó lại yêu anh nhiều như thế, anh mắc nợ nó quá nhiều. Trong vô thức, nước mắt anh rơi, lần này là vì nó nhưng nó mãi mãi không bao giờ thấy được nữa.Anh vào phòng, vợ anh đang ngủ, anh đến gần cái nôi của con gái. Đứa con của anh vẫn đang mở to đôi mắt để nhìn mọi thứ xung quanh. Thấy bố, con bé khẽ cười, nụ cười híp mí vô cùng đáng yêu. Anh cúi xuống hôn nhẹ lên trán con một cái, nước mắt anh rơi ướt cả gối của con. Anh lại gần giường kéo chăn lên cho vợ rồi ra khỏi phòng.
Sáng hôm sau vợ anh tìm thấy trong phòng làm việc của anh 2 tờ giấy. Một là đơn từ chức, hai là đơn ly hôn. Tất cả tài sản và căn nhà anh để lại hết cho vợ con, nhưng anh đi đâu thì không một ai biết….

Which country is the ‘hoodlum’?

Was that Beijing blogger who labeled the Philippines “a hoodlum country” serious when he urged his government to “use force” to settle the territorial dispute in the South China Sea? And wasn’t Manila entertainer Jim Paredes being facetious in saying that Filipinos should claim Hong Kong’s Statue Square?
Do the overheated exchanges between the two countries’ bloggers border on the infantile? Are Chinoy media commentators and Pinoy columnists overdoing the threats and pontification? Why did I think of a Marx Brothers scenario when the Philippines yanked out the Chinese flag that had been planted on the Spratly Islands some months ago? Isn’t the wrangling over a bunch of shoals (defined in the dictionary as sandbars) a fatuous tit-for-tat game? Isn’t it reminiscent of that kid’s game where one person slaps a hand over the back of his opponent’s hand while the other slaps his over it, with the hand-over-hand slapping continuing until one party tires?
Did announcer He Jia of state-run CCTV in Beijing, who declared early this month that “We all know that the Philippines is China’s inherent territory,” misspeak on purpose, or was she parroting the claim by Chinese officials that the islands in question are “an indisputable part of China’s sovereignty and territorial integrity”? Did her muted apology evaporate into space?
Did Beijing’s pronouncement that China is “prepared to respond to any escalation if Manila engages in more provocations” confirm suspicions among Pinay helpers in Hong Kong that they’re gradually being eased out because more Indonesian women are now being hired as servants in the territory?
Will Hong Kongers and mainland Chinese fulminate forever over President Aquino’s refusal to apologize for the deaths of eight Hong Kong tourists during the 2010 bus hijacking at Rizal Park? Was that a reverberating raspberry response across the sea to his admission that “things could have been handled better”?  Are there really “bacteria problems” in Philippine fruit, as Beijing’s quarantine department claims, which is why they’ve stopped banana imports?
Isn’t this territorial imbroglio somewhat reminiscent of the war Britain waged against Argentina over the Falkland Islands in 1982, when Prime Minister Margaret Thatcher sent her country’s mighty fleet to crush the Latinos? Was Thatcher in the wrong because the Falkland Islands are right next door to Argentina, with Britain half a continent away? Or was that formidable prime minister right in that all of the Falklands’ inhabitants said they preferred to remain British?  Wasn’t there a joke then about that war being like a squabble between two bald men fighting over a comb?
Now that Manila commentators are using “West Philippine Sea” instead of South China Sea, can China be stopped from altering its maps? While it’s obvious that the Scarborough Shoal lies just to the left of Luzon and the Spratly Islands are right next door to Palawan (and closer to Vietnam than to China), where is the United Nations’ Law of the Sea now that it’s needed?  Does the wrangling just boil down to the possibility of finding oil in the disputed areas?
Is anyone concerned that the Philippine Navy is puny compared to China’s? Aren’t most of our ships and military hardware second-hand stuff, courtesy of the US government? Is the Pinoy dream of being a plucky David to China’s greedy giant realistic?
Wasn’t it another Chinese blogger who said that if every Chinese person spat, the Philippines would drown? Didn’t that remind me of finding, when I first came to Hong Kong in the early 1980s, the locals spitting everywhere?  Didn’t the British colony then seem like one big spittoon?  Wasn’t it the late writer Anthony Burgess who described hawking and spitting as “the national sound” made by overseas Chinese?
Didn’t my late mother tell us stories about her Chinoy lolo who washed up in Tayabas from impoverished Amoy, cut off his queue, changed his name to Samson and learned to speak Spanish?  Didn’t he do well by marrying a savvy Pinay, setting up a business and producing 10 children—one of them my grandmother who spoke and sang beautiful Spanish?
Will the verbal assaults keep ricocheting across the ocean while politicians on both sides ignore more pressing problems on land? Is the issue more about human perversity than nationalist pride?  Who knows?
Isabel Escoda is a freelance journalist based in Hong Kong.

BÀI HỌC TỪ LOÀI KIẾN BÉ NHỎ

Thứ nhất: Kiến không bỏ cuộc. Đó là một triết lý đơn giản nhưng rất hữu hiệu. Nếu một con kiến đang đi về một hướng nào đó, và chúng ta tìm cách chặn đường chúng, Kiến sẽ tức thì tìm cho mình một con đường khác. Chúng trèo qua chướng ngại, chui xuống dưới hoặc chui vòng sang bên hông. Chúng không ngừng tìm kiếm một giải pháp khác để vượt qua chướng ngại vật phía trước. Quả là một triết lý gọn gàng và đơn giản: không ngừng tìm kiếm hết cách này đến cách khác để tiến đến mục tiêu mà chúng ta nhắm tới.
Thứ hai, Kiến luôn chuẩn bị cho mùa đông trong suốt mùa hè. Đó là một góc nhìn nhận quan trọng. Bạn không thể quá ngây ngô tin rằng nắng ấm sẽ kéo dài mãi mãi. Vì vậy Kiến làm việc chăm chỉ để tích lũy thức ăn cho mùa đông trong mùa hè. Một lời khuyên từ xa xưa đã dạy: “Đừng xây nhà trên cát vào mùa hè!” Tại sao chúng ta lại cần lời khuyên này? Đơn giản là vì chúng ta cần tiên liệu trước. Trong mùa hè nắng ấm, bạn phải tiên liệu được giá lạnh và mưa bão mùa đông!

Thứ ba, Kiến luôn tin vào mùa hè trong suốt mùa đông! Điều này rất quan trọng. Trong suốt mùa đông giá rét, Kiến tự nhắc mình: “Mọi thứ sẽ sớm qua thôi, và chúng ta sẽ không phải cầm cự quá lâu!”. Và ngày nắng ấm đầu tiên, những con Kiến lại lên đường. Nếu trời lạnh trở lại, chúng sẽ lại chui vào hang, nhưng chúng sẽ quay trở lại ngay khi trời trở ấm! Chúng không thể đợi để lại được làm việc!
Cuối cùng, Kiến sẽ tích lũy bao nhiêu lương thực trong mùa hè để chuẩn bị cho mùa đông? Câu trả lời là “nhiều hết ga có thể”. Đây là một triết lý tuyệt vời, “nhiều hết ga có thể”! Hãy học hỏi loài Kiến trong lần tiếp theo nếu bạn tự hỏi mình: Tôi nên đọc bao nhiêu cuốn sách? Tôi nên chạy bao xa? Tôi nên làm việc đến mức nào? Tôi nên yêu thương đến mức nào? Câu trả lời luôn là: “Nhiều hết ga có thể!”
Ngày hôm nay, dù các bạn đang ở trong mùa đông hay mùa hè, đang chiến đấu hay đang dưỡng sức, hãy nhớ về những chú Kiến và thừa hưởng sự khôn ngoan của chúng nhé! Những triết lý rất giản dị đúng không? Thành công cũng giản dị như vậy thôi: Không bỏ cuộc, Tiên liệu trước, Luôn lạc quan và Nhiều hết ga có thể!