“BÉ UYÊN” CỦA CÁC NHÀ RÂN TRỦ

Đoạn này copy từ cuanhcuem.net và đã kiểm chứng.

Câu chuyện như sau:

Vào ngày 10/10/2012 một số truyền đơn được tổ chức Tuổi Trẻ Yêu Nước gài bên hông thành cầu An Sương đoạn quốc lộ 1 A – Trường Chinh – Sài gòn. Số truyền đơn nầy được kèm theo nhiều tờ giấy bạc khác nhau và bỏ vào một thùng cạc tông được cài chốt bung bằng đồng hồ vào đúng 7 giờ sáng ngày 10/10/2012 thì số truyền đơn được bung xuống con đường dưới thành cầu An Sương .

Nguyễn Phương Uyên được giao phó làm nhiệm vụ phó nhòm cho diễn biến hôm đó. Vụ rãi truyền đơn này đưa tới việc Nguyễn Phương Uyên bị bắt vì công an đã cài người vào tổ chức Tuổi Trẻ Yêu Nước để tìm xem ai chính là người đứng phía sau lưng tổ chức nầy mà Bộ Công An cho là của một tổ chức đang sinh hoạt trên Paltalk.

Từ đó rộ lên những thông tin về việc NPU bị “bắt cóc”, bị bắt vì “làm thơ chống Trung Quốc”, rồi chuyện gia đình cô bé này lên BBC, RFA để tố công an bắt người trái phép và tuyên bố “gia đình tôi khẳng định chắc chắn con tôi Nguyễn Phương Uyên không thể là “tội phạm hình sự”, nếu có chăng chỉ là hành vi “thể hiện LÒNG YÊU NƯỚC” chưa đúng theo định hướng!” “.

Rất nhiều bạn ngây thơ tin ngay vào cái luận điệu này của tụi rận. Từ cái luận điệu này có thể thấy được bản chất hèn hạ, dám làm mà không dám chịu của chúng. Vì sao ư? Hãy xem “truyền đơn chống Trung Quốc” của chúng là như thế này đây…


Dưới đây là những nội dung của truyền đơn được rải ngày 10/10/2012:

Hỡi đồng bào Việt Nam, hãy đứng lên chống lại bạo quyền độc tài Cộng Sản Việt Nam. Hãy giành lại quyền lợi cho chính mình và gia đình, hãy đứng lên vì Tự Do, Nhân Quyền và Công Lý. Đảng Cộng Sản Việt Nam sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt của đồng bào. Chúng cướp đất dân lành làm giàu cho đảng viên Cộng Sản, làm nô lệ để bán biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Làm ngơ để Trung Quốc bán vào nước ta những đồ ăn đọc hại làm suy nhược giống nòi Việt Nam. Vì quyền lợi của con em,vì tương lai của dân tộc, hãy xóa bỏ sợ hãi, cùng đứng lên chống lại bọn Độc Tài Cộng Sản Việt Nam. TUỔI TRẺ YÊU NƯỚC”

“Đã 37 năm từ khi Đảng Cộng Sản Việt Nam cưỡng chiếm miền Nam với danh từ Giải Phóng, bọn chúng đã làm gì cho quê hương Việt Nam? Chúng ta phải lao động cực nhọc trong các công ty của Trung Quốc, bị ức hiếp trăm bề, phải rời xa quê cha đất tổ sống tha hương trên chính tổ quốc của mình để tìm kế sinh nhai cho gia đình. Trong khi chính quyền Cộng Sản thì tham nhũng ăn chơi sa đọa, vui thú trên mồi hôi và nước mắt của đồng bào. Bọn chúng cướp ruộng vườn, đất đai, nhà cửa, dồn chúng ta đến đường cùng phải rời bỏ xóm làng tha hương cầu thực. Cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, ngày Tết không có tiền về thăm gia đình. Chúng ta còn sợ gì nữa, vì tương lai của bản thân, gia đình và con cháu chúng ta, hãy cùng nhau xuống đường hô to: “Đả Đảo Cộng Sản Việt Nam”. Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi….TUỔI TRẺ YÊU NƯỚC”

“Tôn giáo có được tự do trên quê hương không? Các tôn giáo, chức sắc hãy cùng nhau đứng lên đả đảo bọn Vô Thần Cộng Sản Việt Nam, đòi lại quyền tự do tín ngưỡng. Đảng Cộng Sản Việt Nam ra sức đánh phá giáo lý của các tôn giáo, giải tỏa nhà thờ, chùa miếu. Là một người con của Chúa, của Phật chúng ta không thể ngồi yên để bọn ma quỷ làm hại đến Chánh Pháp và Đạo Lý. Xuyên tạc giáo lý các tôn giáo một cách trắng trợn, bôi đen danh dự của các chức sắc tôn giáo với mục đích từng bước xây dựng Xã Hội Cộng Sản Vô Tôn Giáo. Hãy cùng nhau xuống đường thắp lên đuốc thiêng dân tộc bảo vệ tự do tôn giáo. TUỔI TRẺ YÊU NƯỚC”.

Thay lời bình luận của Beo: dùng luôn luật Mỹ cho ra người rân trủ

Điều 2385 trong “Mỹ quốc pháp điển” quy định rằng: “Bất kỳ ai cố ý hô hào, kích động, khuyến khích lật đổ hay phá rối Chính phủ Mỹ và các tổ chức chính quyền cấp dưới đều phải bị tuyên phạt cao nhất tới 20.000USD, hoặc phải ngồi tù 20 năm. Sau khi mãn hạn tù 5 năm cũng không được Chính phủ và các tổ chức khác tin dùng”.

Cóp pi từ Beo

QUAN NIỆM CỦA NHÀ PHẬT VỀ CÁI CHẾT

LâmTrực@ giới thiệu bài đáng đọc từ Reds

Ðã là người, ai cũng phải chết. Ngoài các truyền thuyết hoặc thần thoại, chưa hề nghe nói có ai trong lịch sử thoát khỏi cái chết. Thần Chết đối xử thật là bình đẳng với tất cả mọi người, tuyệt đối không thiên vị ai, trước sau như một, từ xưa đến giờ và mãi mãi về sau.
Thái độ của con người đối với cái chết, nói chung, là sợ hãi, coi nó như một điều xấu ghê gớm nhất, và cố tìm đủ mọi cách để xa tránh, để trốn thoát, nhưng chưa hề có ai thành công. Cái chết luôn đè bẹp hữu hiệu tất cả những nỗ lực chống lại nó. Biết bao nhiêu nỗ lực của con người tìm thuốc trường sinh, để trốn thoát hoặc để chống lại cái chết, cuối cùng chỉ là công dã tràng. Có thành công thì chỉ là kéo dài tuổi thọ một vài năm, nhiều lắm cũng chỉ được chục năm là cùng. Nói chung, chẳng ai muốn chết cả, ai cũng muốn sống hoài sống mãi, nhưng đó chỉ là một khát vọng chưa bao giờ được thỏa mãn. Nghĩ thế, ta thấy Tạo Hóa thật là oái oăm: một đằng thì đặt nơi con người một khát vọng sâu xa là muốn sống mãi, một bản năng tự vệ để bảo tồn sự sống rất mạnh, nhưng đằng kia lại để cho cái chết luôn luôn toàn thắng, khiến cho cơn khát đó của con người dường như vô phương cứu chữa. Một cơn khát không có thứ nước nào thích hợp uống cho đã khát! Nỗi khao khát đó mạnh đến nỗi: Thà sống khổ còn hơn là phải chết!
“Ðành chết là hết nợ,
Thế mà ai cũng sợ,
Mới hay bụng thế gian,
Khổ mà sống còn hơn!”
(La Fontaine)

Chết là gì mà người ta phải sợ hãi và trốn tránh như thế? Bản chất của sự chết là gì? Chết có phải là hoàn toàn hết sống hay chết là chuyển sang một hình thức sống khác? Chết rồi đi đâu?
Ðịnh Luật cho Thế Giới Hiện Tượng
Người Phật Tử coi cái chết là một trong 4 khâu của định luật “thành, trụ, hoại, diệt”. Bất cứ sự vật nào thuộc thế giới hiện tượng, nghĩa là có hình có tướng, đều phải trải qua bốn giai đoạn của hiện hữu: Thành (từ chưa có trở nên có), Trụ (tồn tại một thời gian), Hoại (bị hư hoại, yếu dần, suy thoái), và Diệt (cuối cùng bị tiêu diệt, mất đi, không còn tồn tại nữa). Chết chính là khâu cuối cùng của 4 giai đoạn hiện hữu trên cho mọi vật sống, mọi chúng sinh, là giai đoạn từ có trở về không.
Ðịnh luật “thành, trụ, hoại, diệt” là định luật phổ quát tuyệt đối cho tất cả mọi sự vật vô thường (hay thay đổi) trong thế giới hiện tượng: Theo định luật này, phàm cái gì có sinh thì phải có diệt, chỉ những cái không sinh mới không diệt thôi. Hễ cái nào đã từng sinh ra, nghĩa là trước chưa có mà sau lại có, ắt thuộc loại bất tất, vô thường, hay thay đổi, mà thay đổi tức là phải “thành, trụ, hoại, diệt”, nghĩa là cuối cùng phải bị hủy hoại, tiêu diệt, chết. Không thể có sinh mà không có tử, cũng như không thể có tử mà trước đó đã không sinh. Vì thế, Phật Giáo không thể chấp nhận một linh hồn đã được sinh ra mà sau đó lại tồn tại vĩnh cửu, hay một thể xác sống lại để rồi tiếp tục sống mãi. Nếu có một linh hồn bất tử, thì linh hồn đó ắt phải có từ trước muôn đời không do ai sinh ra cả. Mà hễ do một nhân duyên nào sinh ra, ắt phải có ngày hủy diệt.
Như vậy, con người sinh ra rồi chết đi có phải là hết không? Thưa không, vì tuy sinh ra ắt phải chết, nhưng chết rồi lại phải sinh ra nữa. Cứ như vậy mãi. Cũng như một ngày sinh ra ban sáng, chết đi ban tối, rồi lại sinh ra vào sáng hôm sau, cứ như vậy liên tục mãi mãi. Hay như một năm sinh ra vào mùa xuân đầy sức sống, lên đến mức trưởng thành vào mùa hạ, yếu đi vào mùa thu, rồi tàn tạ và chết đi vào mùa đông, để rồi lại sinh ra vào mùa xuân năm sau. Cứ như thế liên tu bất tận. Ðó gọi là luân hồi. Cũng vậy, con người sinh ra chết đi ở kiếp này rồi lại sinh ra và chết đi ở kiếp sau. Cứ như thế liên tục mãi. Như vậy, trước kiếp hiện tại ta đang sống, thì ta cũng đã từng sống hằng hà sa số kiếp, và sau kiếp sống này, ta còn sống hằng hà sa số kiếp sống khác nữa. Các kiếp trước đây hoặc sau này, ta có thể là người mà cũng có thể là những loại chúng sinh khác cao hơn hoặc thấp hơn người, có thể ở trái đất này mà cũng có thể ở những nơi khác không phải là trái đất.
Thuyết Luân Hồi
Luân là bánh xe, Hồi là trở lại. Vì bánh xe quay, nên các điểm trên bánh xe sẽ phải dời đi chỗ khác, nhưng rồi sẽ có lúc phải trở về vị trí cũ, cứ đi rồi lại trở về như vậy hoài. Như vậy, luân hồi cũng có nghĩa như chu kỳ. Hiện hữu của con người là một chuỗi vô tận những kiếp sống, mỗi kiếp đều khởi đầu bằng việc sinh ra và kết thúc bằng việc chết đi. Sinh tử, tử sinh liên tục nối tiếp nhau như cái bánh xe cứ quay hoài quay mãi không ngừng.
Luân hồi không phải là thuyết đặc trưng của Phật Giáo, vì trước khi Phật Giáo ra đời thì thuyết luân hồi đã được lưu hành trong Ấn Giáo và Kỳ Na Giáo. Ðức Phật đã dùng thuyết luân hồi sẵn có trong hai tôn giáo này, đồng thời bổ túc củng cố thêm, để giải thích về số phận con người ngoài kiếp sống này. Ðức Phật dạy rằng nếu người ta có trí tuệ thanh tịnh sáng suốt, họ có thể nhớ được các tiền kiếp của mình. Chính Ngài có thể nhớ lại hằng hà sa số kiếp của Ngài cũng như của bao người khác. Ngài đã kể ra rất nhiều kiếp trước của Ngài và của một số người khác với đầy đủ tình tiết như khi kể về một số người rất quen biết.
Kinh Trung A Hàm viết: “Như Lai đã nhớ lại nhiều kiếp sống trong quá khứ như sau: trước hết một kiếp, rồi 2 kiếp, rồi 3, 4, 5, 20, đến 50, rồi 100, 1000, 100,000 kiếp, v.v…”
Kinh này kể lại: Chính trong đêm Phật Tổ đắc quả Chánh Ðẳng Chánh Giác, lúc canh một, Ngài đắc Túc Mạng Minh là trí tuệ biết rõ những kiếp sống quá khứ. Sang canh hai, Ngài đắc Thiên Nhãn Minh, nhận thấy chúng sinh chết từ kiếp sống này tái sinh vào kiếp sống khác. Ngài chứng kiến cảnh tượng “kẻ hèn người sang, kẻ đẹp người xấu, kẻ hạnh phúc người khốn khổ, chúng sinh cứ chết rồi tái sinh, tùy theo hành vi tạo tác của mỗi người”.
Mặc dù trong Ấn Giáo và Kỳ Na Giáo đã có thuyết luân hồi, nhưng Phật không dựa vào đó, chỉ dựa trên kinh nghiệm và nhận thức của mình, tuy siêu phàm, nhưng ai cũng có thể đạt được nếu tu tập trau giồi đúng mức. Túc sinh truyện có ghi lại các tiền kiếp của Ðức Phật. Kinh Trung A-Hàm và Tăng-Nhất A-Hàm thỉnh thoảng cũng đề cập đến những kiếp sống quá khứ của Phật.

Kinh Ðại Niết-Bàn ghi lại: Một hôm, Ðại Ðức Ananda hỏi Ðức Phật về số phận của một số người chết trong làng nọ, Phật nhẫn nại diễn tả trường hợp của từng người, từng hoàn cảnh. trong Tam Tạng Kinh có rất nhiều những đoạn ghi lại những trường hợp tương tự như vậy. Ðiều đó chứng tỏ Ðức Phật giảng giải thuyết tái sinh và luân hồi như một chân lý có thể kiểm chứng được.
Thuyết luân hồi của nhà Phật lấy luật nhân quả làm nền tảng: bất kỳ một sự cố nào cũng đều là hậu quả của một dãy nguyên nhân xảy ra trước nó và cũng là nguyên nhân cho một dãy hậu quả xảy ra sau nó. Nhân và quả liên kết với nhau chặt chẽ như một chuỗi dây xích vô tận: bất kỳ mắt xích nào cũng là nguyên nhân cho những mắt kế tiếp sau nó và là hậu quả cho những mắt liền trước nó. Việc luân hồi cũng có thể được minh họa như vậy: mỗi kiếp tương tự như một mắt xích trong một dây xích dài vô tận. Kiếp này sướng hay khổ, có những tài năng hay khuynh hướng bẩm sinh nào đều có nguyên nhân từ trong kiếp trước, và chính kiếp này lại là nguyên nhân quyết định những yếu tố cấu tạo nên kiếp sau.

Luân hồi có thể được minh họa dễ hiểu hơn bằng chuỗi ngày trong đời ta, với mỗi ngày tượng trưng cho một kiếp. Ngày hôm nay ta được (hay bị) như thế này là do kết quả của ngày hôm qua và các hôm trước nữa. Những gì ta có được, làm được hôm nay sẽ lại ảnh hưởng đến cuộc sống của ta ngày mai và những ngày kế tiếp. Chẳng hạn ngày hôm nay tôi viết cuốn sách này là vì ngày hôm qua có người đề nghị với tôi viết ra. Sở dĩ hôm qua người ấy đề nghị với tôi là vì những ngày trước đó tôi có đọc kỹ nhiều sách về Phật Giáo. Sỡ dĩ hôm trước tôi nghiên cứu là vì… Ngày nào ra sao cũng đều có lý do từ những ngày trước. Xét về tương lai thì vì ngày nay tôi viết sách này nên ngày mai sẽ đem in. Ngày mai tôi đem in nên ngày mốt nhiều người sẽ đọc tôi. Ngày mốt tôi được nhiều người đọc nên ngày sau đó tôi… Cứ như vậy, ngày nào cũng ảnh hưởng tới ngày kế tiếp nó. Vì thế, cứ xem hôm nay tôi thế nào, người ta có thể đoán được hôm qua và những hôm trước nữa tôi đã làm gì, và đoán được ngày mai và những ngày sau đó tôi ra sao.
Nhiều sự việc xảy ra cho tôi hôm nay là do những việc tôi làm cũng trong ngày hôm nay. Nhưng rất nhiều sự việc xảy ra cho tôi hôm nay sẽ không thể giải thích được nếu chỉ căn cứ vào những gì tôi làm trong ngày hôm nay, mà chỉ có thể giải thích được bằng những việc tôi đã làm từ hôm qua hay những hôm trước nữa. Nếu tôi quên hết những việc tôi đã làm hôm qua và trước nữa, thì nhiều chuyện xảy ra hôm nay tôi sẽ cho là phi lý, bất công. Nếu quên hết những gì xảy ra trong quá khứ của mình, có những tù nhân sẽ không thể hiểu nổi tại sao ngày nay mới sáng dậy, chưa làm gì cả, mình đã bị cảnh sát tới còng tay, đưa vào tù, bị coi là tội phạm, và chịu đủ mọi cực hình, đang khi có biết bao kẻ hôm nay đã phạm một số tội ác mà vẫn đang hưởng tự do và đang phè phỡn với những của bất công chiếm được. Nếu quên hết những gì mình đã làm trong quá khứ mà chỉ nhớ những việc mình làm hôm nay, từ sáng đến giờ mà thôi, thì thấy đời quả là bất công: kẻ vô tội như mình thì bị cầm tù, chịu đủ mọi khổ sở, còn kẻ tội lỗi thì lại tự do tung hoành và hưởng đủ mọi ưu đãi của cuộc đời. Nhưng chỉ cần nhớ lại được những những việc mình đã làm hôm qua hay trước đó, họ sẽ nhận thấy mình không phải là vô tội, mà đã phạm những tội ác không kém gì những kẻ đang phạm tội hôm nay. Những tên này có thể mai mốt cũng sẽ sa lưới pháp luật và cũng sẽ cảm thấy bất công nếu họ không nhớ được những việc họ làm ngày hôm nay.
Theo Phật Giáo, sự hiện hữu của mỗi người là một cuộc sống dài vô tận gồm nhiều kiếp liên tiếp nhau. Kiếp này kết thúc bằng cái chết để khởi đầu kiếp sau bằng việc sinh ra. nếu cuộc sống dài vô tận ấy ví như cuộc đời này, thì mỗi kiếp trong đó ví như một ngày, như trong minh họa trên. Có điều đáng thắc mắc là tại sao tôi không thể nhớ nổi kiếp trước tôi đã làm gì, ở đâu, cuộc sống thế nào. Ðiều đó được giải thích như sau:
Ban tối, khi xét lại những việc tôi đã làm ngày hôm nay, tôi cảm thấy tương đối dễ dàng nhưng vẫn có những tình tiết mà tôi không thể nhớ được hết. Nếu phải xét lại những việc hôm qua, tôi cảm thấy khó hơn, vì những việc làm hôm qua tính đến nay, đã bị gián đoạn phần nào vì phải trải qua một đêm là thời gian tôi sống không ý thức. Những việc làm ngày hôm qua đã bắt đầu chìm vào tiềm thức của tôi, và để nhớ lại chúng, trí nhớ tôi phải nỗ lực nhiều hơn là nhớ những việc hôm nay. Nếu phải nhớ những gì đã làm trước, tháng trước, năm trước, thì lại càng khó hơn nữa, càng xa về trước càng khó nhớ. Trí nhớ phải moi móc trong tiềm thức và nếu không có những sự việc trung gian giúp liên tưởng đến những việc muốn nhớ, thì rất khó mà nhớ. Rất nhiều việc trong quá khứ, thậm chí mới tháng trước hay năm trước, ta không còn nhớ chút nào. Và sự việc còn tệ hại hơn khi phải nhớ những việc từ thời thơ ấu. Những sự việc xảy ra trong kiếp này được ghi nhớ trong cùng một bộ não mà đã khó khăn lắm mới nhớ được, nhất là những việc xảy ra đã lâu, huống chi những việc trong kiếp trước, được ghi nhớ trong một bộ óc xác thịt khác, trước khi chuyển sang bộ óc xác thịt của kiếp này. Những sự việc xảy ra trong những kiếp trước, khi chuyển sang bộ óc của kiếp này, đã được xếp trong tiềm thức ở các tầng lớp sâu hơn những việc được ghi nhớ trong kiếp này. Muốn nhớ được những gì đã được ghi nhận trong kiếp quá khứ, cần phải có một tâm hồn thật sáng suốt, thanh tĩnh. Muốn thế, cần phải tu tập nhiều năm nhiều kiếp mới làm được. Chính Ðức Phật nói Ngài đã nhớ lại được rất nhiều kiếp sống quá khứ của Ngài, và bất kỳ ai tu tập được như Ngài, cũng sẽ chứng ngộ được điều ấy.
Việc quên đi tiền kiếp như thế là điều cần thiết và ích lợi để luật báo ứng được thi hành tốt đẹp. Chẳng hạn, có hai kẻ thù với nhau từ kiếp trước còn mắc nợ nhau về tình cảm yêu thương khiến họ phải trở thành cha con, hay vợ chồng, hoặc anh em của nhau trong kiếp này. Nếu khi là người thân yêu của nhau trong kiếp này mà họ nhớ được mối thù với nhau từ kiếp trước, thì làm sao họ có thể yêu thương nhau như nghiệp đòi hỏi. Lúc đó họ sẽ trở thành thù địch nhau chứ không thể sống với nhau như cha con, vợ chồng hay anh em được nữa. Hoặc như một người kiếp trước gặp đủ mọi buồn phiền lo lắng, nên kiếp này họ được hưởng một đời sống tốt đẹp thoải mái, nếu họ nhớ được hết những buồn phiền bực bội, hay những buồn tủi, hận thù từ kiếp trước, thì làm sao họ có được đời sống thoải mái vui tươi. Những sự kiện đáng tiếc cũ mà nhớ lại được sẽ đè nặng tâm tư họ trong kiếp này, sẽ ám ảnh họ và làm cho họ đau khổ, chua chát. Vì thế, việc quên đi kiếp quá khứ để có thể bắt đầu một cuộc đời hoàn toàn mới là một điều hết sức cần thiết và ích lợi cho mọi chúng sinh. Khi chúng sinh chưa đạt tới trình độ giải thoát, tâm hồn chưa đủ thanh tịnh hay trong sạch, thì nhớ được kiếp quá khứ chỉ có hại chứ không có lợi. Do đó, khả năng nhớ lại được kiếp quá khứ chỉ dành cho những người đã hoặc sắp đạt tới trình độ giải thoát, tức đã có được tâm hồn thanh tịnh, tâm từ bi độ lượng. Những người này dù có biết được người kế bên mình hay người đang nằm trong tay mình là kẻ thù đã giết mình một cách độc ác trong kiếp trước, cũng sẽ để cho kẻ thù ấy bằng an, thậm chí còn làm ơn cho hắn nữa. Nhưng một người bình thường khi thấy người hàng xóm, hay người bạn học với mình, hay một ai đó trong gia đình mình chính là kẻ thù không đội trời chung với mình trong kiếp trước, làm sao có thể dung tha hay đối xử tốt đẹp với người ấy được? Nếu người trong thế giới này không quên được kiếp trước của mình, thì thế giới này sẽ loạn hơn, sẽ khốn khổ hơn rất nhiều vì oán thù chồng chất.

Ngoài những người thực hành thiền định và phát triển tâm lực đầy đủ có thể nhớ được những gì xảy ra trong các kiếp quá khứ, cũng có những trường hợp bất thường khác. Chẳng hạn trong quyển Reincarnation and the law Kamma, W. Atkinson trưng dẫn rằng Pythagore đã nhớ lại tường tận cái thuẫn ông đã dùng trong một tiền kiếp, lúc ấy ông đang vây hãm thành Troie. Trong kiếp ông tái sinh làm Pythagore, cái thuẫn ấy vẫn còn để trong một đền thờ Hylạp. Trong những sách nghiên cứu về siêu tâm lý (parapsychology) có kể ra nhiều trường hợp người bị thôi miên đã thuật lại những kinh nghiệm của mình trong kiếp quá khứ. Và căn cứ vào đó mà các bác sĩ tâm lý chữa bệnh cho một cách hữu hiệu. Có những người như Edgar Casey (Mỹ), là một y sĩ tâm thần, có thể chữa bệnh tâm thần cho bệnh nhân một cách hữu hiệu dựa trên những gì ông thấy được trong kiếp trước của họ. Có những em bé, do tư tưởng phối hợp bất ngờ, đã sực nhớ lại một đoạn đời hoặc một vài chi tiết trong kiếp quá khứ. Ðến khi lớn lên thì các em không còn nhớ nữa. Hầu như người nào cũng đều có kinh nghiệm này: có nhiều lần ta mục kích một cảnh nào đó mà ta chưa hề gặp bao giờ trong đời, nhưng tự nhiên ta có cảm giác là đã quen thuộc, hay đã từng gặp cảnh này rồi mà không xác định được lúc nào.
Trên thế gian có những hiện tượng lạ rất khó giải thích, mà người Phật Tử giải thích cách dễ dàng bằng thuyết luân hồi của họ. Chẳng hạn có những thần đồng như Christian Heineken có thể nói chuyện được ngay vài tiếng đồng hồ sau khi sinh ra đời, tự nhiên nói được nhiều đoạn trong Thánh Kinh lúc lên một, trả lời được những câu hỏi về địa dư lúc lên hai, nói được tiếng Latinh và tiếng Pháp lúc lên ba, và theo học các lớp triết lý khi lên bốn. John Stuart Mill có thể đọc chữ Hylạp khi mới ba tuổi. Macaulay Culkin có thể viết thế giới sử khi vừa lên sáu. William James Sidis đọc và viết rành rọt tiếng mẹ đẻ (Mỹ) lúc mới lên hai, và khi lên tám thì đã nói được tiếng Pháp, Nga, Anh, Ðức và biết chút ít về Latinh và Hylạp. Charles Bennet (Manchester) nói được nhiều thứ tiếng lúc mới lên ba tuổi. Việc nói ra những kinh nghiệm trong kiếp quá khứ của mình thì người khác không thể kiểm chứng được và có quyền nghi ngờ rằng ngụy tạo. Còn những sự kiện như thần đồng thì chúng ta có thể kiểm chứng được. Vậy thì làm sao giải thích được cho ổn thỏa? Nói rằng trời sinh ra như vậy, hay Thiên Chúa ban ơn đặc biệt như vậy thì ắt hẳn lắm người cho rằng quá đơn giản, và đồng nghĩa với không giải thích gì cả. Một số nhà khoa học giải thích rằng đó là sự phát triển khác thường của các hạch tuyến như tùng quả tuyến, tuyến giáp trạng, hạch thượng thận… Giải thích này bị bác bỏ ngay vì sự phát triển của những hạch này chỉ ảnh hưởng đến khả năng ghi nhớ hay trí thông minh hay một năng khiếu nào đó, chứ không thể tự nhiên mà có được kiến thức hay kinh nghiệm. Kinh nghiệm và kiến thức chỉ có thể học hay trải qua mới có. Cũng vì lý do đó mà giải thích bằng thuyết di truyền không thể đứng vững được. Vả lại, cha mẹ hay ông bà của các thần đồng thường không có được năng khiếu hay những kinh nghiệm hoặc kiến thức như thế. Thần đồng Mozart chẳng hạn, mới 6 tuổi đã sáng tác những bản nhạc bất hủ: Cha mẹ và tổ tiên nhiều đời trước của ông không ai giỏi âm nhạc cả, làm sao có thể di truyền cho ông năng khiếu ấy được? Nếu khoa học hay những giả thuyết khác không giải thích được ổn thỏa vấn đề thần đồng, thì giả thuyết về tái sinh và luân hồi trở nên đáng tin hơn.
Ðương nhiên mỗi tôn giáo đều có những cách giải thích hợp lý, ổn thỏa, nhưng người Phật Tử cho rằng thuyết luân hồi của họ giải thích ổn thỏa nhất. Theo luật nhân quả, bất kỳ một sự kiện nào cũng đều có nguyên nhân của nó, và không có chỗ cho ngẫu nhiên tuyệt đối. Nếu có người bị kết án oan trong kiếp này, thì chắc chắn trong kiếp quá khứ họ đã làm một hành vi ác tương xứng với hình phạt ấy, nên sự oan ức của họ trong kiếp này chẳng oan ức chút nào cả. Trong thực tế, nhiều người làm một điều rất ác xong thì chết, nên pháp luật của con người không trừng phạt được. Và có những trường hợp nhiều người trong đời chưa làm gì ác trong đời mà đã bị kết oán oan. Nếu chấp nhận thuyết luân hồi và tái sinh thì hai trường hợp trên rất ăn khớp với nhau. Vả lại, mỗi nhân đều phải có duyên (hoàn cảnh thuận lợi) mới kết quả được. Cũng như hạt giống phải được gieo xuống đất, phải có nước, có nhiệt độ, có chất bổ dưỡng trong đất thì mới mọc thành cây và sinh hoa kết quả. Vả lại, cùng gieo hạt giống xuống một lượt, nhưng cây ngô thì chỉ cần vài tháng là có quả, còn cây cam thì phải mấy năm. Cũng vậy, những việc lành cũng như việc ác phải gặp duyên (điều kiện thuận lợi) mới có hiệu quả, có những việc có kết quả ngay kiếp này, có việc phải qua kiếp sau hoặc kiếp sau nữa mới có quả báo.

Như vậy, những người làm lành mà gặp toàn cảnh ngang trái là vì việc lành của họ chưa có điều kiện thuận lợi để sinh hoa kết quả, đang khi cảnh đau khổ họ chịu chính là hậu quả của những việc ác họ làm từ kiếp trước bây giờ gặp điều kiện thuận lợi nên sinh hoa kết trái. Còn những kẻ làm ác mà gặp toàn thuận cảnh là vì việc ác của họ mới làm kiếp này chưa có điều kiện thuận lợi để sinh quả ác, và thuận cảnh họ đang hưởng chính là quả lành của những việc thiện họ đã làm trong kiếp trước. Hai trường hợp đó có khác gì một người trong tù chịu đủ mọi khổ sở mặc dù từ khi vào tù chưa làm điều gì ác, còn một tên cướp khác đang tung hoành làm đủ mọi điều ác ở ngoài mà vẫn sống phây phây với đủ mọi lạc thú. Kẻ trong tù vì đã làm ác nên mới bị tù, nhưng khi bị tù rồi thì không không gây ác nữa. Còn tên cướp ở ngoài vì trước đây chưa gây ác nên vẫn được hưởng tự do, nhưng sớm muộn gì hắn cũng sa lưới pháp luật và sẽ vào tù chịu khổ như chàng kia thôi. Nếu chỉ căn cứ vào hiện tại mà không dựa vào quá khứ thì rất nhiều sự việc trên đời không sao giải thích được. Cũng vậy, nếu chỉ căn cứ vào kiếp hiện tại và cho rằng không có kiếp trước thì rất nhiều chuyện không thể giải thích được và chỉ có thể đi đến kết luận là đời sống phi lý bất công.
Còn hiện tượng thần đồng là do kiến thức, kinh nghiệm, tài năng của một người thủ đắc được từ kiếp trước, và vì một lý do đặc biệt nào đó mà chuyển được sang kiếp sau. Chúng ta sẽ bàn về việc chuyển đi những di sản tinh thần từ kiếp này sang kiếp khác sau. Thuyết luân hồi cũng giải thích những khuynh hướng hay năng khiếu bẩm sinh nơi mỗi người: tại sao trong cùng một gia đình, thậm chí trong một cặp song sinh đồng nhất (do một noãn và một tinh trùng), các anh chị em lại có mỗi người một khuynh hướng bẩm sinh khác nhau? Người giỏi hội họa, người ưa âm nhạc? người thiên về đạo đức, người thiên về tư lợi vật chất? người ưa triết lý, người thích thực tế?… Các Phật Tử cho rằng mỗi người đều đã huấn tập những khuynh hướng bẩm sinh đó từ kiếp trước, và kiếp này lại bắt đầu từ chỗ kiếp trước đang dỡ dang. Nếu kiếp trước tôi say mê học hỏi về âm nhạc, thì kiếp này tôi sẽ tự nhiên thích và có năng khiếu về âm nhạc. Kiếp trước tôi chưa hề học toán bao giờ, nếu kiếp này tôi mới bắt đầu học toán thì tôi không thể giỏi toán được. Nếu các kiếp trước tôi là thú vật, và kiếp này tôi mới lên làm người thì chắc chắn tôi sẽ là một người sơ khai, mang nhiều thú tính. Nếu kiếp trước tôi đã là một nhà bác học tài ba, thì kiếp này có thể tôi sẽ là một thần đồng.
Luật quả báo
Theo thuyết luân hồi của Phật Giáo, không có vấn đề thưởng phạt sau khi chết, mà chỉ có quả báo. Thực ra, thưởng phạt hay quả báo chỉ là hai cách diễn tả khác nhau về cùng một thực tế, xuất phát từ hai quan điểm khác nhau về nguồn gốc vũ trụ vạn vật. Thưởng phạt hay quả báo đều diễn tả cùng một thực tế là: làm ác thì gặp ác, làm lành thì gặp lành. Nhưng theo quan niệm thưởng phạt thì có một Thượng Ðế (có ngôi vị) cầm cân nẩy mực xét đoán thế gian theo luật công bằng của mình và cũng có thể theo cảm tình của mình nữa, phần nào tương tự như một vị chánh án ở tòa án trần gian. Còn theo quan niệm quả báo, không có vị nào thưởng phạt cả, mà chỉ có luật quả báo hay nhân quả tác dụng một cách hết sức máy móc vào mọi người cũng như mọi vật, do đó hết sức khách quan, vô tư: Hễ gây nhân ác thì sớm muộn gì cũng sẽ gặp quả ác tương xứng, gây nhân thiện thì cũng sẽ gặp được quả thiện hoàn toàn tương xứng. Vì chỉ có luật thiên nhiên tác động một cách máy móc, nên không thể có tình cảm xen vào. Người Phật Tử cho rằng một vị Thượng Ðế hữu ngã (có ngôi vị), thì dù có công bằng đến đâu, cũng không thể công bằng bằng luật tự nhiên tác động một cách máy móc và hết sức chi ly. Có ngã vị thì dù Ngài có chủ trương không tây vị ai, Ngài cũng không thoát khỏi chuyện thương người này, không thương người kia, vì trong chúng sinh luôn luôn có những kẻ tin, yêu mến Ngài, và những kẻ không tin, không mến yêu Ngài. Những kẻ không tin yêu Ngài vẫn có thể yêu mến chân, thiện, mỹ và sẵn sàng làm điều thiện như ta vẫn thấy nơi nhiều người vô thần hoặc vô tôn giáo. Có những người năng cầu xin Ngài đủ điều, và có những người chẳng bao giờ cầu khẩn Ngài. Như vậy thì Ngài không vô tư như những định luật tác động cách máy móc được.
Theo luật quả báo của Phật Giáo, ai làm ác thì đã tạo ra một cái nhân ác. Nhân ác khi gặp nhân duyên thuận lợi đối với nó sẽ sinh ra quả ác, là đau khổ. Còn ai làm điều thiện thì tạo ra nhân thiện. Nhân thiện sẽ sinh ra quả thiện tức hạnh phúc. Nhân càng to thì quả càng lớn một cách rất tương xứng. Do đó, có sự công bằng hoàn toàn. Và quả dù có to lớn đến đâu thì cũng đều có giới hạn của nó. Chúng sinh dù có thông minh sáng suốt đến đâu, dù có quyền lực hay khả năng tới đâu cũng đều là những sinh vật hữu hạn, không thể tạo ra những nhân thiện hay ác vô hạn được, do đó không thể sinh ra những qủa thiện hay ác vô cùng được. Như vậy, những cảnh khổ hay sướng do những hành động ác hay thiện của con người luôn luôn có giới hạn, nghĩa là dù khổ hay sướng thì cũng chỉ chịu hoặc hưởng một thời gian nào đó thôi. Tất cả những cảnh giới đau khổ hay sung sướng, thiên đàng hay địa ngục của Phật Giáo đều là những trạng thái biến đổi, vô thường như mọi trạng thái hiện tượng khác. Do đó, không có một thiên đàng vĩnh cửu hay hỏa ngục đời đời nào cả. Một tội nặng nhất trần gian đi nữa thì cũng là một tội hữu hạn, thuộc bình diện hiện tượng vô thường, nếu có phạt thì hình phạt tương xứng cũng chỉ là hữu hạn, cũng thuộc bình diện hiện tượng vô thường thôi. Tội hữu hạn mà lại phạt bằng một hình phạt vô hạn thì làm sao gọi là công bằng được. Hình phạt phải tương xứng với tội ác mới công bằng. Vả lại, bản chất con người đâu phải cứ xấu mãi. Kẻ xấu nhất cũng phải có lúc tốt. Phạt vĩnh viễn là giả thiết rằng hễ đã xấu là xấu mãi, không sửa đổi được. Hơn nữa, hình phạt chỉ gọi là hình phạt khi nó có mục đích giáo dục, nghĩa là làm cho đối tượng trở nên tốt hơn. Nếu không có mục đích đó, thì không còn là hình phạt nữa, mà là báo thù. Phạt bằng một hình phạt vĩnh viễn thì rõ ràng là không có mục đích giáo dục, vì không còn cho họ có cơ hội hối cải để trở nên tốt hơn và hạnh phúc hơn. Do đó, hình phạt đời đời vừa là bất công, vừa mang tính trả thù độc ác mà người Phật Tử không thể chấp nhận được.
Còn thuyết luân hồi, mọi việc làm dù tốt hay xấu đều phát sinh những quả tương xứng, và quả đó có thể xảy ra trong kiếp hiện tại hay kiếp tương lai. Không có một tội ác nào mà không phải đền, cũng không có một việc lành nào mà không được bù đắp. Một người phạm một tội ác tày trời ngay trước khi chết và không kịp ăn năn, người đó sẽ phải đền tội ấy trong kiếp sau một cách rất tương xứng. Nếu trong thời gian đền tội ấy người đó có những việc làm tốt đẹp, thì số phận y sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Như vậy, bất kỳ ở tình trạng nào, dù sướng hay khổ, thậm chí khổ cùng cực đi nữa, thì mọi chúng sinh đều có cơ may để làm cho tương lai của mình nên tốt đẹp hơn bằng những tư tưởng, lời nói hay hành động tốt đẹp. Không bao giờ có tình trạng tuyệt vọng như những người bị hình phạt đời đời cả.

Chúng sinh cứ trôi lăn trong vòng luân hồi đầy khổ đau như thế nên dần dần có kinh nghiệm và khôn ngoan hơn trong việc thoát khỏi khổ đau. Khi biết được tội ác là nhân phát sinh khổ đau, việc thiện là nhân của hạnh phúc, họ sẽ sống tốt đẹp hơn, trở nên những người tốt, cố đạt tới sự trọn lành. Nhưng tới một kiếp nào đó họ cũng nhận ra rằng việc tốt đến đâu cũng vẫn giữ họ ở mãi trong vòng luân hồi luẩn quẩn. Còn trong vòng luân hồi thì vẫn có nguy cơ làm ác và đau khổ, nên họ sẽ cố tìm ra con đường giải thoát, thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Và đương nhiên lâu ngày chầy tháng họ cũng phải tìm ra. Giống như những con chuột thí nghiệm được đặt trong những mê cung hết sức phức tạp. Sau một thời gian rất lâu chạy hết lối này sang lối khác đều bế tắc, cuối cùng chúng cũng tìm được lối ra khỏi mê cung. Mọi chúng sinh rốt cuộc cũng sẽ được giải thoát thành Phật sau vô số kiếp ngụp lặn trong vòng luân hồi đau khổ. Chỉ có vấn đề sớm hay muộn thôi. Ðó là ý nghĩa của lời Phật Tổ nói: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Do đó, cái nhìn cuối cùng của Phật Giáo về số phận của mọi chúng sinh hết sức lạc quan, lạc quan mang tính tất yếu, và lạc quan hơn những tôn giáo chủ trương có hỏa ngục vĩnh cửu, vì dĩ nhiên sẽ có rất nhiều linh hồn bị kẹt trong tình trạng hoàn toàn tuyệt vọng ấy: lỡ dại dột mà vào đó thì không bao giờ thoát ra được. Còn theo Phật Giáo, dù là kẻ có tội lỗi nhất trần gian thì cuối cùng rồi cũng sẽ thành Phật, hoàn toàn tinh khiết, đầy trí tuệ và an lạc.
Sáu nẻo luân hồi
Trong thuyết luân hồi của Phật Giáo, các kiếp liên tiếp nối theo nhau như một chuỗi mắt xích dài vô tận. Kiếp này là quả của kiếp trước và là nhân cho kiếp sau. Do đó các kiếp sống có vô số mức khổ sướng khác nhau, và không phải kiếp nào chúng sinh cũng là người cả. Có nhiều loại chúng sinh trong vòng luân hồi, chúng sinh loại này sau khi chết có thể biến thành chúng sinh loại khác. Chẳng hạn thú biến thành người, người biến thành thiên thần, v.v… và cũng có thể biến ngược lại. Tất cả đều do nghiệp lực quyết định, nghĩa là do những việc thiện hay ác mà chúng sinh ấy làm trong kiếp trước đó. Chúng sinh không phải chỉ có trong trái đất này mà còn ở trong hằng hà sa số hành tinh khác trong vũ trụ. Có những hành tinh làm bằng những chất mà mắt con người không thấy được dành cho những chúng sinh vô hình đối với con mắt loài người. Có thể nói chúng sinh bị luân hồi trong 6 nẻo, còn gọi là lục đạo luân hồi, tức sáu cảnh giới, xếp theo mức độ từ sướng tới khổ như sau:
1. THIÊN:
(Nguyên nghĩa là có thân sáng láng) là cảnh giới của những chúng sinh vô hình, phần nào tương tự như những “thiên thần”, có thân xác vi tế hơn con người, sống trong những điều kiện dễ dàng hạnh phúc hơn, đời sống cũng lâu dài hơn con người rất nhiều. Tuy nhiên, về mặt trí tuệ, chư Thiên thường không hơn con người. Họ sinh ra theo kiểu hóa sinh (nghĩa là bỗng nhiên xuất hiện dưới hình thức một thiếu nữ hay một thanh niên, không phải nhờ tới ai làm cha mẹ sinh mình ra cả). Chư Thiên cũng có nhiều loại, nhiều đẳng cấp khác nhau (dục giới, sắc giới, vô sắc giới, mỗi giới lại phân thành nhiều cảnh Trời khác nhau), mức độ hạnh phúc và cách thế sống hay tuổi thọ giữa các loại, các cấp cũng khác nhau.

2. NHÂN:
Cảnh giới của con người với những điều kiện sống khó khăn hơn, trong đó hạnh phúc và đau khổ lẫn lộn. Ðây là cảnh giới thuận lợi nhất để tu giải thoát nhờ có sự quân bình tương đối giữa sướng và khổ. Vì thế, các vị Bồ Tát thường chọn tái sinh vao cảnh giới này, do có nhiều hoàn cảnh thuận lợi để phục vụ và thực hành những pháp môn cần thiết để thành Phật. Kiếp cuối cùng của Bồ Tát luôn luôn ở cảnh người.

3. ATULA:
Cảnh giới này giống như cảnh giới thấp nhất của Chư Thiên (dục giới), nghĩa là thuộc thế giới vô hình, nhưng có rất nhiều đau khổ tinh thần. Ðó là nơi tập trung những chúng sinh nhiều tham vọng, ham quyền lực, kiêu căng, ghen tị, hay có chiến tranh…, tuy điều kiện vật chất dễ dàng hơn con người. Nhiều học giả xếp cảnh giới Atula ngay sau cảnh giới Thiên, rồi mới tới Nhân, vì xác thân họ, điều kiện sống của họ gần với Chư Thiên hơn. Cảnh giới này khiến ta liên tưởng tới cảnh giới của Satan là thiên thần sa ngã, còn cảnh giới của Chư Thiên như cảnh giới của các thiên thần tốt lành.
4. NGẠ QUỶ:
(Nghĩa là quỉ đói): Cảnh giới của những chúng sinh tham lam vật chất (tiền bạc, của cải, lạc thú thể chất như ăn uống, nhục dục…) lúc nào cũng khao khát những thứ đó nhưng không bao giờ được thỏa mãn, khiến họ luôn luôn khổ đau. Ðời sống của họ dài và đau khổ. Thân xác của họ vi tế hơn con người, nên mắt thương của con người không thấy được. Cảnh giới của họ không phải là một tinh tú riêng biệt. Họ thường sống trong rừng bụi, ở những nơi dơ bẩn trên mặt đất, và sinh sống bằng những thực phẩm thừa thãi hoặc thiu thối của con người hay của những động vật khác.
5. SÚC SINH:
Cảnh giới của loài vật mà chúng ta vẫn thấy: thú vật, chim chóc, cá… là những chúng sinh ít hiểu biết, kém ý thức, có đời sống rất thấp kém, hầu như không có đời sống tinh thần. Chúng thường xuyên phải sống trong sợ hãi (bị thú khác hoặc bị người giết ăn thịt, hoặc bị thúc đẩy đi giết các thú khác), nỗi sợ chung là sợ đói. Gia súc thì bị con người nuôi để ăn thịt, để giải trí. May mắn cho chúng ở chỗ đời sống chúng ngắn ngủi và ý thức trí tuệ chúng kém cỏi nên những đau khổ của chúng qua mau và hời hợt, không sâu sắc. Nhưng không may ở chỗ chúng khó có cơ hội để làm công đức, không đủ trí tuệ để tu tập thoát khỏi kiếp lầm than đó.

6. ÐỊA NGỤC:
Cảnh giới của những chúng sinh độc ác, hận thù, ích kỷ, ghen ghét, hay giận dữ, thích gây đau khổ cho người khác. Họ phải chịu những cực hình rất đau đớn, khắc nghiệt để trả quả cho những hành vi bất thiện đã tạo trong quá khứ. Ðời sống trong các địa ngục dài hay ngắn tùy theo từng địa ngục khác nhau. Mỗi địa ngục có một sắc thái riêng, với những cực hình khác nhau tương xứng với tội ác đã phạm. Sau thời gian có thể rất lâu tại đây để đền tội, tội nhân có thể ra khỏi để làm lại cuộc đời mới, trong một kiếp sống mới tốt đẹp hơn, để rồi về sau có thể trở thành Phật. Chính Ðức Phật, trong một vài tiền kiếp, đã từng sa địa ngục vì đã phạm những trọng tội.
Tất cả các cảnh giới trên đều bị chi phối bởi luật Vô Thường, nên không có ai ở mãi trong một cảnh giới nào cả. Không có một điều phúc đức nào vô cùng để đáng thưởng vô thời hạn trong một cảnh giới hạnh phúc nào đó. Và không có một tội ác nào lớn tới mức vô cùng để đáng bị phạt đời đời tại một cảnh giới đau khổ nào đó. Do đó, chúng sinh cứ trôi lăn trong lục đạo mãi, hết ở cảnh khổ lại qua cảnh sướng, hết cảnh sướng lại rơi lại vào cảnh khổ. Cho tới một lúc nào đó, chúng sinh giác ngộ được con đường giải thoát, và quyết tâm tu tập thành Phật, thì mới ra khỏi cái vòng luân hồi luẩn đó. Trong lục đạo, chỉ có hai cảnh giới được coi là sướng, là cảnh giới Thiên và Nhân, nhưng cảnh giới Nhân là quí hơn cả. Xét về mặt hạnh phúc thì cảnh giới Thiên có nhiều điều kiện thuận lợi hơn, nhưng chính vì vậy mà họ bị ru ngủ không muốn tìm sự giải thoát thật sự, để rồi khi họ hưởng hết phúc lành, họ lại rơi vào một cảnh giới khổ hơn. Các Atula thì tâm trí bị thu hút vào việc tranh cãi hơn thua, các ngạ quỉ thì quan tâm đến những thèm khát không được thỏa mãn, súc sinh thì u mê chỉ nghĩ đến thức ăn và thỏa mãn tính dục, còn ở địa ngục thì mọi chúng sinh bị hành khổ đủ cách nên không còn đầu óc đâu mà nghĩ đến đạo giải thoát. Chỉ có con người có sướng có khổ một cách tương đối quân bình, nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát tâm đi tìm con đường giải thoát. Chỉ có con người là có nhiều tự do quyết định hơn cả, có đầu óc sáng suốt hơn cả để có thể đạt tới trí tuệ giải thoát. Trong lục đạo, chỉ có con người có nhiều cơ may, nhiều khả năng để thành Phật nhất. Do đó, theo Ðức Phật, được làm người là cả một cơ hội quí báu không nên uổng phí. Kinh Duy-Ma-Cật, Phẩm 8 (Phật Ðạo) nói rõ điều đó.
Theo Phật Giáo, chúng sinh không phải chỉ có ở trái đất này, mà còn ở trong hằng hà sa số các hành tinh khác. Chúng sinh nhiều vô cùng tận, và hệ thống tinh tú để chúng sinh ở cũng vô cùng tận. Trong Kinh Tăng-Nhất A-Hàm, Phật nói: “Không thể đi đến mức cùng tận của thế gian”. Về vấn đề chúng sinh, khoa học ngày nay chưa thể kiểm chứng được những điều Phật dạy. Nhưng về hệ thống tinh tú, thì các nhà khoa học thời nay đã nhìn nhận: Không thể xác định được vũ trụ đến đâu là cùng tận. Số tinh tú mà các nhà thiên văn học khám phá được đã nhiều hơn gấp bội dân số thế giới hiện nay. Vì thế, giữa muôn tỉ tinh tú, có vô số tinh tú lớn gấp triệu lần trái đất này, mà tin rằng chỉ trái đất mới có sự sống hay có loài người, thì quả là tin một điều hết sức mạo hiểm, xác xuất đúng hết sức nhỏ bé. Do đó, điều Phật nói rằng có chúng sinh ngoài trái đất này có rất nhiều khả năng đúng. Riêng về thiên văn học, quan niệm của Ðức Phật đã đi trước thế giới cả hàng ngàn năm, thậm chí 2000 năm.
Các chúng sinh trong cảnh giới này có thể đầu thai sang cảnh giới khác, trong tinh tú này có thể đầu thai sang tinh tú khác, tùy theo sự đòi hỏi của nghiệp lực khiến ta phải đầu thai vào nơi nào thích hợp nhất với ta tại thời điểm đó. Chẳng hạn như ngay giây phút này, một chúng sinh ở trái đất này vừa chết và cần có chỗ đầu thai thích hợp với nghiệp của mình. Nhưng vào giây phút đó, tại trái đất này không có một nơi nào để đầu thai phù hợp cả: những nơi có thể đầu thai được (do noãn và tinh gặp nhau), thì cha mẹ hay hoàn cảnh không phù hợp, còn những cha mẹ phù hợp thì lại không thụ thai vào thời điểm đó. Mà trong muôn tinh tú kia, thế nào chả có nơi thích hợp vào thời điểm đó? Ðương nhiên nơi nào gần nhất vẫn là ưu tiên. Vì thế, việc chuyển kiếp sang tinh tú khác thường hay xảy ra. Do đó, có những trường hợp chúng sinh ở tinh tú này càng ngày càng tăng lên, đang khi ở một tinh tú khác càng ngày càng giảm đi. Ðiều đó giải thích tại sao dân số địa cầu càng ngày càng tăng lên: cách đây mấy ngàn năm dân số thế giới chỉ tính bằng triệu, nhưng hiện nay phải tính bằng hàng tỉ, đang khi theo giáo thuyết của Phật, con số chúng sinh không hề tăng lên hay giảm đi. Vả lại, chúng sinh không phải chỉ là loài người, mà còn là nhiều loài khác trong lục đạo có thể chuyển đổi cho nhau. Hơn nữa, theo Phật tổ thì số chúng sinh nhiều vô tận: một con vi trùng cũng là một chúng sinh, mà một người trí tuệ cao cả như Phật tổ cũng là một chúng sinh.
Theo Phật Giáo thuần túy, hiện tượng tử-sinh, tức chết rồi đi đầu thai sang kiếp khác, xẩy ra ngay tức khắc, bất cứ ở nơi nào, cũng như làn sóng điện phát ra trong không gian được thâu tức khắc vào bộ máy thu thanh. Luồng nghiệp lực trực tiếp chuyển từ chết sang tái sinh ngay tức khắc, không trải qua một trạng thái chuyển tiếp nào cả. Nghĩa là không có chuyện linh hồn người chết phải tạm trú ở một nơi nào đó chờ đến khi tìm được một nơi nào thích hợp mới đi đầu thai. Như vậy là chết lúc nào thì đầu thai lúc đó, và luôn luôn có một nơi thích hợp trong vũ trụ để đầu thai. Vì vũ trụ là một bộ máy rất hòa hợp, mọi chuyện tự nhiên dù có vẻ ngẫu nhiên nhưng vẫn luôn luôn ăn khớp với nhau. Như vậy, theo Phật Giáo nguyên thủy, nếu hai người cùng chết một lượt thì sẽ đầu thai cùng một lúc ở hai nơi khác nhau, cho dù một nơi rất gần còn nơi kia rất xa. Tương tự như hai người ở cùng một chỗ có thể nghĩ đến hai nơi ấy cùng một lúc, không vì nơi này xa mà phải nghĩ đến sau nơi kia.

Tuy nhiên, về sau, nhiều thuyết cho rằng chỉ có những chúng sinh có nghiệp lực mạnh mới tái sinh ngay tức khắc, nghĩa là những người đã phạm nhiều tội ác thì tâm thức của họ sẽ bị những cảnh giới xấu thu hút ngay, hay những người đã làm rất nhiều việc thiện sẽ được những cảnh giới lành rút về ngay. Còn những người thuộc loại trung bình, không xấu lắm và cũng không tốt lắm, thì tâm thức họ có thể ở trong cõi trung ấm, và có thể dùng tư tưởng để tạo cho mình một xác thân bằng thanh khí của cõi trung ấm (cõi đó cũng chiếm cùng một không gian với cõi dương gian, ví như nước và miếng bọt biển có thể cùng chiếm một không gian và lồng vào nhau). Tâm thức ấy chỉ ở trong cõi trung ấm khoảng 49 ngày. Trong thời gian này, tâm thức vẫn có thể thay đổi tư tưởng (chẳng hạn quyết tâm trở nên tốt đẹp hơn, hay bị lôi cuốn vào những sân hận mới…) để có thể đầu thai vào những hoàn cảnh tốt đẹp hơn hoặc xấu xa hơn. Tối đa là 49 ngày, tâm thức phải đi đầu thai. Vì thế, trong vòng 49 ngày sau khi một người chết, thân nhân của người ấy có thể làm lễ cầu siêu cho người ấy (xem phần độ vọng ở sau).

Niết bàn

Sáu cảnh giới trên hay lục đạo là những cảnh giới có sướng có khổ, có vui có buồn, có cảnh sướng nhiều khổ ít, có cảnh vui ít buồn nhiều. Ðó là vòng luẩn quẩn như một mê cung hết sức phức tạp, làm cho các chúng sinh trong đó muôn đời hết leo lên lại lộn xuống, hết lộn xuống lại leo lên, từ kiếp này sang kiếp khác. Cho tới một kiếp nào đó, do tu tập trí tuệ trước đó nhiều kiếp, có chúng sinh giác ngộ được mình đang sống trong cái vòng đảo điên ấy và muốn tìm đường thoát khỏi. Những chúng sinh đã thoát khỏi vòng đảo điên ấy là các vị Phật. Và tình trạng hay cảnh giới mà các vị Phật ấy đang sống là Niết Bàn. Vậy Niết Bàn là gì?

Trước hết, Niết Bàn là một “trạng thái”, tạm gọi như thế, có thực, không phải là trạng thái hư vô (néant). Vì là một thực tại chỉ có những người đắc đạo mới chứng ngộ được, và không có một kinh nghiệm nào tương đương với những kinh nghiệm của người thường, nên Ðức Phật chỉ có thể diễn tả thực tại nay bằng những phủ định: nó không phải là cái này hay cái kia, chứ không thể xác định nó là cái gì. Do đó, những người chưa hiểu nhiều về Ðạo Phật thường quan niệm Niết Bàn là một cái gì tiêu cực, thậm chí đồng hóa nó với hư vô nữa. Ta thử minh họa điều đó bằng một thí dụ. Ðối với ai có mắt sáng như chúng ta, thì mầu sắc là một thực tại hết sức thiết thực, hoàn toàn tích cực. Nhưng nếu ta lạc vào một xứ gồm toàn những người mù từ lúc bẩm sinh, mù từ thời tổ tiên bao đời trước. Vì thế, không ai có một kinh nghiệm gì về màu sắc cả. Nếu ta phải diễn tả cho họ về màu sắc thì ta phải nói màu sắc là gì? cái gì tương đối tích cực để diễn tả về màu sắc thì đều vượt khỏi tất cả những kinh nghiệm họ có được. Và họ sẽ có khuynh hướng nghĩ màu sắc là cái này cái nọ mà họ có thể quan niệm được theo kinh nghiệm họ đã có. Như vậy chắc chắn họ sẽ quan niệm sai về màu sắc, khiến ta phải phủ nhận rắng màu sắc không hề là những thứ đó, ta không thể làm khác hơn. Thế là họ bắt đầu nghĩ rằng màu sắc là hư vô, là một cái gì hết sức tiêu cực. Rất nhiều “nhà Phật học” Tây Phương khi thấy Phật Tổ diễn tả Niết Bàn bằng cách phủ nhận tất cả, liền có thái độ tương tự như những người mù trên.
Vậy Niết Bàn là một thực tại có thực, rất tích cực, nhưng siêu thế, siêu nghiệm, không thuộc bình diện hiện tượng, nên bất biến, vĩnh cửu, bất khả tư nghị. Ðức Phật đã mô tả Niết Bàn bằng các từ ngữ như: Vô Tận, Bất Tùy Thế, Vô Song, Tối Cao, Tối Thượng, Bỉ Ngạn (đến bờ bên kia), Chỗ Nương Tựa Tối Thượng, Chu Toàn, Ðảm Bảo, Hạnh Phúc, Duy Nhất, Phi Nhân, Bất Khả Diệt, Tuyệt Ðối Thanh Tịnh, Siêu Thế, Vĩnh Cửu, Giải Thoát, Vắng Lặng, v.v…
Niết Bàn là mục tiêu cứu cánh của Ðạo Phật, cũng là cứu cánh của tất cả mọi chúng sinh. Niết Bàn khác với Thiên Ðàng của Kitô Giáo ở chỗ: Mọi chúng sinh, dù hiện tại có độc ác hay thấp kém tới đâu, thì cuối cùng cũng đạt tới Niết Bàn, sau khi đã được tôi luyện qua hằng hà sa số kiếp trong lục đạo. Thật vậy, Phật Tổ đã định nghĩa: “Chúng sinh là Phật sẽ thành”, nghĩa là chúng sinh đều sẽ là thành viên của Niết Bàn. Còn Thiên Ðàng của Kitô Giáo chỉ dành cho những người sống tốt lành xứng đáng là Con Cái Chúa ở trong kiếp sống duy nhất này, hoặc vào giây phút cuối cùng của đời sống đã trở nên như thế. Quan niệm xưa của Giáo Hội còn hạn chế số người vào Thiên Ðàng hơn nữa: “Ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ”. Số phận của những ai không được vào Thiên Ðàng thì thật là tuyệt vọng. Còn những ai chưa đạt được Niết Bàn thì không chỉ hy vọng mà còn chắc chắn sẽ có ngày đạt được như một điều tất yếu xảy ra. Cho dù mức độ trọn hảo phải có để đạt được Niết Bàn cũng rất cao, cao đến độ không có chúng sinh nào chỉ tu luyện trong một vài kiếp sống mà đạt được. Thiên Ðàng là một phần thưởng do Thiên Chúa ban do lòng nhân lành và đại độ của Ngài. Còn Niết Bàn không do ai ban thưởng và cũng không tùy thuộc ơn huệ của ai cả, mà là do định luật tất yếu của tự nhiên, tương tự như hễ ăn thì no, không ăn thì không no: no là kết quả tất yếu của việc ăn chứ không do ai ban cả.
Bản chất Niết Bàn thế nào không được Phật Tổ định rõ vì ngôn ngữ của loài người không đủ ý niệm để diễn tả, chỉ biết đó là một thực tại tốt đẹp vô song, là mục tiêu tối thượng của Phật Giáo. Tuy nhiên, nguyên nghĩa của tiếng Niết Bàn mang hình thức phủ định, do tiếng Bắc Phạn là NIR-VANA. NIR là không (phủ định), VANA là ái dục, là sợi dây nối liền hai đời sống. Nirvana hay Niết Bàn là sự dứt bỏ, tách rời (NIR) ra khỏi ái dục (VANA), sự thèm khát nhục dục. Ngày nào chúng sinh còn bị ái dục hay luyến ái trói buộc, làm động lực cho mọi hành động của mình, ngày đó chúng sinh còn tạo thêm nghiệp mới, và nghiệp này tất yếu phải trổ sinh quả, khiến cho chúng sinh phải tiếp tục sinh tử tử sinh để có điều kiện cho quả ấy trổ sinh. Theo giáo lý Phật Giáo, ái dục chính là đầu mối, là yếu tố quan trọng nhất khiến cho hành động của họ trở thành nghiệp, nghiệp tốt cũng như nghiệp xấu. Cả hai loại nghiệp đều làm cho vòng sinh tử tiếp tục mãi. Chỉ khi nào không còn ái dục nữa thì hành vi của chúng sinh không còn tạo nghiệp, không còn tiếp tục được nữa, tức ra khỏi vòng sinh tử luân hồi, lúc đó ta thành đạt đạo quả Niết Bàn. Như vậy, nguyên nghĩa của từ NIẾT BÀN hay NIRVANA không nói lên bản chất của Niết Bàn, chỉ nói phương thế để đi đến Niết Bàn là diệt trừ ái dục.
Theo Phật Giáo, ái dục hay lòng ham muốn là nguồn phát sinh ra mọi đau khổ trên trần gian. Ham muốn đòi hỏi phải được thỏa mãn. Nếu không được thỏa mãn thì đau khổ. Nếu được thỏa mãn thì cảm thấy hạnh phúc, nhưng hạnh phúc này không kéo dài, vì ham muốn không dừng lại ở một chỗ. Tâm lý con người cũng như mọi chúng sinh là “được voi thì đòi tiên”, “lòng tham không đáy”. Không ai được thỏa mãn ham muốn rồi mà hạnh phúc lâu dài cả, vì họ lại mong muốn một cái khác và nghĩ rằng mình chỉ được hạnh phúc khi được thỏa mãn điều đó. Cứ như vậy mãi. Vả lại, khi đã đạt được điều mong muốn nào thì phải lo bảo vệ và giữ nó, đó cũng là một điều khổ. Giữ không được mà phải để cho mất lại còn đau khổ hơn nữa. Chính vì vậy mà các nhà hiền triết đông cũng như tây đều khuyên con người nên giảm bớt ham muốn thì cuộc sống sẽ dễ có hạnh phúc hơn. Về vấn đề giảm bớt lòng ham muốn, Phật Giáo còn triệt để hơn nữa. Không phải chỉ là giảm bớt mà là tiêu diệt mọi ham muốn, thậm chí cả lòng ham muốn vào Niết Bàn nữa. Vì ham muốn này đòi hỏi được tiếp nối bởi một ham muốn khác, nên chúng tạo nên một nghiệp lực lôi kéo chúng sinh tái sinh hết kiếp này sang kiếp khác để những ham muốn đó được thỏa mãn. Chúng ta có thể cảm nghiệm lực đó khi ta ham muốn điều gì. Rõ ràng lòng ham muốn đó có năng lực thúc đẩy ta chịu khó, và cố gắng tạo mọi điều kiện để được thỏa mãn. Ta không bao giờ muốn chết khi đang ham muốn và khi ham muốn chưa được thỏa mãn. Phải sống để được thỏa mãn đã. Do đó, ham muốn khiến chúng sinh cứ luẩn quẩn mãi trong vòng sinh tử luân hồi. Vì thế, muốn thoát khỏi vòng đó, phải diệt trừ ham muốn.
Nhưng muốn đi đến Niết Bàn, tức muốn giải thoát, thì chúng sinh phải mong muốn điều đó cách mãnh liệt. Phải ham muốn thật mãnh liệt sự giải thoát đó, người ta mới có động lực để dẹp đi mọi ham muốn khác, và thực hiện con đường tu tập. Nếu không có lòng ham muốn mãnh liệt đó, người ta sẽ không bao giờ dẹp được các ham muốn khác. Nhưng cuối cùng ham muốn đó cũng phải bị tiêu diệt mới có thể giải thoát được. Ham muốn Giải Thoát hay Niết Bàn là hình thức cao đẹp nhất của Ái Dục, và ái dục này vẫn tác động như bất kỳ một ái dục nào khác. Nhưng nhờ ham muốn Niết Bàn, ta mới trừ khử được tất cả mọi ái dục đến mức chỉ còn có một. Do đó mong muốn Niết Bàn là mong muốn cuối cùng, cao thượng nhất. Khi chỉ còn một mong muốn duy nhất này, trí huệ ta sẽ phát triển tới mức độ rất cao do tâm trí không còn bị những ham muốn tầm thường chi phối. Lúc đó ta sẽ giác ngộ và từ bỏ ham muốn cuối cùng đó. Và khi đã được Niết Bàn rồi thì lòng ham muốn đó cũng như mọi ham muốn khác không thể hồi sinh.
Chúng sinh sở dĩ luẩn quẩn mãi trong vòng luân hồi đảo điên là vì chúng sinh đã để tâm trí mình trụ vào những sự vật vô thường, chóng qua, có sinh có tử. Ðó là những thực tại trong thế giới hiện tượng mà người ta cảm nghiệm được, thấy được nên cho rằng có. Và người ta sống và ham muốn với những thực tại đó. Vì những thực tại này hay thay đổi, nay này mai khác, khi thì phù hợp với những ước muốn của chúng sinh, khi thì ngược lại, nên chúng sinh cũng bị thay đổi đảo điên theo: khi vui khi buồn, khi sướng khi khổ rất thất thường, tâm trí không được ổn định an lạc, tất cả mọi niềm vui đều chóng qua, sớm nhường chỗ cho những buồn phiền đau khổ. Còn chạy theo những thực tại vô thường bằng những ham muốn của mình, chúng sinh còn phải ngụp lặn trong vô thường, sẽ trôi lăn mãi trong lục đạo. Muốn hiện hữu của mình an định, không còn trôi lăn trong những cái vô thường, tâm trí chúng sinh phải an trụ nơi Thực Tại Thường Hằng Bất Biến, trong chính bản thân mình cũng như trong thế giới vạn vật, đồng thời hiệp nhất, trở nên một Thực Tại đó. Càng hiệp nhất với Thực Tại Vô Sinh Bất Diệt ấy, chúng sinh càng ít bị những thực tại vô thường chi phối, ảnh hưởng. Càng sống với Thực Tại Duy Nhất ấy, càng hiệp nhất với Thực Tại ấy, chúng sinh càng nhận ra rằng nơi bản thân mình, chỉ còn có một Thực tại ấy duy nhất sống động, hiểu biết, hành động, còn “cái tôi” mà từ trước đến giờ mình vẫn tự nhận là mình thì chưa từng hiện hữu bao giờ. Ðó là “vọng ngã” (cái tôi giả). Nơi bản thân, cái thực sự hiện hữu từ xưa đến giờ chỉ là Chân Ngã (Cái Tôi đích thực). Cái “vọng ngã” và Chân Ngã chỉ là một, chưa bao giờ là hai. Nhưng sự thật đó chỉ mới được giác ngộ sau một thời gian tu tập trí tuệ, và sống hết mình với Thực Tại Bất Biến Thường Hằng ấy. Giác ngộ như thế gọi là “kiến tánh”, là thấy được bản tánh đích thực của mình, tức “bản lai diện mục” của mình. Phải trải qua một quá trình như thế, chúng sinh mới có thể ra khỏi vòng luân hồi luẩn quẩn và đi vào cảnh giới Niết Bàn, cảnh giới vô sinh bất diệt.
Cái gì đi tái sinh?
Khác hẳn với mọi ý nghĩ bình thường, Phật Giáo chủ trương không có linh hồn như một thực tại tâm linh bất biến thường tồn, làm chủ thể trong mọi thay đổi xác thân. Phật Giáo không chủ trương có một linh hồn duy nhất mặc lấy những thân xác khác nhau giống như một người thay đổi áo: dù mặc nhiều áo khác nhau, nhưng từ đầu đến cuối vẫn chỉ là một người không thay đổi. Do đó, vấn đề phải được đặt ra là: người trong kiếp này và người của kiếp sau có phải cùng là một người không? Nếu không có một linh hồn duy nhất trong hai thân xác của hai kiếp ấy, làm sao có thể nói được câu “Kiếp trước của tôi”, vì câu đó dường như giả thiết rằng chỉ có một cái tôi duy nhất trong cả hai thể xác ấy? và sau khi thể xác tôi chết rồi thì cái gì đi tái sinh cho kiếp sau của tôi? Nếu không có một linh hồn bất biến làm nền tảng thì cái gì bị luân hồi?

Muốn hiểu được điều đó, cần biết rằng Phật Giáo chủ trương: ngay cả trong một kiếp, như kiếp tôi đang sống đây, cái tôi lúc 5 tuổi và cái tôi hiện tại không thể hoàn toàn đồng nhất hay là một với nhau được, vì lúc 5 tuổi tôi rất khác với bây giờ về đủ mọi phương diện: tuổi tác, cách suy nghĩ, tính tình, tài năng, khuynh hướng, v.v… Thậm chí tôi không còn nhớ lúc 5 tuổi thì con người tôi thế nào nữa. Nếu tôi lúc 5 tuổi và tôi bây giờ là một, đồng nhất với nhau, thì tất nhiên hai “cái tôi” đó phải giống nhau, không có gì thay đổi, và tôi bây giờ phải hoàn toàn nhớ được hồi 5 tuổi tôi ra sao. Tương tự như vậy, tôi trước đây một tiếng, hay 5 phút, hay một giây, không thể hoàn toàn đồng nhất với tôi bây giớ được… Chắc chắn vào những thời điểm khác nhau, “cái tôi” của tôi không đồng nhất, không là một, nhưng cũng không thể nói là hai hay là nhiều được, vì tôi vẫn thấy, vẫn nhìn nhận rằng tôi bây giờ hay tôi thời trước thì đều là tôi cả. Tôi vẫn chỉ vào tấm hình của tôi lúc 5 tuổi, 10 tuổi, 20 tuổi… và nói đó là tôi, bất chấp những “cái tôi” ấy có nhiều cái khác nhau. Ðây là một thực tế không có chỗ đứng trong luận lý học Tây Phương, vì theo luận lý này không có chuyện vừa đồng nhất lại vừa không đồng nhất, vừa là hai lại vừa không là hai.
Khoa học cho biết xác thân của tôi trong vòng 7 năm là mọi tế bào đều thay đổi hết. Như thế thì rõ ràng là xác thân của tôi lúc 5 tuổi và xác thân của tôi lúc 40 tuổi (hơn nhau 35 năm) làm sao có thể là một được? Cũng vậy, chiếc xe gắn máy của tôi mua mấy chục năm rồi, đã dần dần thay đổi hết mọi bộ phận, đến nỗi không còn một bộ phận nào trong đó là bộ phận nguyên thủy hồi tôi mua. Như thế thì làm sao tôi vẫn bảo chiếc xe bây giờ cũng chính là chiếc xe thời đó được? Tại bờ biển, tôi đưa mắt theo dõi một con sóng lớn từ ở ngoài khơi chạy vào bờ. Khi nó vào tới sát bờ, tôi vẫn coi nó chính là con sóng ở ngoài khơi, vì mắt tôi đã đi theo nó từ ngoài đó vào bờ không gián đoạn, dù tôi vẫn biết rằng con sóng đi tới đâu thì nhận lấy nước ở chỗ đó làm vật liệu cho mình. Nếu xét về vật liệu, thì con sóng ở ngoài khơi và con sóng vào gần bờ hoàn toàn khác nhau, không có một phân tử nước nào chung cả. Thế nhưng tôi vẫn có lý để coi hai con sóng đó là một! hay như dân tôc Việt Nam ta, từ 4000 năm về trước cho tới nay, mặc dù khác biệt nhau rất xa giữa người Việt nguyên thủy và người Việt ngày nay, nhưng vẫn được coi là duy nhất! Tại sao vậy?
Vì trong tất cả những trường hợp trên, có sự liên tục không gián đoạn trong sự chuyển biến từ tình trạng này sang tình trạng kia, cái này qua cái kia, và sự chuyển biến đó xảy ra một cách tiệm tiến, không đột ngột. Tại hai thời điểm kế tiếp nhau hay gần nhau, tuy có sự thay đổi, nhưng phần thay đổi không đáng kể so với phần không thay đổi làm nền tảng để làm cho nó vẫn còn là nó. Và luôn luôn có một tương quan nhân quả giữa các tình trạng khác nhau tại các thời điểm. Tình trạng trước là nguyên nhân cho tình trạng sau. Nếu không có tình trạng trước thì không thể có tình trạng sau. Như bản thân tôi, nếu không có cái tôi lúc 5 tuổi thì không thể có cái tôi bây giờ. Nếu hồi 5 tuổi tôi đã sống khác với thực tế quá khứ của tôi lúc đó, ắt vào bây giờ, tôi đã không giống như cái tôi thực tế bây giờ. Ðó là điểm chính yếu khiến tôi thấy tôi lúc 5 tuổi và tôi bây giờ chỉ là một cái tôi. Như vậy, theo Phật Giáo, không nhất thiết phải có một linh hồn trường tồn bất biến làm nền tảng để cho từ đầu đến cuối những thực thể khác nhau vẫn được coi là một. Cũng tương tự như Nước Việt Nam hay dân tộc Việt Nam đâu có nhất thiết phải có một cái hồn nước vĩnh cửu, bất biến làm nền tảng thì mới có thể gọi dân Việt Nam xưa và dân Việt Nam nay là một!

Theo Phật Giáo, cái tôi mà ta cảm nghiệm được không phải là một linh hồn trường tồn bất biến, mà là một dòng “tưởng” liên tục trôi như một dòng sông. Mỗi sát-na (đơn vị nhỏ nhất của thời gian) một “chặp tư tưởng” (tạm gọi như thế) nổi lên rồi biến mất ngay, nhường chỗ cho “chặp tư tưởng” kế tiếp. Chặp này là nhân cho chặp sau, và là quả của chặp trước. Mỗi chặp tư tưởng trong giây lát sinh, trụ, rồi diệt, và trong khi diệt, chuyển tất cả năng lực và cảm giác đã ghi nhận được cho chặp tư tưởng kế tiếp. Mỗi chặp tư tưởng mới gồm những năng lực tiềm tàng của chặp trước và thêm vào đó chút gì khác. Ðến lúc chết, chặp tư tưởng cuối cùng chấm dứt, cũng như trong đời sống mỗi chặp tư tưởng đều phải diệt, để nhường chỗ cho chặp tương tưởng kế tiếp phát sinh trong giây lát, mỗi chặp tư tưởng đều bao hàm thức của nó. Mỗi thức chứa toàn bộ những kinh nghiệm trong quá khứ do chặp tư tưởng trước để lại. Vậy cái thức mới trong kiếp sống mới chứa tất cả những kinh nghiệm, cảm giác ghi nhận được trong các kiếp quá khứ. Như thế, tất cả mọi tiềm năng đều được chuyển từ kiếp này sang kiếp khác, mặc dầu vật chất tan rã. Vì lẽ ấy đôi khi có người nhớ được kiếp quá khứ của mình. Nếu trí nhớ chỉ tùy thuộc nơi khối não, tất không ai có thể nhớ được tiền kiếp của mình. Như vậy, giữa kiếp trước và kiếp sau vẫn có sự liên tục về chặp tư tưởng, và chặp tư tưởng trong kiếp mới vẫn thừa kế toàn bộ di sản tinh thần từ kiếp trước để lại. Do đó, cái tôi của kiếp trước và cái tôi của kiếp sau vừa là khác mà cũng vừa có thể coi là một, tựa như cái tôi trong hai thời điểm khác nhau của cùng một kiếp vậy. Cứ như thế, kiếp này qua kiếp khác, dù vào cảnh thiên, nhân, hay súc sinh, ngạ quỉ, địa ngục chăng nữa, không cần phải có một linh hồn bất trường tồn nào cả.
Như vậy, luôn luôn có một cái tôi của một thân xác khác chịu tất cả mọi quả báo của cái tôi của thân xác này. Cái tôi này là nhân gây nên cái tôi kia, và cái tôi kia là quả của cái tôi này, y như cái tôi hiện tại của tôi bây giờ phải hay được lãnh nhận hậu quả của những gì mà cái tôi của tôi hồi trước đã làm. Chẳng hạn cái tôi tháng trước lười học thì cái tôi tháng này thi trượt, cái tôi trước chăm học thì cái tôi này thi đỗ. Tôi nhìn nhận hai cái tôi ấy đều là tôi cả, nhưng rõ ràng chúng khác nhau: cái tôi bây giờ không thể sửa đổi gì được cái tôi trước, và có thể cũng không đồng ý việc làm của cái tôi trước thì không thể cảm nghiệm được, thậm chí không biết gì về cái tôi sau. Do tôi nhìn nhận hai cái tôi đều là tôi mà tôi thấy không có sự bất công nào cả.
Ðể dễ hiểu về việc không cần có linh hồn mà cái tôi sau vẫn coi cái tôi trước là chính mình nhờ chuyển di qua những chặp tư tưởng, ta thử nêu lên một minh họa. Sự việc đó giống như một người dùng máy cassette để thâu băng. Trước hết anh ta thâu trực tiếp một số bài nhạc thêm vào những bài nhạc đã có trong băng. Sau đó anh sang toàn bộ những bài ca trong băng A vào băng B và hủy bỏ băng A. Anh lại tiếp tục thâu trực tiếp một số bài ca mới vào băng B. Rồi lại sang toàn bộ băng B sang băng C. Cứ tiếp tục như thế mãi. Cho tới lúc nào đó, chẳng hạn tới băng M, ta thấy tất cả những băng A, B, C, D… I, K, L đều đã bị hủy bỏ, nhưng toàn bộ những bài ca trong các băng đó đều có trong băng M, mặc dù xét về vật chất, băng M không nặng hơn các băng trước một microgram nào cả, đồng thời khác với những băng trước. Giả như băng M có khả năng suy tư và ý thức được, nó sẽ thấy các băng A, B, C… trước cũng chính là nó… Mỗi cuốn băng tượng trưng cho một kiếp sống. Mỗi kiếp sống thu thập được một số kinh nghiệm thêm vào những kinh nghiệm đã có trong các kiếp trước, đồng thời trao toàn bộ kinh nghiệm ấy cho kiếp sau. Sở dĩ có thể làm được chuyện ấy là nhờ khả năng thu nhận, tàng trữ âm thanh của loại băng cassette. Khả năng thu nhận và tàng trữ kinh nghiệm từ kiếp này qua kiếp khác của chúng sinh Phật Giáo gọi là Alạida thức. Có thể nói a-lại-da thức chính là cái đi tái sinh, là cái bị luân hồi. Và Alạida thức đó không thể gọi là linh hồn được. Vả lại Alạida thức thay đổi từng giây phút trong cuộc đời, cứ mỗi lúc lại thu nhận và tàng trữ thêm. Còn khả năng làm cho ý thức nhìn nhận những yếu tố cấu tạo nên mình là “tôi”, cũng như nhận những cái tôi khác nhau từng thời điểm một là một cái tôi duy nhất, khả năng ấy được Phật Giáo gọi là Mạt-na thức. Ðiều lý thú trong minh họa này là những gì cuốn băng kia không làm cho cuốn băng kia nặng thêm chút nào. Như vậy, những gì được truyền sang có vẻ như không phải là vật chất. Người duy tâm sẽ nghĩ nó là tinh thần. Vì truyền sang là thêm vào, mà thêm vào nếu là vật chất ắt phải làm cho nặng thêm. Mà không phải vật chất ắt là tinh thần. Nhưng đi sâu vào vấn đề hơn ta thấy có sự thay đổi cách sắp xếp về từ học: mặt băng bị nhiễm từ. Cũng tương tự như khi ta chụp hình, cuộn phim sau khi chụp không nặng hơn trước khi chụp, nhưng mặt phim đã bị ánh sáng tác dụng làm thay đổi mặt phim. Nhờ vậy phim ghi nhận được hình ảnh. Cái thêm vào không hẳn là vật chất nhưng là một cái gì do vật chất, và đương nhiên nhìn xa hơn ta thấy phải có sự góp phần của người chụp hay người thâu băng thì hình ảnh hay âm thanh mới ghi lại được trong băng (tác nhân bên ngoài).
Theo những điều đã nói trước đây, “chặp tư tưởng” (hoạt động của tâm thức luôn luôn có, cho dẫu ý thức không tư tưởng) vẫn liên tục sinh, trụ, diệt trong cùng một kiếp hay khi chuyển từ kiếp này qua kiếp khác. Do đó, những chặp tư tưởng cuối cùng của một kiếp đóng vai trò rất quan trọng trong việc xác định tức khắc cảnh giới hay hoàn cảnh để đầu thai cho kiếp sau. Nếu vào giây phút hấp hối, một người phúc đức đáng đầu thai ở cảnh thiên lại có những tư tưởng không tốt, hay tưởng tượng những điều không tốt, thì người đó có thể sinh vào những cảnh giới xấu, như atula hay súc sinh, hay cảnh người nhưng điều kiện ban đầu hẩm hiu. Tuy nhiên, vì nghiệp của người đó, nên dù sống trong những cảnh giới xấu hay điều kiện ban đầu hẩm hiu, nhưng số phận của chúng sinh ấy sướng hơn đồng loại của mình rất nhiều. Thật vậy, ta vẫn thấy có những con vật (chó, mèo) có cuộc đời vật chất cũng như tinh thần sướng hơn những con vật khác, thậm chí sướng hơn rất nhiều người trên trần gian. Trái lại, nếu vào giây phút hấp hối, một người xấu lại có được những tư tưởng tốt, hay tưởng tượng được những điều thánh thiện, thì có thể tái sinh vào những cảnh giới tốt, hay được những điều kiện sống ban đầu rất thuận lợi, nhưng vì nghiệp của họ xấu, nên số phận của họ vẫn khổ đau hơn những đồng loại của mình. Thật vậy, ta vẫn thấy biết bao kẻ giầu sang phú quí, thuộc hàng vua chúa, nhưng đời sống chẳng hạnh phúc chút nào, cuộc đời gặp đầy nghịch cảnh, hoặc về sau trở thành kẻ bần cùng…
Vì thế, vào những giây phút cuối cùng của cuộc đời người thân nhân mình, người Phật Tử phải lưu tâm giúp đỡ họ có những tư tưởng tốt, nghĩ về những hình ảnh đẹp, cao thượng, để họ có thể vãng sinh về những cảnh giới tốt đẹp, tạo điều kiện dễ dàng cho họ tiến tới mục đích giải thoát.

Việc độ vong
Trong Phật Giáo, không có chỗ đứng cho một Thiên Chúa sáng tạo, một Thiên Chúa điều khiển và chi phối mọi sự. Tất cả đều xảy ra theo qui luật của vũ trụ. Một người bị rơi vào địa ngục hay đầu thai vào cảnh giới nào, hoàn toàn không do một Ðấng Tối Cao nào phán xét và định đoạt cả. Cũng y như một người xử dụng dao không khéo bị cắt đứt tay, hay một người ích kỷ bị mọi người ghét, một người vui vẻ được nhiều người thương. Ðó là luật nhân quả tác động một cách khách quan như bao định luật khác. Việc cứu độ những vong linh người chết cũng chỉ dựa vào định luật, không thể cầu khẩn ai được cả. Cũng như muốn cứu một người bị điện giật, bị bệnh ung thư… điều quan trọng là có biết cách cứu hay không, có biết những định luật về điện, về bệnh tật hay không. Ðịnh luật có nhiều thứ: vật lý, tâm lý, siêu vật lý, siêu tâm lý…
Khi Phật Tổ còn sinh tiền, Ngài có dạy Mục Kiền Liên cách cứu mẹ ông là bà Thanh Ðề thời ấy đang bị đọa địa ngục. Phật đã áp dụng sức mạnh của chú nguyện. Chú là chú ý tập trung tư tưởng hay năng lực tinh thần vào, và nguyện là cầu mong, ước muốn. Chú nguyện là tập trung hết năng lực tinh thần của mình để ước muốn điều gì. Phật dạy Mục Kiền Liên thỉnh các chư tăng là những người có năng lực tinh thần rất mạnh đến chú nguyện cho bà Thanh Ðề để tác động vào tâm địa của bà, khiến bà thay đổi tâm địa, từ tâm ích kỷ bỏn xẻn độc ác thành tâm vị tha quảng đại từ bi. Tâm thay đổi thì sướng khổ cũng thay đổi theo: “Tội tùy tâm sinh, tội tùng tâm diệt” và “Khổ tùy tâm sinh, khổ tùng tâm diệt”. Nhờ vậy bà thoát khỏi cảnh địa ngục, sinh vào cảnh giới lành. Không có thần linh nào can thiệp vào chuyện của bà cả.
Vậy, việc độ vọng của Phật Giáo là dùng sức mạnh tinh thần của người chú nguyện ảnh hưởng trực tiếp tới tâm địa của người đang bị đau khổ để trợ thêm sức lực tâm linh cho họ hầu họ thay đổi tâm địa từ xấu thành tốt, nhờ vậy họ thay đổi được số phận. Ngay cả những người đang sống đây cũng có thể nhờ những người có năng lực tinh thần mạnh hơn để chú nguyện cho mình. Những người có năng lực để nhờ đó có thể là những người cùng sống, mà cũng có thể là những vị Phật hay Bồ Tát sống một cõi nào đó. Việc cầu siêu chính là nhờ những vị ấy chú nguyện dùm, để những người đã chết đang ở cảnh giới nào đó được siêu thoát khỏi khổ cảnh.

Như đã nói ở trên, Phật Giáo nguyên thủy chủ trương ngay khi chết là tái sinh sang đời sống mới liền. Nhưng nhiều nơi chủ trương chỉ những người có nghiệp mạnh, tốt hoặc xấu, mới được hoặc bị những cảnh giới thích hợp thu hút ngay. Còn những người có nghiệp yếu thì thức tái sinh, tức a-lại-da thức, chưa đi đầu thai ngay, mà còn ở trong cõi trung ấm, dùng năng lực tư tưởng tự tạo cho mình một thân xác bằng chất liệu của cõi đó, còn quyến luyến với kiếp sống cũ. Nhưng họ chỉ có thể ở tình trạng này tối đa 49 ngày. trong thời gian này, nếu họ có một tư tưởng nào mạnh, thì họ sẽ được hoặc bị rút về cảnh giới tương ứng với tư tưởng đó. Vì thế, trong thời gian 49 ngày, thân nhân của người quá cố thường thỉnh các vị tăng từ bậc đại đức trở lên tới chú nguyện cầu siêu cho người chết, dùng sức mạnh tinh thần của mình làm cho người quá cố đang ở cõi trung ấm phát tâm tốt đẹp để được sinh vào cảnh giới lành.
Trước nghi án (bàn thờ) với hương hoa đăng đèn đầy đủ, các vị tăng vừa tụng kinh A-Di-Ðà, hoặc kinh Ðịa-Tạng, vừa đánh chuông gõ mõ. Hai kinh này không phải là những lời cầu nguyện xin một vị thần linh nào, mà là những bài thuyết giảng của Phật Tổ về cảnh giới Phật A-Di-Ðà, một cảnh giới hết sức tốt đẹp (một cảnh của Thiên). Người chết nghe kinh này sẽ có những tư tưởng tốt đẹp, người đọc kinh cũng theo kinh mà có những tư tưởng tốt đẹp hầu tăng năng lực cho những tư tưởng tốt đẹp của người chết. Ngoài ra còn đọc thêm “chú vãng sanh”, tạo những âm thanh có sức mạnh để ảnh hưởng đến tư tưởng người chết. Sau nghi thức tụng niệm đó, người nhà có thể làm một việc phúc đức nào đó tại nhà như: phát kinh Phật để truyền bá Phật Pháp, hoặc dâng tiền để in kinh, hoặc phóng sinh (thả chim, cá… trả tự do cho chúng)… để tạo sức mạnh tốt đẹp ảnh hưởng đến tư tưởng người chết. Toàn bộ nghi thức độ vọng đều mang ý nghĩa: phải có tư tưởng tốt đẹp mới có tương lai tốt đẹp. Ðiều đó cũng rất phù hợp với định luật tâm lý.
S.T

TÍN NGƯỠNG PHỒN THỰC


GS-TS Trần Ngọc Thêm
Cơ sở văn hóa Việt Nam, TP.HCM, 1996

Hình ảnh linga và yôni trên các tháp Chàm (hoặc trong bảo tàng) có lẽ đã quá quen thuộc với chúng ta, nên New Age xin mượn một số hình ảnh về các phù điêu, tượng chạm trổ trên ngôi đềnKajuharo – Ấn Độ để minh họa cho bài này.
Ngay từ đầu, duy trì và phát triển sự sống đã là một nhu cầu thiết yếu nhất của con người. Đối với văn hóa nông nghiệp, hai việc này lại càng bội phần hệ trọng. Để duy trì cuộc sống, cần cho mùa màng tươi tốt. Để phát triển sự sống, cần cho con người sinh sôi. Hai hình thức sản xuất lúa gạo để duy trì cuộc sống và sản xuất con người để kế tục dòng giống này có bản chất giống nhau. Đó là sự kết hợp của hai yếu tố khác loại (đất và trời, mẹ và cha).
Từ một thực tiễn chung này, tư duy cư dân nông nghiệp Nam-á đã phát triển theo hai hướng : những trí tuệ sắc sảo đi tìm quy luật khoa học để lí giải hiện thực và họ xây dựng được triết lí âm dương; những trí tuệ bình dân nhìn thấy ở thực tiễn đó một sức mạnh siêu nhiên, bởi vậy mà sùng bái nó như thần thánh, kết quả là xuất hiện tín ngưỡng phồn thực (phồn = nhiều, thực = nảy nở). ở Việt Nam, tín ngưỡng phồn thực từng tồn tại suốt chiều dài lịch sử, và có tới hai dạng biểu hiện : thờ cơ quan sinh dục nam nữ và thờ bản thân hành vi giao phối.

Việc thờ cơ quan sinh dục nam nữ được gọi là thờ sinh thực khí (sinh = đẻ, thực = nảy nở, khí = công cụ). Đây là hình thái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực, nó phổ biến ở các nền văn hóa nông nghiệp trên thế giới.

Hình nam nữ với bộ phận sinh dục phóng đại được tìm thấy ở tượng đá với niên đại hàng nghìn năm tr.CN ở Văn Điển (Hà Nội), ở những khắc trên đá trong thùng lũng Sa-pa. Trong việc trang trí nhà mồ Tây Nguyên thì tượng nam nữ với bộ phận sinh dục phóng to thường xuyên có mặt.

ở Hà Tĩnh và nhiều địa phương có tục thờ cúng nõ nường (nõ= cái nêm, tượng trưng cho sinh thực khí nam; nường= nang, mo nang, tượng trưng cho sinh thực khí nữ ). ở hội làng Đồng Kị (Hà Bắc) có tục rước sinh thực khí (làm bằng gỗ) vào ngày 6 tháng giêng; tan hội hai sinh thực khí được đốt đi và tro được đem chia cho mọi người mang ra rắc ngoài ruộng – hành động này có tác dụng như một ma thuật truyền sinh cho mùa màng. Theo các cụ thì năm nào bỏ qua tục này, trong làng sẽ có nhiều chuyện không lành xảy ra. Nhiều địa phương ở Vĩnh Phú, Hà Bắc, Hà Sơn Bình, trước đây vào dịp hội làng, người ta rước tới 18 bộ sinh thực khí và khi đám rước kết thúc, mọi người tranh cướp nhau những vật này vì tin rằng nó đern lại may mắn, no đủ cho cả năm.

Việc thờ sinh thực khí còn thể hiện ở việc thờ các loại cột (cột đá tự nhiên hoặc cột đá được tạc ra, có thể có khắc chữ dựng trước cổng đền miếu, đình chùa) và các loại hốc (hốc cây, hốc đá trong các hang động, các kẽ nứt trên dá). ở chùa Dạm (Hà Bắc) có một cột đá hình sinh thực khí nam có khắc nổi hình cặp rồng trời Lí. Ngư phủ ở sở đầm Hòn Đỏ (Khánh Hòa) có tục thờ một kẽ nứt lớn trên một tảng đá mà dân gian gọi là Lỗ Lường (một biến âm của tên gọi sinh thực khí nữ), vị nữ thần ngự ở đây là Bà Lường.

Bên cạnh việc thờ sinh thực khí (= yếu tố) giống như nhiều dân tộc nông nghiệp khác, cư dân nông nghiệp lúa nước với lối tư duy chú trọng tới quan hệ còn có tục thờ hành vi giao phối, tạo nên một dạng tín ngưỡng phồn thực độc đáo, đặc biệt phổ biến ở khu vực Đông Nam á.

Trên nắp thạp đồng tìm được ở Đào Thịnh (Yên Bái, niên đại 500 năm tr.CN), xung quanh hình mặt trời với các tia sáng là tượng 4 đôi nam nữ đang giao hợp. ở thân thạp khắc chìm hình những con thuyền, chiếc sau nối đuôi chiếc trước khiến cho hai con cá sấu – rồng được gắn ở mũi và lái của hai chiếc thuyền chạm vào nhau trong tư thế giao hoan. Hình chim, thú, cóc,… giao phối tìm thấy ở khắp nơi. Nếu lưu ý rằng cóc tượng trưng cho việc cầu mưa, cầu mùa thì ý nghĩa phồn thực của loại tượng cóc giao phối lại càng rõ nét.
Vào dịp hội đền Hùng, ở vùng đất tổ lưu truyền điệu múa “tùng dí” : thanh niên nam nữ múa từng đôi cầm trong tay những vật biểu trưng cho sinh thực khí nam và nữ. ở sở đầm Hòn Đỏ (Khánh Hòa) vừa nhắc đến, khi nhiều ngày liên tục không đánh được cá, đích thân người cầm đầu Sở phải tới cầu xin, lạy 3 lạy và cầm vật tượng trưng cho sinh thực khí nam đâm vào Lỗ Lường 3 lần (lại con số 3, số lẻ là số ưa thích của người phương Nam ! ).

Ở vùng La Sơn, La Cả (Hà Sơn Bình) trước dây có tục khi rã hội (tan đám), vị bô lão chủ trì chậm rãi đánh 3 hồi trống, rồi đến 3 hồi chiêng, và trong khoảng thời gian đó, đèn đuốc được tắt hết, mọi điều cấm kị được lâm thời huỷ bỏ, thanh niên nam nữ được tự do. ý nghĩa của tục này là ở chỗ sự hợp thân tự nhiên của nam nữ trên đất cỏ được xem như một hành động mang tính cách ma thuật, có tác dụng kích động nhắc nhở thiên nhiên, đất trời (giống nh¬ việc rắc tro đốt từ các hình sinh thực khí ra ruộng).

Từ thời xa xưa, chày và cối – bộ công cụ thiết thân của người nông nghiệp Đông Nam á – đã là những vật tượng trưng cho sinh thực khí nam và nữ, còn việc giã gạo là tượng trưng cho hành động giao phối. Không phải ngẫu nhiên mà trong vô vàn cách khác nhau được tách vỏ trấu khỏi hạt gạo người Đông Nam á đã chọn cách này; trên các trống đồng khắc rất nhiều những hình nam nữ giã gạo từng đôi.

Không gắn việc giã gạo với tín ngưỡng phồn thực, sẽ không thể nào hiểu được tục “gĩa cối đón dâu” : nhà trai bày chày cối trước cổng, khi dâu về đến nơi thì người nhà trai cầm chày mà giã không vào cối mấy tiếng.đó là nghi lễ cầu chúc cho đôi vợ chồng trẻ được đông con nhiều cháu không hiểu được tại sao ở các làng quê xưa rất phổ biến tục nam nữ vừa giã cối (rỗng) vừa hát giao duyên – ngoài chức năng phụ là làm nhịp đệm việc giã cối thể hiện ước mong trai gái sẽ thành lứa đôi và sinh con đẻ cái. Cũng sẽ không hiểu được trò cướp cầu – một trò chơi Việt Nam rất độc đáo đặc biệt phổ biến ở vùng đất tổ Phong Châu (Vĩnh Phú) và các khu vực xung quanh : Hai phe tranh nhau một quả cầu màu đỏ (dương), ai cướp được thì mang về thả vào hố (âm) của bên mình. Với cùng ước mong phồn thực, cầu may, cầu hạnh phúc là hàng loạt trò chơi như tung còn, ném cầu, đánh phết. đánh đáo….

Vai trò của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống của người Việt cổ lớn tới mức chiếc trống đồng – biểu tượng sức mạnh, biểu tượng quyền lực…. của người xưa – đồng thời cũng là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực : Trước hết, cách đánh trống đồng theo lối cầm chày dài mà đâm lên mặt trống được khắc trên chính các trống đồng và còn được bảo lưu ở người Mường hiện nay là mô phỏng động tác giã gạo – động tác giao phối. Trên tâm mặt trống là hình mặt trời với những tia sáng biểu trưng cho sinh thực khí nam, và giữa các tia sáng là một hình lá với khe ở giữa biểu trưng cho sinh thực khí nữ. Xung quanh mặt trống thường gắn các tượng cóc – con cóc trong ý thức của người Việt là “cậu ông trời”, mang theo mưa, khiến cho mùa màng tốt tươi, cũng là một dạng biểu trưng của tín ngưỡng phồn thực. Cuối cùng, tiếng trống đồng rền vang mô phỏng âm thanh của tiếng sấm – cùng mang ý nghĩa trên.

Ngay cả những hiện tượng tưởng chừng rất xa xôi như chùa Một Cột (dương) trong cái hồ vuông (âm), tháp Bút (dương) và đài Nghiên (âm) ở cổng đền Ngọc Sơn (Hà Nội), cửa sổ tròn (dương) trên gác Khuê Văn (tượng trưng cho sao Khuê) soi mình xuống hồ vuông (âm) Thiên Quang Tỉnh trong Văn Miếu,.v..v., cũng đều liên quan tới tín ngưỡng phồn thực. Cũng không phải ngẫu nhiên mà ở các nơi thờ cúng thường gặp thờ ở bên trái là cái mõ và bên phải là cái chuông : Sự việc đơn giản này là biểu hiện của cả lí luận Ngũ hành lẫn tín ngưỡng phồn thực – cái mõ làm bằng gỗ (hành Mộc) đặt ở bên trái (phương Đông) là dương, cái chuông làm bằng đồng (hành Kim) đặt ở bên phải (phương Tây) là âm. Tiếng mõ trầm phải hòa với tiếng chuông thanh nếu không có nam nữ, âm dương hòa hợp thì làm sao mà có cuộc sống vĩnh hằng được. Tín ngưỡng phồn thực đôi khi thâm nhập vào cả chốn cung đình : Theo Việt sử thông giám cương mục trong yến tiệc do vua Trần Thái Tông đãi quần thần năm 1252, đứng chỉ huy hiệu lệnh uống rượu là một người đầu đội mo nang, tay cầm dùi đục !

KHÁI QUÁT VỀ CÁC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

Lên mạng, thấy bài này hay hay, giới thiệu cùng các bạn.

Người Việt Nam được cho là ít có tinh thần tôn giáo, các tôn giáo thường được tập trung ở mặt thờ cúng, còn mặt giáo lý, tinh thần lại ít được quan tâm.
Theo số liệu cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009 thì toàn Việt Nam có 15.651.467 người xác nhận mình theo một tôn giáo nào đó.

1. ĐẠO PHẬT

Trong số các tôn giáo ở Việt Nam, Phật giáo có số tín đồ đông đảo nhất. Theo thống kê của Ban Tôn giáo chính phủ Việt Nam năm 2005, hiện có gần 10 triệu tín đồ Phật giáo , (còn theo số liệu thống kê của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cả nước có gần 45 triệu tín đồ đã quy y Tam bảo, có 839 đơn vị gia đình Phật tử) và khoảng 44.498 tăng ni; hơn 14.775 tự, viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường trong cả nước. Ngoài ra từ 80% đến 90% dân số Việt Nam mang thiên hướng Phật giáo .

Có hai nhánh Phật giáo ở Việt Nam là Đại thừa và Tiểu thừa. Phật giáo Đại thừa lần đầu tiên từ Trung Quốc vào tới vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng của Việt Nam từ khoảng năm 200 và trở thành tôn giáo phổ biến nhất trên toàn đất nước, trong khi Phật giáo Tiểu thừa từ Ấn Độ du nhập vào phía nam đồng bằng sông Cửu Long từ khoảng năm 300 – 600 và trở thành tôn giáo chính ở vùng đồng bằng phía nam Việt Nam.

Có thuyết khác lại cho rằng Phật giáo bắt đầu truyền vào Việt Nam trong khoảng thế kỉ thứ ba đến thế kỉ thứ hai trước công nguyên từ Ấn Độ theo đường biển chứ không phải từ Trung Hoa, Lúc đầu Phật giáo tại Việt nam (đồng bằng châu thổ sông Hồng) mang màu sắc của Phật giáo Tiểu thừa nhưng về sau do ảnh hưởng của Trung Hoa mời chuyển dần thành Đại thừa

Tới ngày nay, Phật giáo đã trở thành tôn giáo phổ biến nhất tại Việt Nam, chiếm đa số tại hầu hết các tỉnh của Việt Nam.

Phật giáo Đại thừa được nhiều người thừa nhận là tôn giáo chính của người Việt, người Hoa và một số dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi phía Bắc như Mường, Thái, Tày… Phật giáo Đại thừa tại Việt Nam có ba tông phái chính là Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mật tông. Trong thực tế Phật giáo Đại thừa ở Việt Nam tồn tại hòa hợp với Đạo giáo, Khổng giáo và các đức tin bản địa như tục thờ cúng tổ tiên, thờ Mẫu…

Trong khi đó Phật giáo Tiểu thừa lại được coi là tôn giáo chính của người Khmer.

2. ĐẠO THIÊN CHÚA (CÔNG GIÁO RÔMA)

Công giáo Rôma, hay Thiên Chúa giáo La Mã, lần đầu tiên tới Việt Nam vào thời nhà Lê mạt (đầu thế kỉ 16 tại Nam Định) bởi những nhà truyền giáo Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, trước khi Việt Nam là một thuộc địa của Pháp. Pháp khuyến khích người dân theo tôn giáo mới bởi họ cho rằng nó sẽ giúp làm cân bằng số người theo Phật giáo và văn hoá phương Tây mới du nhập. Đầu tiên, tôn giáo này được lan truyền trong dân cư các tỉnh ven biển Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, sau đó lan tới vùng châu thổ sông Hồng và các vùng đô thị.

Hiện ở Việt Nam có khoảng 5,5 triệu tín đồ Công giáo, và khoảng 6.000 nhà thờ tại nhiều nơi trên đất nước.

Số giám mục người Việt được Tòa Thánh tấn phong trong 80 năm thời Pháp thuộc là 4 người, trong 30 năm chiến tranh (1945-1975) là 33 người ở cả hai miền, từ năm 1976 đến 2004 là 42 người.

3. ĐẠO CAO ĐÀI

Đạo Cao Đài, hay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là một tôn giáo bản địa Việt Nam do Ngô Văn Chiêu, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc thành lập năm 1926, với trung tâm là Tòa Thánh Tây Ninh. Tôn giáo này thờ Đức Cao Đài (hay Thượng Đế), Phật và Chúa Giê-su. Cao Đài là một kiểu Phật giáo cải cách với những nguyên tắc thêm vào của Khổng giáo, Lão giáo và Thiên chúa giáo. Các tín đồ Cao Đài thi hành những giáo điều như không sát sanh, sống lương thiện, hòa đồng, làm lành, lánh dữ, giúp đỡ xung quanh, cầu nguyện, thờ cúng tổ tiên và thực hành tình yêu thương vạn loại qua việc ăn chay với mục tiêu tối thiểu là đem sự hạnh phúc đến cho mọi người, đưa mọi người về với Thượng Đế nơi Thiên Giới và mục tiêu tối thượng là đưa vạn loại thoát khỏi vòng luân hồi.

Hiện có khoảng 2,4 triệu tín đồ Cao Đài tại Việt Nam, phân bố chủ yếu tại các tỉnh Nam bộ (Đặc Biệt là Tây Ninh) và khoảng 30.000 tín đồ nữa sống ở Hoa Kỳ, Châu Âu và Úc.

4. ĐẠO HÒA HẢO

Đạo Hòa Hảo, hay Phật giáo Hòa Hảo, là một tôn giáo Việt Nam gắn chặt với truyền thống Phật giáo, do Huỳnh Phú Sổ thành lập năm 1939 tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu (nay là An Giang), Châu Đốc.

Đạo Hoà Hảo phát triển ở miền Tây Nam Bộ, kêu gọi mọi người sống hòa hợp. Tôn giáo này đánh giá cao triết lý “Phật tại tâm”, khuyến khích nghi lễ thờ cúng đơn giản (chỉ có hoa và nước sạch) và loại bỏ mê tín dị đoan. Những buổi lễ được tổ chức rất đơn giản và khiêm tốn, không có ăn uống, hội hè. Lễ lộc, cưới hỏi hay ma chay không cầu kỳ như thường thấy ở những tôn giáo khác. Đạo không có tu sĩ, không có tổ chức giáo hội mà chỉ có một số chức sắc lo việc đạo và cả việc đời.

Hiện có khoảng 1,3 triệu tín đồ Hòa Hảo tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ (Đặc biệt là tứ giác Long Xuyên).

5. ĐẠO TIN LÀNH

Tin Lành được truyền vào Việt Nam năm 1911. Đầu tiên, tôn giáo này chỉ được cho phép tại các vùng do Pháp quản lý và bị cấm tại các vùng khác. Đến năm 1920, Tin Lành mới được phép hoạt động trên khắp Việt Nam. Năm 2004, số tín đồ Tin Lành ở Việt Nam vào khoảng 1 triệu người, chủ yếu tập trung ở Thành phố Hồ Chí Minh, khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc.

6. ĐẠO HỒI

Người ta cho rằng Hồi giáo đã được truyền vào Việt Nam đầu tiên là khoảng thế kỉ 10, 11, ở cộng đồng người Chăm. Năm 2004, tại Việt Nam có khoảng 60.000 tín đồ Hồi giáo, chủ yếu ở Bình Thuận, Ninh Thuận, An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh. Có hai giáo phái Hồi giáo của người Chăm: người Chăm ở Châu Đốc, TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh và Đồng Nai theo Hồi giáo chính thống, còn người Chăm ở Bình Thuận, Ninh Thuận theo phái Chăm Bà Ni.

S.T

Bàn về thuật ngữ ‘Tôn giáo’

Lâm Trực post lại từ Reds.vn

“Tôn giáo” là một thuật ngữ không thuần Việt, được du nhập từ nước ngoài vào từ cuối thế kỷ XIX. Xét về nội dung, thuật ngữ Tôn giáo khó có thể hàm chứa được tất cả nội dung đầy đủ của nó từ cổ đến kim, từ Đông sang Tây.
Thuật ngữ “Tôn giáo” vốn có nguồn gốc từ phương Tây và bản thân nó cũng có một quá trình biến đổi nội dung và khi khái niệm này trở thành phổ quát trên toàn thế giới thì lại vấp phải những khái niệm truyền thống không tương ứng của những cư dân thuộc các nền văn minh khác, vì vậy trên thực tế đã xuất hiện rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về tôn giáo của nhiều dân tộc và nhiều tác giả trên thế giới.
“Tôn giáo” bắt nguồn từ thuật ngữ “religion” (Tiếng Anh) và“religion” lại xuất phát từ thuật ngữ “legere” (Tiếng Latinh) có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên. Vào đầu công nguyên, sau khi đạo Kitô xuất hiện, đế chế Roma yêu cầu phải có một tôn giáo chung và muốn xóa bỏ các tôn giáo trước đó cho nên lúc này khái niệm “religion” chỉ mới là riêng của đạo Kitô. Bởi lẽ, đương thời những đạo khác Kitô đều bị coi là tà đạo. Đến thế kỷ XVI, với sự ra đời của đạo Tin Lành – tách ra từ Công giáo – trên diễn đàn khoa học và thần học châu Âu, “religion” mới trở thành một thuật ngữ chỉ hai tôn giáo thờ cùng một chúa. Với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra khỏi phạm vi châu Âu, với sự tiếp xúc với các tôn giáo thuộc các nền văn minh khác Kitô giáo, biểu hiện rất đa dạng, thuật ngữ “religion” được dùng nhằm chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên thế giới.
Thuật ngữ “religion” được dịch thành “Tông giáo” đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản vào đầu thế kỷ XVIII và sau đó du nhập vào Trung Hoa. Tuy nhiên, ở Trung Hoa, vào thế kỷ XIII, thuật ngữ Tông giáo lại bao hàm một ý nghĩa khác, nó nhằm chỉ đạo Phật (Giáo: đó là lời thuyết giảng của Đức Phật, Tông: lời của các đệ tử Đức Phật).
Thuật ngữ Tông giáo được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, nhưng do kỵ húy của vua Thiệu Trị nên được gọi là “Tôn giáo”.
Như vậy, thuật ngữ tôn giáo ban đầu được sử dụng ở châu Âu nhằm chỉ một tôn giáo sau đó thuật ngữ này lại làm nhiệm vụ chỉ những tôn giáo.
Một số thuật ngữ tương đồng với tôn giáo
Tôn giáo là một từ phương Tây. Trước khi du nhập vào Việt Nam, tại Việt Nam cũng có những từ tương đồng với nó, như:
– Đạo: từ này xuất xứ từ Trung Hoa, tuy nhiên “đạo” không hẳn đồng nghĩa với tôn giáo vì bản thân từ đạo cũng có thể có ý nghĩa phi tôn giáo. “Đạo” có thể hiểu là con đường, học thuyết. Mặt khác, “đạo” cũng có thể hiểu là cách ứng xử làm người: đạo vợ chồng, đạo cha con, đạo thầy trò… Vì vậy khi sử dụng từ “đạo” với ý nghĩa tôn giáo thường phải đặt tên tôn giáo đó sau từ “đạo”. Ví dụ: đạo Phật, đạo Kitô…
– Giáo: từ này có ý nghĩa tôn giáo khi nó đứng sau tên một tôn giáo cụ thể. Chẳng hạn: Phật giáo, Nho giáo, Kitô giáo… “Giáo” ở đây là giáo hóa, dạy bảo theo đạo lý của tôn giáo. Tuy nhiên “giáo” ở đây cũng có thể được hiểu với nghĩa phi tôn giáo là lời dạy của thầy dạy học.
– Thờ: đây có lẽ là từ thuần Việt cổ nhất. Thờ có ý bao hàm một hành động biểu thị sự sùng kính một đấng siêu linh: thần thánh, tổ tiên… đồng thời có ý nghĩa như cách ứng xử với bề trên cho phải đạo như thờ vua, thờ cha mẹ, thờ thầy hay một người nào đó mà mình mang ơn… Thờ thường đi đôi với cúng, cúng cũng có nhiều nghĩa: vừa mang tính tôn giáo, vừa mang tính thế tục. Cúng theo ý nghĩa tôn giáo có thể hiểu là tế, tiến dâng, cung phụng, vật hiến tế… Ở Việt Nam, cúng có nghĩa là dâng lễ vật cho các đấng siêu linh, cho người đã khuất nhưng cúng với ý nghĩa trần tục cũng có nghĩa là đóng góp cho việc công ích, việc từ thiện… Tuy nhiên, từ ghép “thờ cúng” chỉ dành riêng cho các hành vi và nội dung tôn giáo. Đối với người Việt, tôn giáo theo thuật ngữ thuần Việt là thờ hay thờ cúng hoặc theo các từ gốc Hán đã trở thành phổ biến là đạo, là giáo.
Khái niệm tôn giáo
Khái niệm tôn giáo là một vấn đề được giới nghiên cứu về tôn giáo bàn cãi rất nhiều. Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo:
– Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người”.
– Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: “Tôn giáo là niềm tin vào cái siêu nhiên”.
– Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo”.
– Khái niệm mang khía cạnh bản chất xã hội của tôn giáo của C.Mác: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần”.
– Khái niệm mang khía cạnh nguồn gốc của tôn giáo của Ph.Ăngghen: “Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày …”
Tôn giáo là gì?
Để có khái niệm đầy đủ về tôn giáo cần phải chú ý:
– Khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và vô hình.
– Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình do đó phải dựa vào thánh thần mà còn hướng con người đến một hy vọng tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, mang tính “Hoàng kim nguyên thủy”, một cuộc đời mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống. Nó gieo niềm hi vọng vào con người, dù có phần ảo tưởng để yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải.
Như vậy: Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý – văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau.
Bản chất, nguồn gốc của tôn giáo
– Tôn giáo xuất hiện từ rất lâu và con người mặc nhiên chấp nhận nó. Việc đặt ra câu hỏi: “Tôn giáo là gì” mới chỉ được giới khoa học đặt ra trong thời gian gần đây, khi mà vấn đề tôn giáo trở thành bức xúc và phức tạp. Khi câu hỏi này được đặt ra cũng là lúc mà tôn giáo trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học riêng biệt. Đối tượng nghiên cứu của tôn giáo xuất phát từ châu Âu khá sớm nhưng bộ môn khoa học về tôn giáo chỉ ra đời vào cuối thế kỷ XIX.
– Tôn giáo là một sản phẩm của lịch sử. Trong các tác phẩm của mình C. Mác đã khẳng định: “Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người”. Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài người nhưng lại là một thực thể có nhiều quan niệm phức tạp về cả nội dung cũng như hình thức biểu hiện. Về mặt nội dung, nội dung cơ bản của tôn giáo là niềm tin (hay tín ngưỡng) tác động lên các cá nhân, các cộng đồng. Tôn giáo thường đưa ra các giá trị có tính tuyệt đối làm mục đích cho con người vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy được thể hiện bằng những nghi thức, những sự kiêng kỵ…
– Rất khó có thể đưa ra được một định nghĩa về tôn giáo có thể bao hàm mọi quan niệm của con người về tôn giáo nhưng có thể thấy rõ rằng khi nói đến tôn giáo là nói đến mối quan hệ giữa hai thế giới thực và hư, của hai tính thiêng và tục và giữa chúng không có sự tách bạch.
Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph. Ăng nghen đã có một nhận xét làm cho chúng ta thấy rõ bản chất của tôn giáo như sau: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo – vào trong đầu óc của con người – của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế.”.
Nguồn gốc của tôn giáo
Vấn đề nguồn gốc của tôn giáo là một trong những vấn đề quan trọng nhất của tôn giáo học mácxít. Nhờ vạch ra được nguyên nhân xuất hiện và tồn tại của hiện tượng nào đó mà sự giải thích nó mới mang tính khoa học. Đối với hiện tượng tôn giáo cũng vậy.
V. I. Lênin đã gọi toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện tất yếu làm nảy sinh niềm tin tôn giáo là những nguồn gốc của tôn giáo. Nguồn gốc đó bao gồm:
a. Nguồn gốc xã hội của tôn giáo
Nguồn gốc xã hội của tôn giáo là toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện khách quan của đời sống xã hội tất yếu làm nảy sinh và tái hiện những niềm tin tôn giáo. Trong đó một số nguyên nhân và điều kiện gắn với mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, một số khác gắn với mối quan hệ giữa con người với con người
– Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên: tôn giáo học mácxít cho rằng sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên là một nguồn gốc xã hội của tôn giáo. Như chúng ta đã biết, mối quan hệ của con người với tự nhiên thực hiện thông qua những phương tiện và công cụ lao động mà con người có. Những công cụ và phương tiện càng kém phát triển bao nhiêu thì con người càng yếu đuối trước giới tự nhiên bấy nhiêu và những lực lượng tự nhiên càng thống trị con người mạnh bấy nhiêu. Sự bất lực của con người nguyên thủy trong cuộc đấu tranh với giới tự nhiên là do sự hạn chế, sự yếu kém của các phương tiện tác động thực tế của họ vào thế giới xung quanh. Khi không đủ phương tiện, công cụ để đảm bảo kết quả, mong muốn trong lao động, người nguyên thủy đã tìm đến phương tiện tưởng tượng hư ảo, nghĩa là tìm đến tôn giáo. F. Ăngghen nhấn mạnh rằng tôn giáo trong xã hội nguyên thủy xuất hiện do kết quả phát triển thấp của trình độ lực lượng sản xuất. Trình độ thấp của sự phát triển sản xuất đã làm cho con người không có khả năng nắm được một cách thực tiễn các lực lượng tự nhiên. Thế giới bao quanh người nguyên thủy đã trở thành cái thù địch, bí hiểm, hùng hậu đối với họ. Chúng ta cần thấy rằng, sự thống trị của tự nhiên đối với con người không phải được quyết định bởi những thuộc tính và quy luật của giới tự nhiên, mà quyết định bởi mối tính chất mối quan hệ của con người với tự nhiên, nghĩa là bởi sự phát triển kém của lực lượng sản xuất xã hội, mà trước hết là công cụ lao động.
Như vậy, không phải bản thân giới tự nhiên sinh ra tôn giáo, mà là mối quan hệ đặc thù của con người với giới tự nhiên, do trình độ sản xuất quyết định. Đây là một nguồn gốc xã hội của tôn giáo.
Nhờ hoàn thiện những phương tiện lao động và toàn bộ hệ thống sản xuất vật chất mà con người ngày càng nắm được lực lượng tự nhiên nhiều hơn, càng ít phụ thuộc một cách mù quáng vào nó, do đó dần dần khắc phục được một trong những nguồn gốc quan trọng của tôn giáo.
– Mối quan hệ giữa người và người: nguồn gốc xã hội của tôn giáo còn bao gồm cả phạm vi các mối quan hệ giữa con người với nhau, nghĩa là bao gồm các mối quan hệ xã hội, trong đó có hai yếu tố giữ vai trò quyết định là tính tự phát của sự phát triển xã hội và ách áp bức giai cấp cùng chế độ người bóc lột người.
Trong tất cả các hình thái kinh tế – xã hội trước hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa, những mối quan hệ xã hội đã phát triển một cách tự phát. Những quy luật phát triển của xã hội biểu hiện như là những lực lượng mù quáng, trói buộc con người và ảnh hưởng quyết định đến số phận của họ. Những lực lượng đó trong ý thức con người được thần thánh hoá và mang hình thức của những lực lượng siêu nhiên. Đây là một trong những nguồn gốc xã hội chủ yếu của tôn giáo.
Trong các xã hội có đối kháng giai cấp, sự áp bức giai cấp, chế độ bóc lột là một nhân tố quan trọng làm nảy sinh tôn giáo.
Người nô lệ, người nông nô, người vô sản mất tự do không phải chỉ là sự tác động của lực lượng xã hội mù quáng mà họ không thể kiểm soát được, mà còn bị bần cùng cả về mặt kinh tế, bị áp bức cả về mặt chính trị, bị tước đoạt những phương tiện và khả năng phát triển tinh thần. Quần chúng không thể tìm ra lối thoát hiện thực khỏi sự kìm kẹp và áp bức trên trái đất, nhưng họ đã tìm ra lối thoát đó ở trên trời, ở thế giới bên kia.
b. Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo
Để giải thích nguồn gốc nhận thức của tôn giáo cần phải làm rõ lịch sử nhận thức và các đặc điểm của quá trình nhận thức dẫn đến việc hình thành quan niệm tôn giáo.
Trước hết, lịch sử nhận thức của con người là một quá trình từ thấp đến cao, trong đó giai đoạn thấp là giai đoạn nhận thức tự nhiên cảm tính. Ở giai đoạn nhận thức này (nhất là đối với cảm giác và tri giác), con người chưa thể sáng tạo ra tôn giáo, bởi vì tôn giáo với tư cách là ý thức, là niềm tin bao giờ cũng gắn với cái siêu nhiên, thần thánh, mà nhận thức trực quan cảm tính thì chưa thể tạo ra cái siêu nhiên thần thánh được. Như vậy, tôn giáo chỉ có thể ra đời khi con người đã đạt tới một trình độ nhận thức nhất định. Thần thánh, cái siêu nhiên, thế giới bên kia… là sản phẩm của những biểu tượng, sự trừu tượng hoá, sự khái quát dưới dạng hư ảo. Nói như vậy có nghĩa là tôn giáo chỉ có thể ra đời ở một trình độ nhận thức nhất định, đồng thời nó phải gắn với sự tự ý thức của con người về bản thân mình trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài. Khi chưa biết tự ý thức, con người cũng chưa nhận thức được sự bất lực của mình trước sức mạnh của thế giới bên ngoài, do đó con người chưa có nhu cầu sáng tạo ra tôn giáo để bù đắp cho sự bất lực ấy.
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo gắn liền với đặc điểm của của quá trình nhận thức. Đó là một quá trình phức tạp và mâu thuẫn, nó là sự thống nhất một cách biện chứng giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan. Những hình thức phản ánh thế giới hiện thực càng đa dạng, phong phú bao nhiêu thì con người càng có khả năng nhận thức thế giới xung quanh sâu sắc và đầy đủ bấy nhiêu. Nhưng mỗi một hình thức mới của sự phản ánh không những tạo ra những khả năng mới để nhận thức thế giới sâu sắc hơn mà còn tạo ra khả năng “xa rời” hiện thực, phản ánh sai lầm nó. Thực chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo cũng như của mọi ý thức sai lầm chính là sự tuyệt đối hoá, sự cường điệu mặt chủ thể của nhận thức con người, biến nó thành cái không còn nội dung khách quan, không còn cơ sở “thế gian”, nghĩa là cái siêu nhiên thần thánh.
c. Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo
Ngay từ thời cổ đại, các nhà duy vật đã nghiên cứu đến ảnh hưởng của yếu tố tâm lý (tâm trạng, xúc cảm) đến sự ra đời của tôn giáo. Họ đã đưa ra luận điểm” “Sự sợ hãi sinh ra thần thánh”.
Các nhà duy vật cận đại đã phát triển tư tưởng của các nhà duy vật cổ đại – đặc biệt là L.Phơbách – và cho rằng nguồn gốc đó không chỉ bao gồm những tình cảm tiêu cực (sự lệ thuộc, sợ hãi, không thoả mãn, đau khổ, cô đơn…) mà cả những tình cảm tích cực (niềm vui, sự thoả mãn, tình yêu, sự kính trọng…), không chỉ tình cảm, mà cả những điều mong muốn, ước vọng, nhu cầu khắc phục những tình cảm tiêu cực, muốn được đền bù hư ảo.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã giải quyết vấn đề nguồn gốc tâm lý của tôn giáo khác về nguyên tắc so với các nhà duy vật trước đó. Nếu như các nhà duy vật trước Mác gắn nguyên nhân xuất hiện tôn giáo với sự sợ hãi trước lực lượng tự nhiên thì chủ nghĩa Mác lần đầu tiên vạch được nguồn gốc xã hội của sự sợ hãi đó.
Lịch sử hình thành tôn giáo và một số hình thức tôn giáo trong lịch sử
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội. Đặc điểm quan trọng trong ý thức tôn giáo là một mặt nó phản ánh tồn tại xã hội. Mặt khác, nó lại có xu hướng phản kháng lại xã hội đã sản sinh ra và nuôi dưỡng nó. Vì vậy, từ khi ra đời đến nay, cùng với sự biến đổi của lịch sử, tôn giáo cũng biến đổi theo.
– Với những thành tựu to lớn của ngành khảo cổ học, người ta đã chứng minh được sự tồn tại của con người cách đây hàng triệu năm (từ 4 – 6 triệu năm). Tuy nhiên, với những hiện vật thu được người ta khẳng định: có đến hàng triệu năm con người không hề biết đến tôn giáo. Bởi vì tôn giáo đòi hỏi tương ứng với nó là một trình độ nhận thức cao, nó là sản phẩm của tư duy trừu tượng trong một đời sống xã hội ổn định.
– Hầu hết trong giới khoa học đều thống nhất rằng chỉ khi con người hiện đại – người khôn ngoan (Homo Sapiens) – hình thành và tổ chức thành xã hội, tôn giáo mới xuất hiện. Thời kỳ này cách đây khoảng 95.000 – 35.000 năm. Tuy nhiên trong thời kỳ đầu mới chỉ là các tín hiệu đầu tiên. Đa số các nhà khoa học đều khẳng định tôn giáo ra đời khoảng 45.000 năm trước đây với những hình thức tôn giáo sơ khai như đạo Vật tổ (Tôtem), Ma thuật và Tang lễ… đây là thời kỳ tương ứng với thời kỳ đồ đá cũ.
– Bước sang thời kỳ đồ đá giữa, con người chuyển dần từ săn bắt, hái lượm sang trồng trọt và chăn nuôi, các hình thức tôn giáo dân tộc ra đời với sự thiêng liêng hóa các nguồn lợi của con người trong sản xuất và cuộc sống: thần Lúa, thần Khoai, thần Sông… hoặc tôn thờ các biểu tượng của sự sinh sôi (thờ giống cái, hình ảnh phụ nữ, phồn thực…), đó là các vị thần của các thị tộc Mẫu hệ. Khi đồ sắt xuất hiện, các quốc gia dân tộc ra đời nhằm mục đích phục vụ cho sự củng cố và phát triển của dân tộc. Tất cả các vị thần ấy còn tồn tại chừng nào dân tộc tạo ra vị thần ấy còn tồn tại và khi dân tộc tiêu vong, các vị thần ấy không còn nữa.
– Trong thời kỳ văn minh nông nghiệp, nhiều đế chế ra đời và thâu tóm vào mình nhiều quốc gia. Do nhu cầu một tôn giáo của đế chế, những tôn giáo như Phật, Nho, Kitô, Hồi… đã xuất hiện từ trước trở thành tôn giáo của đế chế và được chấp nhận như một tôn giáo chính thống. Theo thời gian, do nội dung của các tôn giáo manh tính phổ quát, không gắn chặt với một quốc gia cụ thể, với các vị thần cụ thể, với nghi thức cụ thể của một cộng đồng tộc người, dân tộc hay địa phương nhất định nên sự bành trướng của nó diễn ra thuận lợi, dễ dàng thích nghi với các dân tộc khác. Do vậy, dù được phổ biến bằng cách nào (chiến tranh hay hòa bình), các tôn giáo đó đã được các quốc gia bị lệ thuộc trực tiếp hay gián tiếp, tự giác hay không tự giác tiếp nhận và trên nền tảng của tôn giáo truyền thống, biến đổi thành tôn giáo riêng của quốc gia đó. Sự bành trướng kiểu như vậy diễn ra trong suốt thời kỳ văn minh công nghiệp và cho đến tận ngày nay. Tuy nhiên cũng cần phải chú ý rằng, giữa tôn giáo khu vực hay tôn giáo thế giới vừa chung sống cạnh nhau, vừa tranh chấp xung đột nhau và không ít trường hợp, với sự ủng hộ của các thế lực quân sự, chính trị, chiến tranh tôn giáo đã xảy ra. Những tôn giáo như Kitô, Hồi do tính cực đoan của mình (chỉ coi chúa hay thánh của mình là đối tượng tôn thờ duy nhất) nên ban đầu đi đến đâu cũng khó chung sống với các tôn giáo khác đã có mặt ở đó từ trước. Còn một số tôn giáo phương Đông như Nho, Phật thì khác, chúng chấp nhận hòa đồng với các tôn giáo bản địa, có xu hướng trần tục nhiều hơn là thế giới bên kia.
– Cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra một xã hội công nghiệp, xã hội này đòi hỏi phải có một tôn giáo năng động và tự do hơn, khó chấp nhận một tổ chức, một giáo lý với những nghi thức cứng nhắc, phức tạp. Tình trạng độc tôn của một tôn giáo trong một quốc gia đã bắt đầu chấm dứt và chấp nhận sự đa dạng trong đời sống tôn giáo. Từ đây quan niệm và sau là chính sách tự do tôn giáo ra đời, phát triển nhanh hay chậm và thể hiện khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Những yếu tố lỗi thời được huỷ bỏ hoặc tự thay đổi, thay thế để thích nghi. Với xu thế quốc tế hóa ngày càng gia tăng, việc mỗi cá nhân chỉ biết đến tôn giáo của mình đã trở nên lạc hậu. Mỗi người đều rằng trên thế gian có nhiều thánh thần, có nhiều tôn giáo. Họ bắt đầu hoài nghi và lựa chọn, thần thánh được mang ra tranh luận, bàn cãi và làm nảy sinh xu thế thế tục hoá tôn giáo và xu thế này ngày càng thắng thế.
– Trong thời đại ngày nay, khi mà xu thế toàn cầu hóa đang chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, sự nâng cao về trình độ học vấn và đặc biệt là những thành tựu của khoa học và công nghệ đã làm cho các tôn giáo ngày càng trở nên thế tục hóa kéo theo sự đa dạng trong đời sống tôn giáo. Từ đây xuất hiện các ý kiến khác nhau trong một tôn giáo và dẫn đến sự chia rẽ trong các tôn giáo một cách có tổ chức, bùng nổ các giáo phái và xuất hiện nhiều tôn giáo mới. Bản thân trong các tôn giáo khu vực và thế giới cũng có những biểu hiện khác trước: số tín đồ ngày càng tăng nhưng số tín đồ thực tế giảm, nghĩa là người ta theo đạo nhưng không hành đạo, nhiều tín đồ bỏ đạo để theo các “đạo mới”. Trong nội bộ các tôn giáo có sự chia rẽ thành những giáo phái với những tính chất cấp tiến, ôn hòa hoặc cực đoan.
Một số hình thức tôn giáo trong lịch sử
– Tôn giáo trong xã hội chưa có giai cấp (Tôn giáo nguyên thủy): Ăng nghen cho rằng tôn giáo xuất hiện từ ngay trong thời kỳ nguyên thủy, từ những quan niệm hết sức dốt nát, tối tăm, nguyên thủy của con người về bản thân mình và thiên nhiên bao quanh họ. Các tôn giáo nguyên thủy, sơ khai thể hiện niềm tin bản năng của con người và lúc ấy chưa gắn với các lợi ích về kinh tế – xã hội. Các hình thức phổ biến của tôn giáo nguyên thủy là các dạng sau:
+ Tô tem giáo (thờ vật tổ): Tô tem theo ngôn ngữ của thổ dân Bắc Mỹ nghĩa là giống loài. Đây là hình thức tôn giáo cổ xưa nhất, thể hiện niềm tin vào mối quan hệ gần gũi, huyết thống giữa một cộng đồng người (thị tộc, bộ lạc) với một loài động thực vật hoăïc một đối tượng nào đó. Tô tem giáo thể hiện hình thức nhận biết đầu tiên về mối liên hệ của con người với các hiện tượng xung quanh. Chẳng hạn: một bộ lạc tồn tại được nhờ săn bắt một loài động vật nào đó dẫn đến xuất hiện một ảo tưởng về mối quan hệ giữa loài vật đó với cộng đồng người săn nó và cuối cùng con vật này lại trở thành tổ tiên chung – là một tô tem của một tập thể nào đó.
+ Ma thuật giáo : Ma thuật theo tiếng Hi lạp cổ là phép phù thủy. Đây là biểu hiện của việc người nguyên thủy tin vào khả năng tác động đến tự nhiên bằng những hành động tượng trưng (cầu khấn, phù phép, thần chú…) nghĩa là bằng con đường siêu nhiên. Nhờ các biện pháp ma thuật, người nguyên thủy cố gắng tác động đến những sự kiện và làm cho nó diễn ra theo ý mình mong muốn. Về sau, ma thuật trở thành một thành tố quan trọng không thể thiếu được của các tôn giáo phát triển. Việc thờ cúng của bất kỳ tôn giáo nào cũng phải có ma thuật (cầu nguyện, làm phép…). Tàn dư của ma thuật là các hiện tượng bói toán, tướng số ngày nay.
+ Bái vật giáo: Bái vật theo tiếng Bồ Đào Nha là bùa hộ mệnh, phép lạ. Bái vật giáo xuất hiện vào lúc mới hình thành tôn giáo và sự thờ cúng. Bái vật giáo đặt lòng tin vào những thuộc tính siêu nhiên của các vật thể như hòn đá, gốc cây, bùa, tượng… Họ cho rằng có một lực lượng siêu nhiên, thần bí trú ngụ trong vật đó. Bái vật giáo là thành tố tất yếu của sự thờ cúng tôn giáo. Đó là sự thờ cúng các tượng gỗ, cây thánh giá… hoặc lòng tin vào sức mạnh kỳ quái của các lá bùa…
+ Vật linh giáo: Là hình thức tôn giáo xuất hiện muộn hơn, khi mà ý thức của con người đã đủ khả năng hình thành nên những khái niệm. Vật linh giáo là lòng tin ở linh hồn. Lòng tin này là cơ sở quan trọng để hình thành nên quan niệm về cái siêu nhiên của người cổ xưa. Giai đoạn này đã có ảo tưởng cho rằng có hai thế giới: một thế giới tồn tại thực sự và một thế giới siêu nhiên, trong đó thế giới siêu nhiên thống trị thế giới thực tại. Thế giới siêu nhiên này của người nguyên thủy cũng đầy đủ động vật, thực vật, các đối tượng do tinh thần tưởng tượng ra và không khác biệt gì lắm so với thế giới thực tại.
– Tôn giáo trong xã hội có giai cấp: khi xã hội phân chia giai cấp, xuất hiện các nhà nước, quốc gia với các vùng lãnh thổ riêng biệt, tôn giáo lúc này không chỉ còn là một nhu cầu tinh thần của quần chúng mà còn là một phương tiện để giai cấp thống trị duy trì sự thống trị áp bức giai cấp và bóc lột của mình và thực hiện sự bành trướng, xâm lược vì vậy tôn giáo gắn liền với chính trị và bị dân tộc hóa. Từ đó đã dẫn đến sự xuất hiện các tôn giáo dân tộc và tôn giáo thế giới.
+ Tôn giáo dân tộc: Đặc trưng của tôn giáo dân tộc là tính chất quốc gia dân tộc của nó. Các vị thần được tạo lập mang tính quốc gia dân tộc và phạm vi quyền lực giới hạn trong phạm vi quốc gia. Thậm chí một số tôn giáo lớn cũng bị dân tộc hóa ở mỗi quốc gia và trở thành tôn giáo có tính chất quốc gia. Ví dụ Anh giáo (Thanh giáo), các dòng khác nhau của đạo Hồi…
+ Tôn giáo thế giới: Sự phát triển của các tôn giáo vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia đã hình thành nên các tôn giáo khu vực và thế giới như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo… Khác với các tôn giáo dân tộc, tôn giáo thế giới mang tính đa quốc gia, ảnh hưởng đến nhiều khu vực rộng lớn trên thế giới.
Trích lại từ quyển Lý luận tôn giáo và vấn đề tôn giáo ở Việt Nam của GS. Đặng Nghiêm Vạn.

ĐẠO TIN LÀNH Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU TÂM

Là một tôn giáo lớn trên thế giới, đạo Tin lành đã có mặt ở Việt Nam hơn 100 năm. Trong quá trình tồn tại và phát triển ở Việt Nam, Tin lành đã chọn lựa các hình thức hoạt động mềm dẻo, giáo lí và lễ nghi được đơn giản hoá, quần chúng hoá.
Ở nhiều nơi đạo Tin lành đã thích nghi dễ dàng với phong tục tập quán của người địa phương, số lượng tín đồ đạo Tin lành ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, những ảnh hưởng của nó tới đời sống chính trị xã hội, tâm lý lối sống, phong tục tập quán… đang đặt ra nhiều vấn đề khá phức tạp và nhạy cảm. 
Dưới đây là bài viết khái quát một số đặc điểm lịch sử về đạo Tin lành ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra hiện nay. 

1. Sự hình thành đạo Tin lành và một số đặc điểm nhận biết

1.1 Sự hình thành đạo Tin lành

Nếu so sánh với các tôn giáo lớn trên thế giới như Phật giáo, Công giáo hay Hồi giáo thì Đạo Tin lành ra đời muộn hơn cả. Tuy nhiên, kể từ khi ra đời cho đến nay, đạo Tin lành đã phát triển rất mạnh, trở thành một tôn giáo quốc tế với khoảng 550 triệu tín đồ, gần 300 hệ phái tổ chức khác nhau và có mặt trên nhiều quốc gia.

Vào khoảng đầu thế kỷ XVI ở Châu Âu diễn ra sự phân biệt trong đạo Ki tô, dẫn tới việc ra đời của đạo Tin lành. Thực chất đó là cuộc cải cách tôn giáo và chính trị xã hội sâu sắc. Đạo Tin lành là kết quả của sự khủng hoảng đến mức trầm trọng về uy tín của Công giáo do những tham vọng quyền lực trần thế, sự sa sút về đạo đức của hàng giáo phẩm; là kết quả của sự lúng túng, bế tắc của nền thần học kinh viện thời trung cổ; là kết quả đầu tiên mà giai cấp tư sản mới ra đời giành được trong cuộc đấu tranh chống  lại giai cấp phong kiến mà chỗ dựa tư tưởng của giai cấp này là đạo công giáo.

Phong trào cải cách tôn giáo nổ ra đầu tiên ở Đức. Người khởi xướng và trở thành lãnh tụ nổi tiếng của phong trào này là Matin Luther. Ông là người đã bỏ dở chương trình Đại học Luật Erfurt để quyết định “dâng mình cho Chúa” rồi tu tại dòng Oguxtino. Sau đó Luther trở thành giáo sư, tiến sĩ thần học của truờng Đại học tổng hợp Wittenberg. Khi có dịp sang Rôma, Luther đã hoàn toàn thất vọng vì tận mắt chứng kiến đời sống xa hoa trần tục của số đông giáo sỹ. Với sự kiện này ông đã nhen nhóm những ý tưởng cải cách tôn giáo. Sau đó Luther đã công bố 95 luận đề với nội dung phê phán kịch liệt việc lợi dụng danh thánh để bóc lột dân chúng, lên án chức vụ giáo hoàng và giáo quyền Rôma…

Những quan điểm của Luther đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân Đức ủng hộ, nhất là các công hầu quý tộc. Đến năm 1532, trước sự lớn mạnh của phong trào này, hoàng đế Đức đã phải thừa nhận sự tự do hoạt  động của đạo Tin lành.

Thụy Sĩ cũng là trung tâm lớn thứ hai của cuộc cải cách tôn giáo gắn với tên tuổi của Jean Calvin. Ông là người Pháp, đã từng theo học thần học và luật học  bằng học bổng của giáo hội Công giáo nhưng do hưởng ứng phong trào cải cách của Luther nên bị trục xuất khỏi Pháp và sinh sống ở Thuỵ Sĩ. Calvin đã nghiên cứu và hình thành một giáo thuyết riêng đồng thời cải cách về lễ nghi, giáo hội làm chuẩn mực cho phần lớn các hệ phái Tin lành đi theo…

Từ trung tâm Đức và Thuỵ Sĩ, phong trào cải cách tôn giáo phát triển nhanh chóng sang Pháp, Scotlen, Ireland, Hà lan, Anh , Nauy, Đan mạch… Đến cuối thế kỷ XVI đã hình thành một tôn giáo mới tách hẳn khỏi đạo Công giáo. Trong quá trình phát triển của mình, đạo Tin lành đã hình thành rất nhiều hệ phái khác nhau như Trưởng lão, Menhônai, Moóc Mông, Ngũ tuần, Giám lý, Thanh giáo và Giáo hội cộng đồng, Cơ đốc Phục lâm, Giáo hội thống nhất, Môn đệ đấng Chrits, Hội  Liên hiệp Phúc âm truyền giáo…

1.2. Đặc điểm nhận biết của đạo Tin lành

Đạo Tin lành có nhiều tổ chức hệ phái mặc dù có những dị biệt về giáo thuyết, nghi thức hành đạo và cách tổ chức giáo hội nhưng nhìn chung đều thống nhất ở những nội dung, nguyên tắc chính. Có thể khái quát và so sánh với đạo Công giáo:

Trước hết về thần học: Đạo Tin lành là một nhánh của Kitô giáo nên cũng lấy kinh thánh Cựu ước và Tân ước làm nền tảng giáo lý. Khác với Công giáo, Tin lành đề cao vị trí kinh thánh, coi đó là chuẩn mực căn bản duy nhất của đức tin và sự hành đạo, nhưng không coi kinh thánh là cuốn sách của riêng giáo sĩ mà tất cả các tín đồ, giáo sĩ đạo Tin lành đều đọc, sử dụng, nói và làm theo kinh thánh.

Đạo Tin lành cũng thờ Thiên chúa và thừa nhận chúa 3 ngôi: Cha, Con, Thánh thần; tin muôn vật đều do thiên chúa tạo dựng. Nhưng trong tín điều về Đức Bà hoài thai chúa GiêSu một cách mầu nhiệm, đạo Tin lành cho rằng Chúa chỉ mượn lòng bà Maria làm nơi sinh thành chứ Maria không thể là mẹ của Chúa dù theo bất cứ nghĩa nào, thậm chí sau khi sinh ra GiêSu, Maria không còn đồng trinh nữa và còn sinh rất nhiều con cái: Giacôp, Giôdep, Ximôn, Gruđa… Chính vì thế họ phản đối mọi sự thờ phụng bà Maria.

Là một tôn giáo đặc biệt đề cao lý trí trong đức tin. Do đó, luật lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo của Tin lành đơn giản, không cầu kỳ rườm rà. Đạo Tin lành không thờ các tranh ảnh, hiện tượng cũng như dị vật phản đối việc hành hương đến các thánh địa. Trong 7 phép bí tích của đạo Công giáo, đạo Tin lành chỉ thừa nhận và thực hiện phép rửa tội và phép thánh thể. Nếu tín đồ đạo Công giáo xưng tội trong toà kín với linh mục là hình thức chủ yếu nhất thì tín đồ đạo Tin lành khi xưng tội và cầu nguyện có thể đứng giữa nhà thờ, đám đông để sám hối hoặc nói lên ý nguyện  của mình một cách công khai. Thánh đường của đạo Tin lành thường có kiến trúc hiện đại, đơn giản. Trong thánh đường chỉ có duy nhất cây thập giá, biểu tượng của Chúa GiêSu bị nạn.

Về nhân sự, đạo Tin lành cũng có giáo sĩ như công giáo. Giáo sĩ đạo Tin lành có hai chức: mục sư và giảng sư, không áp dụng luật độc thân như giáo sĩ đạo Công giáo. Và có một điều đặc biệt là giáo sĩ Tin lành có nhiều người là nữ. Các giáo sĩ tuy cũng được coi là người chăm sóc linh hồn cho tín đồ nhưng không có quyền thay mặt Chúa để ban phúc hay tha tội cho con chiên.

Về phương diện tổ chức, đạo Tin lành không lập ra tổ chức giáo hội mang tính chất phổ quát cho toàn đạo mà đi theo hướng xây dựng các giáo hội riêng rẽ, độc lập với những hình thức khác nhau theo từng hệ phái, từng quốc gia. Trong tổ chức giáo hội, các hệ phái Tin lành chủ trương giao quyền tự trị cho các giáo hội cơ sở, chi hội, các cấp giáo hội bên trên hình thành phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cho phép. Giáo hội Tin lành không cấu thành bởi các vị giáo sĩ một cách cố định như Công giáo mà cả tín đồ, giáo sĩ tham gia thông qua bầu cử một cách dân chủ…

 Nhìn chung, có thể thấy sự cải cách của Tin lành về cách thức hành đạo cũng như tổ chức giáo hội chịu ảnh hưởng đậm nét của tư tưởng dân chủ và khuynh hướng tự do cá nhân, giảm thiểu và bớt đi sự linh thiêng về luật lệ, lễ nghi, cơ cấu tổ chức của đạo Công giáo. Sinh hoạt tôn giáo không lệ thuộc nhiều vào việc lễ bái, nơi thờ tự, chức sắc… Người ta khó có thể đánh giá mức độ và nhu cầu tín ngưỡng của tín đồ Tin lành qua việc họ có đến nhà thờ tham dự các sinh hoạt tôn giáo hay không. Đối với tín đồ Tin lành, nếu có đức tin thì ở tại gia đình với quyển kinh thánh, họ có thể chu toàn bổn phận của một tín đồ. 

Với lối sống đạo nhẹ nhàng đơn giản, không rườm rà và ràng buộc khắt khe như đạo Công giáo, lại đề cao tinh thần dân chủ trong các hoạt động về tổ chức nên đạo Tin lành là một tôn giáo có màu sắc mới mẻ, thích hợp với lối sống của giai cấp tư sản, tiểu tư sản, công chức thị dân nói chung trong xã hội công nghiệp. Ngày nay, người ta dễ dàng nhận thấy những nước có nền công nghiệp tiên tiến là những nước có đông người theo đạo Tin lành như Thụy Điển, Nauy, Đan Mạch, Đức, Anh, Hà Lan, Mỹ…

Bên cạnh đó, cũng có thể  nhận thấy rằng  Tin lành ra đời khi các tôn giáo lớn đã tạo được nhiều hình ảnh ở những địa bàn nhất định. Ví dụ như Phật giáo ở Châu Á, Công giáo ở Châu Âu, Hồi giáo ở Trung cận đông… Trước thực tế đó, Tin lành một mặt nỗ lực lôi kéo Công giáo ở Châu Âu, mặt khác tìm đến vùng xa xôi hẻo lánh để phát triển đạo. Ở những vùng này, đạo Tin lành không chỉ khai thác lợi thế là một tôn giáo có lối sống đạo đơn giản, đề cao dân chủ và vai trò cá nhân mà còn nghiên cứu rất kỹ đặc điểm văn hoá tâm lý, lối sống của từng dân tộc ở những vùng này để có phương thức phù hợp. Đặc biệt những nơi có phong tục tập quán lạc hậu, Tin lành xuất hiện với những điều mới lạ và tiến bộ lôi kéo người tin theo và trong những trường hợp đó đạo Tin lành phát triển rất nhanh. Vậy đối tượng tín đồ của Đạo Tin lành ngoài tầng lớp trí thức thị dân còn là dân tộc thiểu số.

Mặc dù được đánh giá là một tôn giáo “tiến bộ”, “năng động” và dễ thích nghi nhưng vì đạo Tin lành đề cao vai trò của kinh thánh, thậm chí có một số hệ phái Tin lành tỏ ra rất bảo thủ, không chấp nhận những điều gì trái với kinh thánh nên dẫn đến sự phản ứng đối kháng với văn hoá tín ngưỡng truyền thống của các tín đồ ở những nơi đạo Tin lành truyền bá.

2. Đạo Tin lành ở Việt Nam

2.1. Đặc điểm lịch sử

Với những đặc điểm riêng về địa lý, lịch sử, văn hoá, dân cư… Việt Nam là một quốc gia có nhiều tôn giáo và loại hình tín ngưỡng. Trước khi đạo Tin lành được truyền vào, Việt Nam đã có các tôn giáo lớn như Phật giáo, Lão giáo, Công giáo. Đạo Tin lành có mặt ở  Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XIX do tổ chức Tin lành Liên hiệp phúc âm và truyền giáo Mỹ (CMA) truyền vào. Tổ chức này đã cử nhiều mục sư sang Việt Nam để tìm hiểu và thăm dò: Mục sư Tiến sĩ A.B Sumpsm (1887); D.Leclacher (1893); C.H Reves (1897); R.A Jaffray (1899); S.Dayan (1901)… Đến năm 1911, CMA đã cử R.A.Jaffray, Paul.M.Husel, G.LoyHugher đến Đà Nẵng lập Hội thánh đầu tiên. Đây là sự kiện đánh dấu mốc cho sự truyền bá đạo Tin lành vào Việt Nam. Từ cơ sở ở Đà Nẵng, các giáo sĩ hội truyền giáo mở thêm một số cơ sở khác ở những vùng lân cận như: Hội An, Tam kỳ, Đại Lộc… và cử người dân đi truyền đạo ở Bắc kỳ và Nam kỳ với các hoạt động chủ yếu là: dịch kinh thánh, lập nhà in và mở trường đào tạo mục sư truyền đạo.

Tuy nhiên, chính quyền Pháp ở Việt Nam không ưa đạo Tin lành, họ lo ngại ảnh hưởng của Mỹ thông qua việc phát triển đạo Tin lành. Do đó đạo Tin lành trong thời kỳ này hoạt động rất khó khăn. Khi chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra, thực dân Pháp cho rằng các giáo sĩ Tin lành làm gián điệp cho Đức nên đã ra lệnh đóng cửa nhà thờ Tin lành và cấm các giáo sĩ Tin lành hoạt động. Ngoài ra người Pháp còn dựa vào Hoà ước 6/6/1884 chỉ cho phép Thiên chúa giáo được truyền bá vào Việt Nam. Toàn quyền Đông dương đã cho đóng cửa nhà thờ, trục xuất giáo sỹ truyền giáo CMA. Phải tới năm 1927, khi phong trào dân chủ Pháp lên cao thì những lệnh cấm này mới được huỷ bỏ. Thế nhưng trong sự cấm đoán đó, đạo Tin lành vẫn tìm mọi cách để phát triển. Tới năm 1918, CMA đã lập được 5 chi hội ở Bắc kỳ, 6 chi hội ở Trung kỳ và 5 chi hội ở Nam kỳ. Tất cả các chi hội Tin lành lúc đó đều được giấy phép hoạt động cả của khâm sứ 3 kỳ và đều lấy tên là : “Hội thánh Tin lành Đông Pháp” (MEI).          

Từ năm 1924 đến năm 1927, đã có 4 Đại hội đồng của Đạo Tin lành được tổ chức. Đại hội đồng lần thứ IV ở Đà Nẵng đã bầu ra Ban Trị sự Tổng liên Hội thánh Tin lành Việt Nam do mục sư Hoàng Trọng Thừa làm Hội trưởng đầu tiên.

Trong thời kỳ chiến tranh Thế giới thứ 2, phát xít Nhật vào Đông Dương, tình hình chính trị xã hội phức tạp, Uỷ ban truyền giáo của CMA New York đã có lệnh triệu hồi tất cả các giáo sĩ rời Đông Dương. Hội thánh Tin lành Việt Nam rơi vào tình trạng suy thoái, các sinh hoạt tín ngưỡng của tín đồ cũng bị xáo trộn. Chiến tranh kết thúc, các giáo sĩ trở lại Việt Nam và các sinh hoạt của đạo Tin lành ở cả 3 miền được phục hồi.

Trải qua một quá trình truyền bá và phát triển, đến năm 1954, đạo Tin lành có khoảng 60.000 tín đồ với gần 100 mục sư truyền đạo. Trụ sở chung của giáo hội Tin lành Việt Nam được đặt tại Hà nội.

Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), đạo Tin lành ở hai miền Nam – Bắc có sự khác nhau. Ở Miền Bắc số đông tín đồ giáo sĩ bị đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch kích động nên đã di cư vào Nam. Những người ở lại miền Bắc đã lập tổ chức giáo hội riêng lấy tên gọi là Hội thánh Tin lành Việt Nam thường gọi là Tổng hội Tin lành miền Bắc với những hoạt động bình thường, phạm vi ảnh hưởng không lớn, số lượng tín đồ cũng tăng một cách không đáng kể. Ở miền Nam, những năm 1954 – 1975, lợi dụng cuộc chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ, CMA đã lập ra Tổng liên hội thánh Tin lành Việt Nam thường gọi là Hội thánh Tin lành Việt Nam.

Giai đoạn này, đạo Tin lành ở miền Nam phát triển mạnh mẽ. Tin lành ra sức củng cố, mở rộng hệ thống tổ chức cơ sở tôn giáo, các cơ sở kinh tế văn hoá xã hội, mở rộng phạm vi truyền đạo ra nhiều địa bàn, nhất là ở Tây Nguyên. Hội thánh Tin lành miền Nam đã cho tách riêng hai “hạt” vùng dân tộc ít người ra khỏi người Kinh và lập ra “cơ quan truyền giáo người Thượng” dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các giáo sĩ Tin lành Mỹ, đồng thời, mở cửa cho các hệ phái Tin lành, các tổ chức xã hội văn hoá, nhân đạo, từ thiện của Mỹ vào truyền đạo và xây dựng cơ sở khắp miền Nam. Hội thánh Tin lành miền Nam rất chú trọng đào tạo mục sư và truyền đạo, nâng “Trường kinh thánh” thành “Viện kinh thánh thần học” toàn miền Nam, đầu tư mở hai trường kinh thánh trung cấp cho Tây nguyên. Hội thánh Tin lành còn đưa nhiều mục sư và truyền đạo ra nước ngoài đào tạo. Giáo hội Tin lành đã thành lập hệ thống tuyên uý trong quân đội nguỵ từ Bộ Tổng tham mưu đến quân đoàn, quân khu và những đơn vị đặc biệt. Họ đã tuyển chọn và đưa gần 100 mục sư và truyền đạo vào ngụy quân.

Bên cạnh CMA, ở miền Nam còn có hệ phái Tin lành cũng từ Mỹ du nhập vào từ những năm 30 của thế kỷ XX, phát triển chủ yếu sau những năm 50, đó là phái Cơ đốc Phục lâm. Đây là phái lớn thứ hai sau CMA, có hệ thống giáo hội với hơn 10.000 tín đồ, gần 40 mục sư, 34 nhà thờ và một số cơ sở tôn giáo xã hội khác. Hội thánh cơ đốc Phục lâm còn có hơn 20 hệ phái vào truyền giáo và xây dựng cơ sở ở miền Nam như: Baptism, Pentecostim (Ngũ tuần), (Nhân chứng Giêhôva), Jehovah’s Witnesses…

Sau 1975, đất nước được hoà bình thống nhất, giáo sĩ người nước ngoài rút khỏi Việt Nam, một số giáo sỹ người Việt di tản, phạm vi và mức độ hoạt động của đạo Tin lành ở miền Nam thu hẹp lại. Hội thánh Tin lành Miền Nam còn khoảng 450 giáo sĩ, 487 nhà thờ. Các hoạt động của đạo Tin lành ở hai miền Nam Bắc vẫn tiếp tục phát triển tới năm 1990 đã có 300.000 người theo đạo Tin lành.

Những thập kỷ gần đây, các giáo phái Tin lành đã đẩy mạnh hoạt động như phục hồi các hình thức tôn giáo, phát triển tín đồ, củng cố giáo hội… Nhiều hoạt động như vận động lập lại các tổ chức cũ, quan hệ với bên ngoài… Cơ quan cứu trợ và phát triển Cơ đốc Phục lâm gần đây có thực hiện một số dự án viện trợ  nhân đạo trong lĩnh vực y tế, giáo dục, thuỷ lợi, ngư nghiệp…

Điểm lại diễn biến 100 năm đạo Tin lành vào Việt Nam, chúng ta có thể ghi nhận rằng quá trình này chịu sự tác động quá lớn của các sự kiện chính trị xã hội, nhất là khi đất nước bị chia cắt. Hội thánh Tin lành Việt Nam ngay từ đầu là một tổ chức chung nhưng sau đó lại bị chia rẽ  bởi hai tổ chức giáo hội ở hai miền với những tính chất chính trị và quy mô khác nhau. Tuy vậy, đạo Tin lành đã có cơ sở trong quần chúng ở nhiều vùng trên đất nước ta, thực tế hiện nay đã có khoảng hơn 1,2 triệu tín đồ. Đặc biệt là khoảng 10 năm trở lại đây, đạo Tin lành phát triển đột biến ở Tây Nguyên, Tây Bắc và một số vùng dân tộc thiểu số khác đang đặt ra một số vấn đề nhạy cảm, phức tạp cần được giải quyết, tháo gỡ.

2.2. Một số vấn đề đặt ra hiện nay

Có thể thấy đạo Tin lành là vấn đề nổi trội đột xuất trong các vấn đề tôn giáo ở Việt Nam.Sự hiện diện của cộng đồng Tin lành ở Việt Nam gần đây đã trở nên những điểm nóng khá phức tạp, nhạy cảm.

Trước hết đó là sự va chạm, xung đột với các tập tục gia đình, xã hội, tín ngưỡng cổ truyền và các tôn giáo khác ở Việt Nam. Đối với mỗi người Việt Nam, thờ cúng ông bà, tổ tiên, thành hoàng và những người có công với làng, nước… là sự thiêng liêng, thậm chí đã thành tiêu chí hàng đầu về đạo đức của mỗi thành viên trong gia đình, họ tộc, làng xóm. Những tập tục xuất phát từ trong  nghi lễ chịu ảnh hưởng của Nho giáo, thể hiện lòng hiếu thảo của con cái đối với ông bà, cha mẹ như giỗ chạp, ma chay, cưới xin đã góp phần vào nết đẹp văn hoá mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Trong khi đó, đạo Tin lành là một tôn giáo độc thần, chỉ thờ phụng một đức Chúa Trời duy nhất. Tin lành vốn chủ trương triệt để phản đối việc thờ tranh ảnh, tượng thánh và nâng lên một bước nữa là chống lại việc thờ hình tượng. Điều kiện để trở thành tín đồ chính thức của đạo Tin lành là: không dự vào việc hương hoả, cúng cấp cùng các sự dị đoan, không nên dùng hoặc buôn bán các vật không hợp với tôn chỉ của đạo Tin lành như: thuốc phiện, rượu, các vật phẩm thờ cúng hình tượng.

Đạo Tin lành còn có những lí lẽ biện giải để chống đối với các tập tục gia đinh, tín ngưỡng cổ truyền như: Các ông thờ lạy tổ tiên được mấy đời? Thờ trong nhà chẳng qua được hai, ba, đời; thờ trong họ chẳng qua được đôi mươi đời, trước đôi mươi đời há không phải tổ tông xa nữa sao? Cho nên chúng tôi chỉ thờ một mình đức chúa Trời là tổ tông của chúng ta. Khi Tin lành du nhập vào Việt Nam, các nhà truyền giáo đã ra sức bài bác, tuyên chiến với hệ thống tín ngưỡng của người Việt như: xem địa lí,chọn ngày, thờ thổ công, thờ bà chúa Liễu Hạnh…

Vậy, cùng với sự phát triển của đạo Tin lành là sự thay đổi lối sống, tâm lý, tình cảm, sự phân giới về xã hội, văn hoá, tín ngưỡng  dân tộc.  Nó cũng tạo nên sự chia rẽ trong nội bộ gia đình, dòng họ, lưu tồn định kiến hoài nghi cộng sản, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và  nghiêm trọng hơn là các tín đồ Tin lành dễ bị các phần tử xấu lôi kéo chống đối chính quyền, nổi loạn….Đây quả thật là những thách đố đối với chúng ta.

Hơn nữa, hiện nay các thế lực thù địch và lực lượng chống đối muốn thông qua đạo Tin lành để thực hành chủ nghĩa li khai, giải lãnh thổ. Ở Việt Nam, điều này đã trở thành hiện thực khi người ta thấy Tin lành lan toả một cách nhanh chóng ở những vùng đất “phên dậu” của tổ quốc: miền núi phía Bắc, Tây Nguyên..

Đặc biệt, sự phát triển của đạo Tin lành trong các đồng bào dân tộc thiểu ở Tây Nguyên vừa là hệ quả vừa là tác nhân của những diễn biến chính trị phức tạp trên địa bàn này thời gian gần đây. Đạo Tin lành có mặt ở Tây nguyên từ những thập kỷ 20 của thế kỷ trước, kể từ đó, nó đã kiên trì, bền bỉ chiếm cả không gian, xã hội cao nguyên, xâm thực vào buôn làng, văn hoá truyền thống và thâm nhập vào các nhóm xã hội mới xuất hiện theo đà chuyển đổi của nền kinh tế theo hướng thị trường hoá. Thí dụ: nhà thờ Tin lành thay thế cho nhà Rông trong việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cộng đồng của con người Tây nguyên. Lễ Noen, Phục sinh thay thế cho lễ Cơm mới, lễ Năm mới cổ truyền…

Số lượng tín đồ của đạo Tin lành ở vùng đất đỏ ba gian này ngày càng gia tăng và luôn chiếm ½ số tín đồ Tin lành cả nước. Các thế lực thù địch trên cơ sở này luôn ra sức kích thích, nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, biệt lập li khai trong một bộ phận tầng lớp trên của các dân tộc Tây Nguyên, đồng thời lôi kéo các lực lượng này vào các phong trào bạo loạn nhằm khuynh đảo thể chế chính trị ở nước ta.

Hiện nay hùa theo chiến dịch: nhân quyền và tự do tôn giáo của chính giới Mỹ, Ksorkơk và các phần tử chính trị phản động gốc Tây Nguyên lưu vong ở Mỹ cho ra đời cái gọi là “Hội thánh Tin lành Đềga”, đòi lập nhà nước Đềga  của người Thượng. Đây là một chiêu thức lưu manh chính trị nguy hiểm lôi kéo một số tín đồ không nhỏ của Hội thánh Tin lành miền Nam, tạo nên một vụ áp phe chính trị đội lốt tôn giáo vào đầu năm 2001 và năm 2004.

Vấn đề đạo Tin lành hiện nay vẫn còn là một chủ đề “chứa chất nhiều tiềm năng” đối với các thế lực thù địch Việt Nam và các phần tử cơ hội chủ nghĩa trong chính giới Mỹ để họ khai thác trong các chiến dịch nhân quyền và tự do tôn giáo.

Với tinh thần đảm bảo và tôn trọng quyền phát triển tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân, nhà nước Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc giải quyết các vấn đề tôn giáo, đặc biệt là đối với đạo Tin lành. Nhà nước Việt Nam đã công nhận tư cách pháp nhân của Tổng Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) từ năm 1958 và Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) từ đầu năm 2001. Vậy có nghĩa là chúng ta thừa nhận sự tồn tại khách quan của đạo Tin lành ở Việt Nam, từng bước đưa đạo Tin lành vào thể chế luật pháp tôn giáo để khai thác những mặt tích cực, nhưng kiên quyết ngăn chặn chống lại bất cứ một nhóm người nào lợi dụng đạo Tin lành để phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàn dân làm hại đến nền văn hoá lành mạnh của dân tộc.

Là một tôn giáo lớn trên thế giới, đạo Tin lành đã có mặt  ở Việt Nam hơn 100 năm. Trong quá trình tồn tại và phát triển ở Việt Nam, Tin lành đã chọn lựa các hình thức hoạt động mềm dẻo, giáo lí và lễ nghi được đơn giản hoá, quần chúng hoá, ở nhiều nơi đã thích nghi dễ dàng với phong tục tập quán của người địa phương, số lượng tín đồ đạo Tin lành ngày càng gia tăng. Điều cốt yếu là tín đồ đạo Tin lành không tách rời với điều kiện lịch sử mới, tìm được nhiều phương sách đúng đắn để hoà nhập trong cộng đồng dân tộc, không đi ngược lại lợi ích của dân tộc. Chúng ta có quyền hy vọng vào một cộng đồng Tin lành ở Việt Nam “kính chúa, yêu nước” “sống phúc âm…” như đường hướng hoạt động của Hội thánh Tin lành miền Bắc và miền Nam đề ra.

_____________________________

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Xuân Hùng, Về nguồn gốc và sự xuất hiện tên gọi đạo Tin lành tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Số 3, 2001.

 2. Nguyễn Xuân Hùng, Tìm hiểu những hệ quả của việc truyền giáo Tin lành đối với văn hoá truyền thống và tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Số 1, 2001.

3. Phạm Đăng Hiển, Góp một góc nhìn về vấn đề đạo Tin lành ở Tây nguyên, Tạp chí Dân tộc học, Số 5, 2003.

4. Nguyễn Thanh Xuân, Bước đầu tìm hiểu đạo Tin lành trên thế giới và ở Việt Nam, NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2002.

5. Nguyễn Văn Trung, Một số hiểu biết về tôn giáo ở Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993.

Linh mục và các chức sắc Giáo xứ Quan Lãng đã đẩy nhiều tín đồ vào con đường vi phạm pháp luật

Trở lại Yên Khê sau 1 ngày xảy ra vụ việc linh mục, chức sắc và nhiều giáo dân Giáo xứ Quan Lãng quá khích gây rối, hành hung, bắt giữ người trái pháp luật, chúng tôi nhận thấy an ninh trật tự ở đây đã được khôi phục, người dân đã trở về với cuộc sống thường nhật, lên đồi chăm chè, ra ruộng chăm sóc lúa, trẻ em chuẩn bị sách vở để bắt đầu năm học mới. Tuy nhiên, dư luận nhân dân vẫn lo lắng, bất an khi những kẻ gây rối trật tự, vi phạm pháp luật, gây mất ổn định ở Yên Khê vẫn chưa bị luật pháp nghiêm trị!


Lật lại lịch sử huyện Con Cuông cũng như xem xét lại quá trình một số linh mục và chức sắc xứ Quan Lãng truyền đạo trái pháp luật ở Yên Khê, mới thấy những quan ngại của người dân là có cơ sở.

Huyện miền núi Con Cuông có 7 dân tộc anh em cùng chung sống, với trên 67 nghìn nhân khẩu. Trong đó, đồng bào dân tộc Thái là đông nhất chiếm tới 67,6%, đồng bào Kinh chiếm 23,9%, còn lại là đồng bào các dân tộc Đan Lai, Nùng, Hoa, Ê Đê và Khơ Mú. Bao đời nay, các dân tộc anh em cùng nhau sinh sống, làm ăn hoà thuận với những tập quán, tín ngưỡng của dân tộc mình…

Trong quá trình đạo Thiên chúa xâm nhập vào Việt Nam, tại Nghệ An mới chỉ phát triển đến địa bàn huyện Anh Sơn. Từ ranh giới của huyện Con Cuông trở lên, các huyện vùng cao không có tôn giáo nào xâm nhập. Sau khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng và nhất là thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, một số người chủ yếu từ các tỉnh, huyện khác đến Con Cuông làm ăn sinh sống và lập nghiệp, trong đó có một ít là giáo dân.

Hiện số giáo dân trên địa bàn huyện chỉ có 81 hộ với 204 nhân khẩu (chiếm khoảng 0,03% dân số toàn huyện), sinh sống phân tán ở 11/14 xã, thị trấn của huyện Con Cuông. Tuyệt đại đa số giáo dân đều sống hoà thuận “tối lửa tắt đèn có nhau” với bà con các dân tộc anh em bản địa. Vốn là huyện không có đạo Thiên chúa, thực tế tại 14 xã, Thị trấn Con Cuông không có nhà thờ giáo, không có làng giáo dân nên khi lên đây, một bộ phận bà con giáo dân gần như phai nhạt đạo, chỉ khi nào về quê mới đi lễ nhà thờ…

Lịch sử đã chứng minh, huyện Con Cuông từ trước tới nay không có nhà thờ tôn giáo, không có chức sắc tôn giáo, không có đạo gốc, người dân Con Cuông hầu hết là các đồng bào dân tộc thiểu số sống theo phong tục tập quán gốc của mình. Luôn nhất quán trong chính sách “tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng” của nhân dân, cấp ủy chính quyền huyện Con Cuông từ trước đến nay rất quan tâm đến công tác đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt lương hay giáo, tất cả đều chung sức, đồng lòng xây dựng quê hương ngày càng phát triển…

Gần đây một số ít giáo dân trên địa bàn huyện có đứng ra làm đơn xin cấp đất xây nhà thờ, nhưng chiếu theo Luật Đất đai không cho phép, cộng thêm thực tế trên địa bàn có số lượng giáo dân rất nhỏ, sống rải rác trên nhiều xã của huyện với địa bàn rộng, do vậy UBND huyện Con Cuông đã giải thích và được bà con chấp thuận. Số giáo dân này đã xuống xã Tường Sơn (Anh Sơn) để sinh hoạt tôn giáo tại nhà thờ Giáo xứ Quan Lãng hoặc thờ phụng ngay tại nhà riêng. Các giáo dân cho rằng, như thế vừa phù hợp với tín ngưỡng vừa thuận lợi cho sự giao lưu với vùng xuôi nên họ rất an tâm sinh hoạt tôn giáo, đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội chung.



 
Nhiều giáo dân huyện Anh Sơn, Thanh Chương… đến nhà ông Phạm Thế Trận để hành lễ trái pháp luật


Tuy nhiên, tình hình tôn giáo của địa phương bỗng nhiên bất ổn kể từ khi linh mục Phạm Ngọc Quang, nguyên quản xứ Quan Lãng lên truyền đạo 7 cuộc tại nhà bà Nguyễn Thị Minh ở khối 6, Thị trấn Con Cuông; truyền đạo tại nhà ông Phạm Thế Trận ở thôn Trung Hương, xã Yên Khê với sự tham gia của gần 300 người từ các huyện Anh Sơn, Tương Dương, Thanh Chương, Yên Thành và tỉnh Hà Tĩnh đến. Dù chính quyền huyện Con Cuông đã nhắc nhở việc tổ chức làm lễ nơi không phải nhà thờ và chưa được sự cho phép của chính quyền là vi phạm pháp luật, nhưng từ cuối năm 2011 đến nay, vào chiều chủ nhật hàng tuần, việc truyền đạo tại nhà riêng ông Phạm Thế Trận vẫn diễn ra.

Sự vi phạm này có tính hệ thống, mang tính khiêu khích có chủ đích ngày càng tăng về mật độ, mức độ: Ngày 13/11/2011, khoảng 300 giáo dân từ nơi khác đến tham gia sinh hoạt tôn giáo đã dùng bình xịt hơi cay, ném đất đá vào bà con địa phương khi những người dân đến phản đối việc truyền đạo trái phép tại đây, và đỉnh điểm là ngày 1/7 vừa qua, đã có 700 tín đồ từ nơi khác đến tổ chức hành lễ, gây rối loạn, bắt giữ, hành hung người dân xã Yên Khê…

Riêng các linh mục xứ Quan Lãng và các chức sắc thì ngày càng thể hiện rõ sự bất chấp pháp luật, bất hợp tác với chính quyền, coi thường dư luận, như: Ngày 15/1/2012, khi tổ công tác của xã Yên Khê đến kiểm tra và lập biên bản việc hành lễ trái pháp luật do linh mục Phạm Ngọc Quang – quản xứ Quan Lãng tổ chức tại nhà ông Phạm Thế Trận thì linh mục này đã có thái độ thách thức: “Tuần sau tôi sẽ đưa cả giáo dân Giáo xứ Quan Lãng lên đây làm lễ; đố ông chủ tịch xã, chủ tịch huyện ngăn cấm được. Các ông làm gì được tôi”!

Trước đó, ngày 23/9/2011, khi đoàn khám chữa bệnh từ thiện của Giáo xứ Quan Lãng do linh mục Phạm Ngọc Quang dẫn đầu đề nghị chính quyền cho tổ chức khám bệnh tại xã Yên Khê nhưng cơ quan chức năng từ chối do chưa đủ thủ tục theo Luật Khám, chữa bệnh quy định thì vị linh mục này vẫn tuyên bố: “Nếu chính quyền không cho chúng tôi vẫn làm”… Tương tự, linh mục Ngô Văn Hậu – Chánh xứ Quan Lãng cũng tỏ thái độ bất hợp tác: Ngày 31/5/2012, tại buổi làm việc với UBND huyện Con Cuông, linh mục Ngô Văn Hậu phát biểu: “Nếu chính quyền huyện không đồng ý thì vào Chủ nhật hàng tuần tôi vẫn cứ lên đây làm lễ”.

Ngày 3/6/2012, ông Trần Đức Phúc – Chủ tịch UBMTTQ huyện Con Cuông đã đến nhà ông Phạm Thế Trận mời linh mục Ngô Văn Hậu lên trụ sở xã Yên Khê để làm việc thì linh mục này từ chối và còn nói với giáo dân có mặt “Chủ nhật tuần sau vẫn làm lễ như thường”. Tại sao các linh mục Giáo xứ Quan Lãng lại lôi kéo nhiều tín đồ từ những địa phương có đông giáo dân và đã được chính quyền các cấp tạo điều kiện cho xây dựng cơ sở thờ tự khang trang, đàng hoàng đến Yên Khê (Con Cuông) – nơi chỉ có 4 hộ với 18 giáo dân sinh sống, chưa có cơ sở thờ tự để hành lễ? Nghịch lý này cho thấy các linh mục, chức sắc Giáo xứ Quan Lãng đã cố ý vi phạm pháp luật một cách có hệ thống.

Trước các hoạt động truyền đạo trái pháp luật, vi phạm trắng trợn các quy định của Nhà nước về các hoạt động tôn giáo của các vị linh mục và chức sắc ở Giáo xứ Quan Lãng và những tín đồ như ông Trận ở Yên Khê đã khiến nhiều giáo dân ở huyện Con Cuông không đồng tình. Bằng chứng là số giáo dân tham gia sinh hoạt tôn giáo trái pháp luật tại nhà ông Trận thời gian qua chỉ có trên dưới 20 người, chiếm khoảng 10% số giáo dân ở Con Cuông…

Ông Trần Văn Khải, 48 tuổi, một giáo dân sống ở xã Bồng Khê (ngay sát xã Yên Khê) cho ý kiến: “Truyền đạo mà không được sự cho phép của chính quyền là sai rồi; mà đã sai rồi, trái pháp luật thì tôi không theo nên không tham gia làm lễ tại nhà ông Phạm Thế Trận. Mỗi ngày lễ trọng thì tôi về làm lễ tại nhà thờ ở xã Tường Sơn, huyện Anh Sơn… Tự do tín ngưỡng thì không ai cấm cả, nhưng cũng phải tuân theo đúng quy định pháp luật, của địa phương”; Còn giáo dân Trần Văn Thọ, 82 tuổi, ở thôn Liên Tân, xã Bồng Khê cũng có ý kiến tương tự: “Do ngay từ đầu tôi không tham gia hành lễ tại nhà ông Trận nên tôi không biết vụ việc ngày 1/7. Song truyền đạo mà không theo đúng pháp luật, không theo đúng chính sách của Nhà nước như thế lâu nay là sai to rồi. Đã sai rồi mà còn gây gổ thế thì còn sai lầm hơn. Các con của tôi đều xuống đi lễ tại nhà thờ ở Dừa – thế mới chính thống hơn”… Những ý kiến của các giáo dân như ông Giáp, ông Thọ đã chứng minh những luận điệu ra rả lâu nay trên các trang web của các thế lực thù địch, chống đối là hoàn toàn bịa đặt để tìm cách nói xấu, bôi nhọ chính quyền trong các vấn đề tôn giáo.

Bà con giáo dân ở huyện Con Cuông đã thể hiện thái độ như vậy. Còn bà con đồng bào các dân tộc, nhất là đồng bào ở xã Yên Khê, Thị trấn Con Cuông và các vùng lân cận thì phản đối rất mạnh mẽ. Bà con cho rằng: Hoạt động truyền đạo nêu trên là trái với thuần phong, mỹ tục vốn có lâu nay của người Thái cũng như các dân tộc anh em ở huyện miền núi vùng cao này; trái với hương ước của bản, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn. Và trên hết là trái pháp luật về tôn giáo. Bà con các dân tộc thiểu số bản Trung Hương đã có đơn và chữ ký của hơn 170 người đề nghị chính quyền xử lý nghiêm việc vi phạm trên, lập lại trật tự để bà con yên tâm làm ăn, sinh sống…

Một ngày sau khi xảy ra vụ việc, một số linh mục và chức sắc xứ Quan Lãng cùng một bộ phận giáo dân quá khích gây ra vụ rối loạn, hành hung, bắt giữ người trái phép, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn đã được lập lại, không khí an bình đã trở lại. Tiếp xúc với bà con xã Yên Khê, ai cũng bày tỏ lạc quan, tin tưởng song cũng không ít người tỏ ra lo lắng bất an, rằng những cảnh hỗn loạn, kinh hoàng, cái ác lại tiếp tục ngang nhiên diễn ra. Họ đều không muốn cứ đến ngày Chủ nhật lại có hàng trăm người từ đâu đó kéo đến, gây rối ở địa phương mình.

Ông Đặng Văn Trường, trên 70 tuổi, trú ở bản Trung Thành, xã Yên Khê tâm sự: “Việc truyền đạo trái pháp luật thế này diễn ra đã khá lâu, họ làm nhà nguyện, tổ chức truyền đạo mà không thèm thông qua ai cả; Làm nhà nguyện xong thì đưa người từ đâu về làm lễ, chứ người dân ở đây thì không có ai đi. Chúng tôi ở đây rất bức xúc và phiền hà, cũng như mọi người tôi phản đối việc làm này. Con dâu tôi cũng theo đạo Thiên chúa nhưng tôi động viên nó xuống nhà thờ dưới Anh Sơn mà lễ. Chứ ở đây là người ta hành lễ trái pháp luật, đến mà làm chi. Nó nghe ra, không đi nữa. Ngày hôm qua, hàng trăm giáo dân từ đâu kéo đến vây kín đặc bản, lại còn hành hung, bắt giam, đánh trọng thương hàng chục người dân như thế đúng là không coi kỷ cương phép nước ra gì. Phản động chính là ở đó chứ ở đâu, cần chấm dứt, xử lý nghiêm khắc, đích đáng ngay”…

Còn chị Nay Thị Sày, người dân ở bản Trung Hương thì tỏ  rõ băn khoăn: “Từ khi họ tập trung nhiều người ở đây thì ta không thích, vì tập quán của bà con dân bản khác hẳn họ. Ngoài ra, họ đến đây còn đem theo nhiều cái phức tạp lắm. Có khi họ làm lễ ban đêm, ồn ào, dân bản đi làm về còn muốn được nghỉ ngơi, yên tĩnh, bà con bực tức nên rủ nhau đi phản đối. Lần trước tôi đi thì bị ném đá vào người, hôm qua thì bị đánh một gậy, giờ còn thâm tím. Mình sống trong xã hội có kỷ cương, sống trên quê hương mình mà bị những người nơi khác đến đánh đập, coi không ra gì.

Ông Nguyễn Trọng Lý ở ngay cạnh nhà ông Phạm Thế Trận thì chia sẻ: “Chúng tôi thấy họ coi thường bà con và chính quyền ở đây quá. Họ cứ nghĩ hôm qua cho mấy cân gạo, mấy viên thuốc là bà con theo liền?. Hôm nay lại đánh gây thương tích cho đến chảy máu, què quặt”.

Còn những bà con khác như chị Lô Thị Hường, Lô Văn Khuê, Tăng Thị Tào đều ở bản Trung Hương, mà chúng tôi đã gặp đều có những ý kiến bày tỏ lo ngại: Lâu nay, thấy nhiều người lạ đến, dân bản cảm thấy sợ và lo vì lộn xộn, mất an ninh trật tự. Hôm qua đúng là kinh hoàng, nhà nào trong thôn cũng có người bị thương. Đứng nấp trong nhà rồi cũng bị đá ném vào. Dân bản đều bất bình lắm. Chúng tôi mong muốn giữ lấy nếp sống của bà con dân tộc Thái lâu ngày ở đây…

Ông Phảy Văn Bay, trưởng bản Trung Hương vốn đã rất mệt mỏi vì nhiều tháng qua tuần nào cũng phải thường trực tại khu vực nhà ông Phạm Thế Trận để kiềm chế sự phẫn nộ của bà con; hôm qua lại là đối tượng bị các giáo dân truy lùng, rượt đuổi, tập trung đập đánh và ném đá. Mình mẩy khắp nơi thâm tím, đi lại rất khó khăn, ông  Bay bức xúc cho biết: “Các linh mục của Giáo xứ Quan Lãng đưa hàng trăm người từ nơi khác về hành hung, đánh đập tàn bạo bà con, gây mất ổn định cho bản, xã và huyện thì đây chính là hành vi cố tình phá hoại an ninh trật tự. Tôi sợ rằng với vụ việc ngày hôm qua, trong những lần tới, nếu linh mục xứ Quan Lãng và tín đồ tiếp tục đến nhà ông Trận hành lễ trái phép thì chắc chắn bà con xã Yên Khê sẽ phản ứng dữ dội hơn nhiều. Cơ quan chức năng cần xử lý nhanh, đảm bảo cuộc sống an bình cho bà con”.

Có thể thấy, việc truyền đạo, hành lễ trái pháp luật ở huyện Con Cuông như hiện nay không hề xuất phát từ nhu cầu thực tế của bà con giáo dân ở địa phương, mà là hoạt động đơn phương, áp đặt của các linh mục và chức sắc Giáo xứ Quan Lãng; cộng thêm thái độ bất hợp tác với chính quyền, coi thường pháp luật, thiếu tôn trọng nhân dân địa phương của các vị linh mục ở Giáo xứ Quan Lãng và một số tín đồ như ông Phạm Thế Trận thì rõ ràng, việc truyền đạo trái pháp luật ở Con Cuông không ngoài mục đích gây rối loạn kỷ cương, phép nước, cũng như coi thường dư luận, gây hiệu ứng xấu trong xã hội…

Việc làm sai trái của các vị linh mục và chức sắc Giáo xứ Quan Lãng không những làm tổn hại kinh tế cho chính các giáo dân từ Anh Sơn, Đô Lương, Thanh Chương… khi theo lời linh mục bỏ chỗ gần đi hành lễ ở chỗ xa mà còn không đảm bảo an toàn về tài sản và tính mạng cho các tín đồ tôn giáo khi tụ tập tham gia giao thông với mật độ lớn tới hàng trăm người trên các tuyến đường miền núi hiểm trở.

Thực tế cho thấy, vụ việc ẩu đả, xô xát giữa người dân xã Yên Khê với những tín đồ đi theo các linh mục và chức sắc Giáo xứ Quan Lãng đã để lại hậu quả nghiêm trọng. Không những 58 người dân xã Yên Khê mà còn có giáo dân từ nơi khác đến cũng bị thương do chính các tín đồ giáo dân cùng đi gây ra và phải nhập viện. Chính các linh mục và chức sắc Giáo xứ Quan Lãng chứ không phải ai khác đã đẩy tín đồ của mình vào tội lỗi với hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng như: tham gia hoạt động tôn giáo trái pháp luật, gây rối loạn an ninh trật tự, hành hung, bắt giữ người trái pháp luật.

Tác giả bài viết: Nhóm Phóng viên
Nguồn tin: Báo Nghệ An